ba trang ngu lam (chuong 21-50)

Màu nền
Font chữ
Font size
Chiều cao dòng

Chương 21

Nữ bá tước De Winter

Suốt dọc đường, Công tước hỏi D Artagnan để biết rõ tình hình, không phải tất cả những gì đã diễn ra, mà chỉ những gì D Artagnan biết. Khớp nối những gì đã được nghe từ miệng chàng trai trẻ với những kỷ niệm của riêng ông, ông có thể có được một ý niệm khá chính xác về tình thế nghiêm trọng, hơn nữa, bức thư của Hoàng hậu dù rất ngắn, và không mấy dứt khoát, cũng cho ông thấy mức độ nghiêm trong đó. Nhưng điều khiến ông lấy làm lạ hơn cả là Giáo chủ vốn quan tâm làm sao để chàng trai trẻ này không đặt chân được trên đất Anh lại không sao bắt giữ nổi chàng ở dọc đường. Thấy ông tỏ vẻ ngạc nhiên như thế, D Artagnan liền kể hết đã phòng bị thế nào, rồi nhờ sự tận tâm của ba người bạn chàng tuy đang đẫm máu mà chàng vẫn phải bỏ mặc ở dọc đường, rồi việc chàng suýt đã lìa đời vì, mũi gươm đâm xuyên qua bì thư của Hoàng hậu, và chàng đã trả miếng Bá tước De Wardes khủng khiếp thế nào.

Chăm chú nghe câu chuyện được kể vô cùng đơn giản, thỉnh thoảng Công tước lại ngạc nhiên nhìn chàng trai trẻ như thể không tài nào hiểu nổi bấy nhiêu thận trọng, dũng cảm, tận tâm lại có thể sóng đôi với bộ mặt chưa đến hai mươi này.

Ngựa phi như gió, vài phút sau đã tới cửa ô London.

D Artagnan vẫn tưởng là vào trong thành phố, Quận công sẽ cho ngựa chạy chậm dần, nhưng không phải thế, ông tiếp tục cho ngựa phi hết cỡ, chẳng quan tâm mấy đến chuyện có thể xô ngã những người đi đường. Quả nhiên, khi đi xuyên qua khu đô thị, hai ba tai nạn như thế đã xảy ra, mà Buckingham chẳng hề ngoái đầu lại xem những người bị ông xô ngã ra sao, D Artagnan đi theo sau ông giữa những tiếng la ó nghe rất giống tiếng chửi rủa.

Vào đến sân dinh thự, ông xuống ngựa, ném dây cương lên cổ nó, để mặc nó rồi lao tới bậc thềm. D Artagnan cũng làm theo như thế tuy nhiên có đôi chút ngại ngùng hơn đối với những con vật quý mà chàng đã biết nó đáng giá thế nào, nhưng rồi lại thấy không sao vì ba bốn người hầu đã từ trong bếp và chuồng ngựa lao ra túm ngay lấy mấy con ngựa.

Công tước đi khá nhanh khiến D Artagnan khó theo kịp. Ông đi xuyên qua nhiều phòng khách kế tiếp nhau, rất sang trọng mà những đại lãnh chúa bên Pháp cũng không dám nghĩ tới cuối cùng đến một phòng ngủ, một kỳ tích cả về thẩm mỹ lẫn sự giàu sang. Sâu trong phòng có một cái cửa, phủ thảm, mà Công tước mở bằng một chìa khóa nhỏ bằng vàng ông vẫn đeo ở cổ bằng một sợi dây chuyền cũng bằng vàng. D Artagnan cẩn thận dừng lại ở phía sau, nhưng lúc Buckingham bước qua ngưỡng cửa đó, ông quay lại thấy chàng trao trẻ vẫn do dự, ông bảo chàng:

- Lại đây nào, và nếu ông có vinh dự được bệ kiến Hoàng hậu, hãy nói lại cho bà nghe những gì ông thấy.

- Được lời mời khích lệ chàng đi theo Quận công. Ông đóng cửa lại.

Thế là hai người đã ở trong một tiểu giáo đường, phủ toàn lụa Ba Tư thêu sợi vàng, rực rỡ ánh sáng của vô số ngọn nến. Bên trên một thứ giống như bàn thờ, và phía dưới một chiếc tán bằng nhung xanh lam cắm lông chim trắng và đỏ, là một bức chân dung to bằng người thật vẽ Anne d Autriche giống như đúc khiến D Artagnan phải thốt lên kinh ngạc, tưởng như Hoàng hậu sắp nói thành lời.

Trên bàn thờ, và phía dưới bức chân dung là cái tráp chứa những nút kim cương.

Công tước lại gần bàn thờ, quỳ xuống như một linh mục quỳ trước chúa Kitô, rồi mở tráp.

- Ông lấy ra một nút tết to bằng dải băng xanh lóng lánh kim cương rồi bảo chàng:

- Cầm lấy, đây là những nút kim cương quý báu mà ta đã nguyền được chôn theo ta. Hoàng hậu đã tặng ta. Hoàng hậu lại lấy lại của ta. Nguyện vọng của Hoàng hậu là ý của Chúa, phải được thực hiện trong mọi việc.

Kồi ông hôn từng hạt, từng hạt một cả chuỗi nút kim cương sắp phải xa lìa. Bỗng nhiên ông kêu lên một tiếng khủng khiếp.

- Có chuyện gì vậy? - D Artagnan hỏi vẻ lo lắng - Thưa Huân tước, có điều gì xảy ra với ngài ư?

Buckingham nhợt nhạt hẳn người đi như người đã khuất kêu lên:

- Hại to rồi - Thiếu hai hạt kim cương. Chỉ còn có mười hạt.

- Huân tước đánh mất hay bị lấy cắp?

- Họ lấy cắp của ta - Công tước nói tiếp - chính Giáo chủ đã chơi ta quả này. Đây, ông xem, dải băng giữ những nút kim cương có vết cắt bằng kéo.

- Nếu Huân tước nghi ngờ kẻ nào đó đánh cắp... có thể kẻ đó vẫn còn đang giữ nó.

- Khoan đã, khoan đã? - Công tước nói - Chỉ có mỗi một lần ta đeo chuỗi kim cương đó, đó là buổi vũ hội của nhà Vua, cách đây tám ngày ở điện Uyn-xo. Lúc khiêu vũ, nữ Bá tước De Winter, vốn có xích mích với ta đã lại gần ta, lối làm lành đó là sự trả thù của đàn bà ghen tuông. Từ hôm đó, ta không xem lại chuỗi hạt. Mụ đàn bà đó là một điệp viên của Giáo chủ.

- Nhưng ông ta có tay chân ở khắp thế giới ư! - D Artagnan kêu lên.

- Ồ, đúng đấy! - Buckingham vừa nói vừa nghiến răng giận dữ - Phải, đó một đấu thủ ghê gớm. Nhưng khi nào thì có vũ hội đó?

- Thứ hai tuần sau.

- Thứ hai tuần sau ư! Còn năm ngày nữa. Thế là thừa thì giờ chúng ta phải có rồi. Patrítxơ! - Quận công vừa mở cửa tiểu giáo đường vừa gọi to - Patrítxơ!

Người hầu thân tín của ông xuất hiện.

- Gọi ngay người thợ kim hoàn và viên thư ký của ta!

- Người hầu phòng đi ra, tức khắc và lặng lẽ chứng tỏ thói quen co mình lại vâng lệnh một cách mù quáng và không cãi lại.

Mặc dầu người thợ kim hoàn được gọi trước, nhưng viên thư ký lại hiện ra trước tiên. Ông ta thấy Buckingham ngồi trước chiếc bàn trong phòng ngủ, tự tay viết lấy mấy cái lệnh.

- Ông Jécxơn này, Công tước nói - Ông hãy đến ngay chỗ Huân tước tổng trưởng pháp lý và bảo ông ta rằng ta ủy nhiệm thi hành mấy lệnh này. Ta muốn những lệnh đó được ban bố ngay tức khắc.

- Nhưng thưa Đức ông, nếu Huân tước tổng trưởng hỏi tôi về những động cơ khiến Đức ngài đi đến một biện pháp đặc biệt đến thế, tôi sẽ trả lời thế nào?

- Rằng ta thích như thế và ta chẳng cần báo cáo với ai ý muốn của ta.

Viên thư ký vừa đáp vừa mỉm cười:

- Liệu đấy có sẽ là câu trả lời của ngài tổng trưởng phải tâu lên Hoàng thượng không, nếu tình cờ Hoàng thượng tò mò muốn biết tại sao không một chiếc tàu nào có thể ra khỏi các cảng biển của Đại Anh quốc?

- Ông có lý - Buckingham trả lời - Trong trường hợp phải tâu với nhà Vua, ông ấy cứ nói là ta quyết định chiến tranh và biện pháp đó là hành động thù địch đầu tiên của ta chống lại nước Pháp.

Viên thư ký cúi chào và đi ra.

Buckingham quay lại phía D Artagnan nói:

- Thế là chúng ta yên tâm được một bề rồi. Nếu mấy nút kim cương đó chưa hề đến Paris, nó sẽ chỉ đến đó sau ông.

- Làm sao lại thế được?

- Ta vừa ra lệnh cấm các tàu thuyền lúc này đang đậu ở các hải cảng của Hoàng thượng không được rời bến và trừ phi có giấy phép đặc biệt, không một chiếc nào dám nhổ neo.

D Artagnan vô cùng kinh ngạc nhìn con người đã đem cái quyền lực vô hạn mà nhà Vua đã tin cậy trao cho, phục vụ cho những việc tình ái của mình. Buckingham nhìn nét mặt của chàng trai trẻ, biết được điều gì đang diễn ra trong đầu, liền mỉm cười:

- Phải, chính Anne d Autriche mới là Hoàng hậu đích thực của ta. Một lời nàng nói ra, ta sẽ có thể phản bội lại đất nước ta, phản bội nhà Vua, phản bội lại Chúa trời của ta. Nàng đã yêu cầu ta đừng gửi cứu viện cho giáo phái Tin lành ở La Rochelle và ta đã làm như thế. Ta đã không giữ lời hứa, nhưng cần gì, ta vâng theo ước muốn của nàng. Ta đã chẳng được trả công lớn về sự vâng theo ấy sao, nói xem nào, bởi vì chính nhờ có sự vâng theo đó mà ta có được bức chân dung của nàng?

D Artagnan lấy làm lạ thay cho vận mệnh một dân tộc và sinh mạng những con người đôi khi lại được treo trên những sợi dây mong manh và không thấy được như thế.

Chàng đang đắm nhìn trong suy nghĩ, thì người thợ kim hoàn đi vào. Đó là một người Ireland loại có kỹ xảo nhất trong nghề, bản thân cũng thú nhận kiếm được hàng trăm nghìn đồng vàng Anh quốc mỗi năm với Quận công De Buckingham.

- Ông Ôrâyly này, - Quận công vừa nói vừa dẫn ông ta vào tiểu giáo đường - Hãy xem những nút kim cương này và nói cho ta biết mỗi nút giá bao nhiêu?

- Người thợ kim hoàn đưa mắt nhìn vẻ mỹ lệ mà chúng được gọt tỉa, lấy viên nọ bù viên kia, tính toán giá trị rồi không do dự trả lời:

- Mười lăm nghìn đồng vàng một nút, thưa Huân tước.

- Cần phải bao nhiêu ngày để làm hai nút như thế? Ông thấy đấy, nó thiếu mất hai.

- Thưa Huân tước, tám ngày.

- Ngày kia ta cần có rồi, ta sẽ trả ba nghìn đồng mỗi nút.

- Huân tước sẽ có.

- Ôi ông Ôrâyly, ông thật là quý giá. Nhưng chưa hết đâu. Những nút kim cương đó không được lộ ra với bất kỳ ai, và phải được làm trong lâu đài này.

- Thưa Huân tước, không thể được. Chỉ có tôi mới có thể làm nổi, để không ai phân biệt nổi cái mới với cái cũ.

- Vì thế, ông Ôrâyly thân mến ạ, ông mới là tù nhân của ta; Giờ đây, ông có muốn ra khỏi lâu đài của ta cũng không thề được nữa rồi. Hãy quyết định đi. Cho ta biết danh sách thợ phụ mà ông cần và ghi rõ những đồ nghề gì bọn chúng phải mang theo.

Người thợ kim hoàn đã biết rõ Quận công. Ông ta hiểu rằng mọi thăm dò ý kiến đều vô ích, nên quyết định ngay phần việc của mình. Ông ta hỏi:

- Tôi được phép báo với vợ tôi chứ?

- Ồ, ông còn được phép gặp nữa ấy chữ, ông Ôrâyly thân mến ạ Việc cầm giữ ông sẽ nhẹ nhàng thôi, ông yên tâm, và vì mọi sự đảo lộn đều đáng được đền bù, vậy ngoài giá tiền hai nút kim cương, đây là món quà một nghìn đồng vàng để ông quên đi sự phiền muộn do ta gây ra cho ông.

D Artagnan không tránh khỏi ngạc nhiên về viên Thủ tướng với đôi tay đã khuấy đảo bao nhiêu sinh mạng con người, và tiền triệu đi tong.

Còn người thợ kim hoàn gửi món quà một nghìn đồng vàng và viết thư cho vợ bảo gửi ngay cho người thợ phụ khéo nhất và một bộ hạt kim cương thích hợp mà ông đã cho biết trọng lượng, phẩm chất, rồi còn danh sách những dụng cụ cần thiết nữa.

Buckingham dẫn người thợ kim hoàn vào căn phong dành riêng cho ông ta và chỉ trong vòng nửa giờ đã biến thành một xưởng thợ. Rồi Công tước cắt lính canh ở mỗi cửa, cấm không cho bất cứ ai vào trừ người hầu phòng Patrítxơ của ông. Không cần phải nói thêm cũng tuyệt đối cấm ông thợ kim hoàn Ôrâyly và người thợ phụ không được ra khỏi phòng dưới bất cứ lý do nào.

Thu xếp xong việc đó, Công tước trở lại với D Artagnan.

- Bây giờ, anh bạn trẻ, - Ông nói - nước Anh là của hai chúng ta, ông muốn gì, ông ao ước điều gì nào?

- Một cái giường - D Artagnan trả lời - tôi thú thực, lúc này đó là thứ tôi cần nhất.

Buckingham đưa D Artagnan đến một căn phòng liền kề với phòng của ông. Ông muốn giữ chàng trai trẻ trong tay ông, không phải ông nghi ngờ gì chàng mà để ông được không ngừng nói chuyện với chàng về Hoàng hậu.

Một giờ sau lệnh không cho tàu thuyền nào đi Pháp được ra khỏi cảng ngay cả thuyền đưa thư cũng vậy được ban bố. Trước mắt mọi người thì đây là lời tuyên chiến giữa hai vương quốc.

Ngày hôm sau nữa, khoảng mười một giờ hai nút kim cương đã được làm xong, bắt chước quá đúng, hoàn toàn giống hệt khiến Buckingham không nhận ra cái nào là mới, cái nào là cũ và kể cả những người lão luyện nhất trong nghề cũng sẽ bị nhầm như ông.

Ngay lập tức ông cho gọi D Artagnan, rồi bảo chàng:

- Cầm lấy, đây là những nút kim cương mà ông đến tìm, và ông hãy là nhân chứng cho tôi rằng tất cả những gì sức con người có thể làm được tôi đã làm.

- Ngài yên tâm, thưa Huân tước, tôi sẽ nói điều gì tôi thấy nhưng Đức ngài trao cho tôi những nút kim cương mà không có tráp đựng.

- Cái tráp sẽ làm cho ông vướng víu. Vả lại đối với tôi, cái tráp còn quý hơn. Tôi chỉ còn lại mỗi thứ đó. Ông sẽ nói là tôi giữ lại.

- Thưa Huân tước, tôi sẽ nói lại đúng từng lời việc ngài giao cho tôi.

- Và bây giờ - Buckingham vừa nói tiếp vừa nhìn thẳng vào mặt chàng trai trẻ - Bao giờ tôi mới trả ơn được ông đây?

D Artagnan đỏ bừng mặt lên. Chàng thấy ông Quận công đang tìm cách để chàng nhận một thứ gi đó và cái ý nghĩ máu các đồng đội của chàng và máu chàng sắp được trả cho chàng bằng vàng của nước Anh khiến chàng ghê tởm lạ lùng. Chàng đáp:

- Thưa Huân tước, chúng ta hãy thông hiểu lẫn nhau, và cân nhắc kỹ mọi việc trước đã sao cho không có một sự hiểu lầm nào xảy ra. Tôi phục vụ đức Vua và Hoàng hậu nước Pháp, và tham gia đội cận vệ của ông des Essarts, ông này cũng như anh rể ông là ông De Treville hoàn toàn đặc biệt gắn bó với Hoàng thượng. Còn thêm nữa, có thể tôi đã chẳng làm nổi điều gì của tất cả cái đó nếu việc đó không được làm để vừa lòng một người cũng là bà chúa của tôi, giống như Hoàng hậu là của ngài vậy.

- Phải - Quận công vừa nói vừa mỉm cười - và tôi tin tôi cũng biết cái bà chúa khác ấy, có phải...

- Thưa Huân tước, tôi có nêu tên người ấy ra đâu - chàng trai trẻ vội vã ngắt lời.

- Thế là đúng - Công tước nói - vậy chính là tôi phải biết ơn người ấy về sự tận tụy của ông.

- Thưa Huân tước, ngài đã nói rồi, bởi vì đúng vào cái giờ này đã là chuyện chiến tranh rồi, tôi xin thú thực tôi chỉ thấy ở Đức ngài một tên người Anh, do đó là một kẻ thù mà tôi sẽ còn vui sướng được gặp ở chiến trường hơn là trong công viên điện Uynxo hoặc trong những hành cung của điện Louvre. Tuy nhiên điều đó không ngăn cản tôi thực hiện từng chi tiết, nhiệm vụ của tôi, nếu cần thiết, sẵn sàng chết để hoàn thành nhiệm vụ đó Nhưng tôi xin nhắc lại với Đức ngài rằng ngài sẽ không có gì phải cảm ơn tôi những việc tôi sẽ làm cho tôi trong cuộc gặp gỡ lần thứ hai hơn là những gì tôi đã làm cho ngài trong cuộc gặp gỡ lần thứ nhất đâu.

Buckingham lẩm nhẩm:

- Bên chúng tôi, chúng tôi thường nói: "Kiêu hãnh như một người Xcốt".

- Còn chúng tôi, chúng tôi nói: "Kiêu hãnh như một người Gátxcông" - D Artagnan đáp - Dân Gátxcông là dân Xcốt của nước Pháp.

D Artagnan chào Công tước và sẵn sàng ra đi.

- Khoan đã! Ông đi như thế ư? Đi lối nào? Đi thế nào?

- Vâng, quả có thế.

- Chúa ơi! Người Pháp không nghi ngại gì hết.

- Tôi quên mất nước Anh là một hòn đảo và Ngài là vua hòn đảo ấy ông hãy đi đến cảng, hỏi chiếc thuyền hai buồm tên là "Săn", đưa cho thuyền trưởng thư này. Ông ta sẽ dẫn ông đến một cảng nhỏ, chắc người ta không đợi ông đâu, và ở đó thường chỉ có thuyền đánh cá cặp bến.

- Cảng đó tên là gì?

- Saint-Valery, nhưng khoan đã, tới đó, ông sẽ vào một cái quán tồi tàn không tên, không biển hiệu, một tửu quán đích thực của thủy thủ, và không lo nhầm đâu, vì chỉ có một thôi.

- Sau đó?

- Ông hỏi chủ quán và bảo hắn ta: Forward

- Nghĩa là thế nào?

- Là "Tiến lên". Đó là khẩu lệnh. Hắn sẽ cho ông một con ngựa, yên cương sẵn sàng và sẽ chỉ dẫn đường đi cho ông. Ông cũng sẽ thấy bốn trạm tiếp sức như thế trên đường đi. Nếu ông muốn, ở mỗi trạm, hãy cho địa chỉ của ông ở Paris, bốn con ngựa sẽ đi theo ông đến đó. Ông đã biết hai trong số đó, và tôi thấy hình như ông có vẻ quý nó như một tay chơi ngựa, hai con mà chúng ta đã cưỡi ấy. Và ông hãy tin tôi, hai con kia cũng không hề kém chút nào đâu. Bốn con ngựa ấy đều là ngựa chiến đấy. Dù ông có kiêu hãnh đến đâu, ông cũng đừng từ chối nhận một con, và bảo các bạn ông nhận ba con kia. Vả lại còn để ta dùng trong chiến tranh mà. Mục đích bỏ qua cho các phương tiện như người Pháp các ông vẫn nói có phải không?

- Phải, thưa Huân tước, tôi xin nhận - D Artagnan nói - Và nếu hợp lòng trời, chúng tôi sẽ sử dụng tất những món quà của ngài.

- Bây giờ, bắt tay người bạn trẻ, có thể chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau trên chiến trường, nay trong khi chờ đợi, chúng ta hãy chia tay nhau như những người bạn tốt, tôi hy vọng thế.

- Vâng, thưa Huân tước, nhưng với hy vọng sớm thành kẻ thù của nhau.

- Ông yên tâm, tôi hứa với ông như vậy.

- Huân tước, tôi tin lời hứa của ngài.

D Artagnan chào công tước và vội vã tiến về phía cảng.

Trước mặt tháp London, chàng thấy chiếc thuyền đã chỉ định. Chàng trao bức thư cho viên thuyền trưởng. Ông ta đưa cho trấn thủ cảng xác nhận, rồi chuẩn bị giương buồm.

Năm mươi thuyền bè muốn rời bến mà phải nằm chờ.

Khi đi qua mạn một con thuyền trong số đó, D Artagnan tin là mình đã nhận ra người đàn bà ở Măng, vẫn người đàn bà mà con người xa lạ từng gọi là Milady và chính bản thân D Artagnan cũng thấy nàng quá đẹp. Nhưng nhờ xuôi dòng, thuận gió con thuyền của chàng đi nhanh đến nỗi chỉ một lát sau đã không thấy tăm hơi của người đàn bà đó.

Hôm sau, khoảng chín giờ sáng, thuyền cập bến Saint-Valery.

D Artagnan đi ngay tới cái quán đã chỉ dẫn và nhận ra qua những tiếng ầm ĩ từ bên trong thoát ra. Người ta đang nói về chiến tranh giữa nước Anh và nước Pháp sắp xảy ra đến nơi và không phải bàn cãi nữa, và bọn thủy thủ vui vẻ thì lu bù chè chén.

D Artagnan rẽ đám đông tiến lại chủ quán và đọc Forward.

Ngay tức khắc chủ quán ra hiệu cho chàng đi theo mình qua một chiếc cửa ra sân rồi dẫn chàng đến chuồng ngựa đã có sẵn một con ngựa yên cương đầy đủ đợi chàng rồi chủ quán hỏi xem liệu chàng có cần gì nữa không.

- Tôi cần biết mình phải đi theo đường nào - D Artagnan - Từ đây đi đến Blănggy, rồi từ Blănggy đến Nớpsaten đến Nớpsaten vào quán Chiếc bừa vàng, nói khẩu lệnh với chủ quán và ông sẽ thấy ở đó một con ngựa đầy đủ yên cương.

- Tôi có phải gì không? - D Artagnan hỏi.

- Đã trả cả rồi - chủ quán nói - và trả hậu nữa. Ông cứ việc đi đi Cầu trời phù hộ cho ông!

- Amen!

Nói rồi chàng cho ngựa phi nước đại.

Bốn giờ sau chàng tới Nớpsaten. Tuân theo chặt chẽ những chỉ dẫn đã nhận được, ở Nớpsaten giống như ở Saint-Valery, chàng lại thấy một con ngựa yên cương sẵn sàng đang đợi mình.

Chàng định chuyển những khẩu súng ngắn từ yên con ngựa chàng thôi không cưỡi sang yên con ngựa mới chàng sắp cưỡi, nhưng những bao súng ở yên con ngựa này đã gài sẵn những khẩu súng ngắn tương tự.

- Địa chỉ của ông ở Paris?

- Dinh trại quân cận vệ, đại đội ông des Essarts.

- Tốt lắm - chủ quán trả lời.

- Bây giờ phải đi đường nào? - Đến lượt D Artagnan hỏi lại.

- Đường đi Ruăng, nhưng đừng có đi qua thành phố ở phía bên phải. Đến cái làng nhỏ Ecu-i, ông dừng lại, ở đó chỉ có một cái quán tên là: Đồng vàng nước Pháp. Đừng có nhìn bề ngoài mà xét đoán nó. Trong chuồng ngựa của quán, cũng sẽ có một con ngựa giá trị tương đương con ngựa này.

- Vẫn khẩu lệnh ấy.

- Đúng vậy.

- Xin chào ông chủ?

- Chúc nhà quý tộc lên đường bình an! À mà ông còn cần gì nữa không.

D Artagnan lắc đầu và lại phóng như bay. Đến Ecu-i, vẫn diễn lại cảnh ấy. Chàng lại gặp một chủ quán đã được báo trước.

Một con ngựa sung sức và được nghỉ ngơi. Chàng để lại địa chỉ như đã làm rồi lại phi nhanh đến Pôngtoa. Ở Pôngtoa chàng đổi ngựa lần cuối và vào lúc chín giờ chàng phi nước đại vào thẳng sân dinh quán ông De Treville, vậy là chàng đã đi gần sáu mươi dặm trong mười hai tiếng đồng hồ.

Ông De Treville đón chàng như thể vừa gặp chàng ban sáng.

- Có điều vừa siết tay chàng hơi mạnh hơn thường lệ, ông vừa báo cho chàng biết đại đội cận vệ của ông des Essarts đang tuần canh điện Louvre và chàng có thể trở về nhiệm sở của mình.

Chương 22

Vũ khúc Merlaison(1).

Hôm sau, người ta xôn xao bàn tán khắp Paris về vũ hội mà các vị thẩm phán thành phố tổ chức để tôn vinh nhà Vua và Hoàng hậu, trong đó chắc Louis sẽ nhảy vũ điệu nổi tiếng Méeledông, là vũ điệu ưa thích của nhà Vua.

- Người ta đã chuẩn bị từ tám hôm nay mọi công việc ở tòa thị chính cho buổi dạ hội long trọng đó. Thợ mộc của thành phố đã dựng những kỳ đài làm chỗ ngồi cho các phu nhân được mời.

Chủ tạp hóa thành phố đã gắn trong các phòng hai trăm cây nến trắng, một sự xa hoa hiếm thấy thời bấy giờ. Cuối cùng là hai mươi cây vĩ cầm được báo trước và giá công được ấn định gấp đôi giá ngày thường vì họ sẽ phải chơi suốt đêm.

Khoảng mười giờ sáng, ông De la Côtx kỳ úy đội cận vệ của nhà Vua, theo sau có hai sĩ quan và nhiều xạ thủ của đội, đến yêu cầu ông lục sự thành phố tên là Clêmăng đưa tất cả chìa khóa các cửa, các phòng, và các phòng làm việc của thị sảnh.

Chìa khóa được trao ngay cho ông ta, mỗi chiếc đều mang theo một thẻ nhỏ để khỏi nhầm và từ lúc đó ông De la Côtx chịu trách nhiệm canh phòng tất cả các cửa và tất cả các lối đi trong thị sảnh.

Mười một giờ, đến lượt ông Đuyhaliê, đại úy cận vệ đến, đem theo năm mươi xạ thủ, bọn họ tản ngay đến các cửa đã được chỉ định trong tòa thị chính.

Ba giờ chiều, hai đại đội cận vệ, một người Pháp, một Thụy Sĩ đến tiếp. Đại đội cận vệ Pháp được hợp thành, một nửa từ những quân của ông Đuyhaliê, một nửa là của ông des Essarts.

Sáu giờ chiều, khách mời bắt đầu kéo đến. Vào đến đâu, khách được mời ngồi đến đấy trên kỳ đài đã được dựng trong đại sảnh đường.

Chín giờ, bà đệ nhất chủ tọa đến. Vì sau Hoàng hậu, đó là nhân vật quan trọng nhất của vũ hội, bà ta được các quan chức của thành phố đón tiếp và được mời ngồi trong khoang đối diện với khoang của Hoàng hậu.

Mười giờ, người ta bầy một tiệc mứt để đón tiếp đức Vua trong một phòng nhỏ phía nhà thờ Thánh Jăng, trước một tủ đựng các bộ đồ ăn bằng bạc, và được bốn xạ thủ bảo vệ.

- Đúng nửa đêm, người ta nghe thấy những tiếng reo lớn, và những tiếng tung hô, đó là lúc nhà Vua đang tiến qua các phố rực rỡ những đèn màu suốt từ điện Louvre đến tòa thị chính.

Ngay tức khắc, các viên thẩm phán trong những chiếc áo dài bằng da, đi trước là sáu viên đội, mỗi người một đèn lồng trong tay ra đón Nhà Vua, mà họ gặp ngay trên những bậc thềm, ở đó viên thị trưởng thành phố đang đọc diễn văn chúc mừng nhà Vua, còn nhà Vua đáp lại bằng việc cáo lỗi đã đến quá muộn nhưng lại gán cho Giáo chủ đã giữ nhà Vua lại tận mười một giờ để bàn luận công việc quốc gia.

Nhà vua mặc lễ phục, tháp tùng có Đức ông hoàng đế, Bá tước de Xoát xông, đại giáo trường, Quận công Lôngdơvin, Quận công Đenbớp, Bá tước de Hácua, Bá tước de la Rấtsơ Guyông, ông De Lăngcua, ông De Barađát, Bá tước de Cramay, và hiệp sĩ Đờxúvơray.

Mọi người đều nhận thấy nhà Vua có vẻ rầu rĩ và băn khoăn.

Một căn phòng đã được chuẩn bị riêng cho nhà Vua, và một phòng khác cho Hoàng đế. Trong mỗi phòng đó, đều để sẵn y phục giả trang. Cũng như thế cho Hoàng hậu và phu nhân chủ tọa. Các vị đại thần và các phu nhân hộ giá Hoàng thượng thì cứ hai người một thay đồ giả trang các phòng chuẩn bị cho việc đó.

Trước khi vào phòng, nhà Vua dặn khi nào Giáo chủ xuất hiện phải báo ngay cho nhà Vua biết.

Nửa giờ sau khi nhà Vua đi vào, những tiếng tung hô mới lại vang lên báo tin Hoàng hậu đến. Các thẩm phán lại ra đón như đã làm, đi trước cũng là những viên đội, họ tiến đến trước vị nữ khách lừng danh của họ.

Hoàng hậu bước vào đại sảnh. Người ta nhận thấy, giống như nhà Vua, bà có vẻ rầu rĩ và rất là mệt mỏi.

Đúng lúc bà bước vào, tấm rèm của một khán đài nhỏ cho đến lúc đó vẫn buông kín được mở ra và người ta thấy hiện ra bộ mặt xanh xao của Giáo chủ mặc theo lối kỵ sĩ Tây Ban Nha. Đôi mắt của ông ta xoáy vào đôi mắt của Hoàng hậu, và một nụ cười mừng vui khủng khiếp lướt trên đôi môi ông ta: Hoàng hậu không đeo chuỗi kim cương.

Hoàng hậu lưu lại ít phút để nhận những lời chúc tụng của quan chức thành phố và đáp lại sự chào đón của các phu nhân.

Bất thình lình nhà Vua cùng với Giáo chủ hiện ra ở một chiếc cửa của đại sảnh đường. Giáo chủ nói rất khẽ với nhà Vua, và nhà Vua tái nhợt đi.

Nhà Vua rẽ đám đông và, chưa đeo mặt nạ, những dải băng ở áo chẽn còn chưa buộc chặt, tiến lại gần Hoàng hậu, lạc hẳn giọng đi:

- Thưa bà, xin bà vui lòng, vậy chớ tại sao bà lại không đeo chuỗi hạt kim cương, khi bà biết nó sẽ làm ta vui lòng khi nhìn thấy nó?

- Tâu hoàng thượng - Hoàng hậu trả lời giọng cũng lạc đi - bởi giữa đám rất đông người này, tôi sợ có chuyện không may xảy ra với nó.

- Thế thì bà nhầm rồi, thưa bà! Nếu như tôi tặng bà món quà đó, chính là để bà đem ra trang điểm. Tôi nói cho bà biết, bà nhầm rồi.

Và giọng của nhà Vua run lên tức giận, ai nấy đều nhìn và nghe rất đỗi ngạc nhiên không hiểu đã xảy ra chuyện gì.

- Tâu Hoàng thượng - Hoàng hậu nói - Tôi có thể sai người về tìm ở điện Louvre, nó vẫn ở đấy, và như vậy những ước muốn của Hoàng thượng sẽ được hoàn tất.

- Vậy bà làm đi, thưa bà, làm đi, và nhanh nhanh lên, vì nửa giờ nữa là vũ hội bắt đầu rồi.

Hoàng hậu cúi chào tỏ vẻ phục tùng và đi theo các phu nhân có nhiệm vụ dẫn bà về phòng riêng.

Về phía mình, nhà Vua cũng trở về phòng mình.

Đại sảnh rối loạn, xôn xao mất một lúc.

Mọi người đều có thể nhận thấy có chuyện gì xảy ra giữa nhà Vua và Hoàng hậu. Nhưng cả hai đều nói rất khẽ mà mọi người do tôn kính đều đứng xa ra mấy bước, nên không ai nghe thấy gì. Vĩ cầm vang lên hết cỡ nhưng cũng chẳng ai nghe.

Nhà Vua ra khỏi phòng mình trước tiên, trong trang phục đi săn loại hào hoa nhất, Hoàng đế và các vị đại thần khác đều mặc như nhà Vua. Đó là bộ trang phục nhà Vua mặc đẹp nhất và mặc như vậy, ông hình như mới đích thực là nhà quý tộc đệ nhất của vương quốc.

Giáo chủ lại gần và chuyển cho nhà Vua một cái hộp. Nhà Vua mở ra và thấy trong đó hai nút kim cương liền hỏi Giáo chủ:

- Thế nghĩa là thế nào?

- Không thế nào cả - Giáo chủ trả lời - có điều nếu Hoàng hậu có những nút kim cương, điều thần đang ngờ đấy, tâu Hoàng thượng, Hoàng thượng hãy đếm xem, và nếu Ngài chỉ thấy có mười viên, xin hãy hỏi Hoàng hậu xem kẻ nào có thể lấy cắp mất hai nút như thế này.

Nhà Vua nhìn Giáo chủ như để hỏi. Nhưng ông còn chưa kịp hỏi một câu nào, thì tiếng kêu ngưỡng mộ đã thốt ra từ miệng tất cả mọi người. Nếu như nhà Vua là bậc quý tộc đệ nhất vương quốc, chắc chắn Hoàng hậu phải là người đàn bà đẹp nhất nước Pháp.

Đúng là bộ y phục nữ đi săn rất hợp với nàng. Nàng đội một chiếc mũ dạ với những lông chim xanh lam, một áo khoác ngoài nhung màu xám có cài những móc kim cương và một chiếc váy bằng xa tanh xanh lam toàn thêu sợi bạc, trên vai trái nàng lấp lánh những nút kim cương được đính vào một cái nơ cùng màu với lông chim và chiếc váy.

Nhà Vua sướng run người, còn Giáo chủ run lên vì giận dữ, tuy nhiên vì cả hai người cùng đứng cách xa Hoàng hậu nên không thể đếm được số nút kim cương. Hoàng hậu đã có những nút kim cương ấy, có điều là có mười hay mười hai nút.

Cũng lúc ấy, vĩ cầm vang lên tín hiệu bắt đầu vũ khúc. Nhà Vua tiến về phía phu nhân chủ tọa và phải nhảy với bà và Hoàng đế với Hoàng hậu. Mọi người đều vào chỗ và vũ khúc bắt đầu Nhà Vua nhảy đối diện với Hoàng hậu, và mỗi lần ông lướt qua gần nàng, Ngài lại hau háu nhìn những nút kim cương mà không đếm nổi. Một lớp mồ hôi lạnh toát ra tên trán Giáo chủ.

Vũ điệu kéo dài một giờ, gồm mười sáu chuyển đoạn động tác múa.

Vũ điệu kết thúc giữa những tiếng vỗ tay hoan hô của khắp mọi người trong đại sảnh, mỗi người đều đưa quý bà nhảy với mình về chỗ, nhưng nhà Vua ỷ vào đặc quyền của mình, bỏ bà chủ tọa ngay tại chỗ để tiến nhanh lại phía Hoàng hậu, và nói với nàng:

- Thưa bà, tôi xin cảm ơn bà, về sự tôn trọng mà bà đã biểu lộ trước những ý muốn của tôi, nhưng tôi tin bà thiếu mất hai nút kim cương, mà tôi đã mang đến đây.

Vừa nói, nhà Vua vừa chìa ra cho Hoàng hậu hai nút kim cương mà Giáo chủ đã đưa cho mình.

- Tâu Bệ hạ, lại thế nữa sao! - Hoàng hậu giả vờ ngạc nhiên kêu lên - Bệ hạ lại cho thêm hai hạt nữa, thế là bây giờ tôi sẽ có những mười bốn viên ư?

Nhà Vua đếm, quả nhiên mười hai nút kim cương vẫn trên vai Hoàng hậu.

Nhà Vua gọi Giáo chủ và hỏi bâng một giọng nghiêm khắc:

- Thế nào? Thế này, nghĩa là thế nào, ông Giáo chủ?

- Tâu Bệ hạ, - Giáo chủ đáp - thế nghĩa là thần muốn Hoàng hậu nhận hai viên kim cương đó, nhưng tự mình lại không dám dâng lên, thần phải dùng cách ấy.

- Thế thì tôi lại càng phải chịu ơn Đức ông hơn - Anne d Autriche trả lời bằng một nụ cười chứng tỏ cái lối nịnh đầm tiểu xảo ấy không lừa được nàng - và tôi tin chắc rằng hai nút kim cương này ông phải trả đắt bằng cả mười hai nút kim cương kia mà Hoàng thượng phải trả đấy.

Rồi chào nhà Vua và Giáo chủ, Hoàng hậu trở về căn phòng mà nàng đã mặc giả trang và là nơi nàng phải cởi bỏ.

Chúng tôi buộc phải lưu tâm tới những nhân vật danh tiếng chúng tôi đưa vào ngay từ đầu chương này nên phải tạm xa nhân vật đã giúp Anne d Autriche vừa giành được thắng lợi không ngờ đối với Giáo chủ, người này hiện đang lẫn vào, không ai biết tới và lạc lõng trong đám đông ùn lại ở một cối cửa, đang nhìn màn kịch chỉ có bốn người hiểu nổi là nhà Vua, Hoàng hậu, Giáo chủ và chính nhân vật đó.

Hoàng hậu vừa trở về phòng, và D Artagnan chuẩn bị rút lui thì chàng cảm thấy có ai đó đụng nhẹ vào vai chàng. Chàng quay lại thấy một thiếu phụ ra hiệu đi theo nàng. Thiếu phụ đeo mặt nạ chó sói bằng nhung đen, nhưng mặc dầu đã cẩn thận như vậy, vả chăng cũng là để che mắt người khác đâu phải với chàng, chàng nhận ra ngay người dẫn đường mọi khi của chàng, bà Bonacieux khôn ngoan và yêu kiều.

Đêm trước, họ mới chỉ được thoáng gặp nhau một lát tại nhà một người Thụy Sĩ tên là Germain, mà D Artagnan đã yêu cầu nàng đến gặp ở đó. Thiếu phụ quýnh lên vội mang về cho Hoàng hậu cái tin tuyệt diệu là sứ giả của bà đã trở về may mắn, khiến cho đôi tình nhân chỉ kịp trao đổi được vài lời. D Artagnan đi theo bà Bonacieux bởi hai thứ tình cảm gộp lại thúc đẩy tình yêu và sự hiếu kỳ. Suốt dọc đường, mỗi lúc những hành lang càng trở nên vắng vẻ, D Artagnan định ngăn nàng lại để ôm chặt nàng, ngắm nghía nàng dù chỉ trong giây phút, nhưng thoăn thoắt như một cánh chim, nàng luôn trườn khỏi hai tay chàng, và khi chàng định nói, nàng lại đưa ngón tay lên miệng, một điệu bộ nhẹ nhàng đầy duyên dáng ra lệnh cấm chàng không được nói, và nhắc cho chàng biết đclng dưới một uy quyền phải nhắm mắt tuân theo, và cấm chàng không được thốt ra bất cứ một lời phàn nàn nhỏ nào. Cuối cùng, sau vài phút vòng đi vòng lại, bà Bonacieux mở một chiếc cửa dẫn chàng vào một căn phòng tối om, ở đây nàng lại ra hiệu phải ngậm miệng và mở chiếc cửa thứ hai lấp sau một tấm thảm, bất ngờ một vầng sáng chói tỏa ra và nàng biến mất.

D Artagnan đứng ngây ra một lúc và tự hỏi mình đang ở đâu thế này, nhưng rồi một tia sáng từ phòng bên lọt sang, hơi ấm và thơm phức tỏa đến tận chỗ chàng, tiếng mấy người đàn bà đang trò chuyện, lời lẽ vừa trang nhã, vừa tôn kính, tiếng Đức bà được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, chỉ rõ cho chàng thấy mình đang trong căn phòng liền kề với phòng Hoàng hậu.

Chàng trai đứng yên trong bóng tối và chờ đợi.

Hoàng hậu tỏ ra vui vẻ và sung sướng, hình như khiến mọi người xung quanh nàng rất đỗi ngạc nhiên, vì trái lại mọi khi thường thấy nàng hầu như luôn luôn lo lắng. Hoàng hậu trả lại hết cái tình cảm vui mừng đó cho vẻ mỹ lệ của đêm hội, cho niềm vui mà vũ điệu đem lại cho nàng, và do không được phép trái ý một bà hoàng, dù bà ta cười hay khóc, mọi người đều cường điệu thêm sự phong nhã của các viên thẩm phán thành Paris.

Dù D Artagnan còn chưa quen biết gì Hoàng hậu, chàng phân biệt được ngay giọng nói Hoàng hậu với giọng những người khác, trước hết đó là hơi pha giọng nước ngoài, thêm nữa là cái vẻ bề trên tự nhiên in đậm trong mọi lời lẽ của bậc tối thượng.

Chàng nghe thấy tiếng lại gần rồi lại xa ra khỏi chiếc cửa mở, hai ba lần chàng trông thấy vẫn chiếc bóng của thân hình ấy che khuất ánh sáng.

Cuối cùng, bất ngờ một bàn tay và một cánh tay trắng muốt và tuyệt đẹp vén tấm thảm lên, D Artagnan hiểu đây chính là phần thưởng cho chàng. Chàng quỳ xuống, nắm lấy bàn tay ấy và kính cẩn áp môi lên, rồi bàn tay rút lại, để lại trong hai bàn tay chàng một vật chàng nhận ra là một chiếc nhẫn, lập tức cửa đóng lại và D Artagnan lại thấy mình hoàn toàn trong bóng tối.

D Artagnan đeo chiếc nhẫn vào ngón tay chàng và lại đợi.

Rõ ràng mọi chuyện chưa phải đã xong. Sau phần thưởng về lòng tận tụy của chàng phải là phần thưởng của tình yêu. Vả lại vũ điệu đã nhảy rồi, nhưng dạ hội mới chỉ bắt đầu. Người ta ăn đêm vào lúc ba giờ, mà đồng hồ nhà thờ Thánh Jăng chỉ vừa mới điểm hai giờ bốn nhăm phút.

Quả nhiên, tiếng người thưa dần trong phòng bên, và xa dần, rồi cửa phòng D Artagnan đang đứng lại mở ra và bà Bonacieux lao vào. D Artagnan kêu lên:

- Cuối cùng, nàng đây rồi!

- Im nào! - Thiếu phụ áp bàn tay lên môi chàng - Im nào! Và bây giờ chàng hãy đi đi, đi theo lối chàng đến ấy.

- Nhưng ở đâu và khi nào chúng ta lại gặp nhau?

- Một thư ngắn mà chàng sẽ thấy khi trở về nhà sẽ cho chàng biết điều đó. Đi đi! Chàng đi đi?

Nói xong, nàng mở chiếc cửa thông ra hành lang và đẩy D Artagnan ra khỏi phòng.

D Artagnan vâng lời như một đứa trẻ, không kháng cự, không cãi lại câu nào, điều đó chứng tỏ chàng thực sự đang yêu say đắm.

Chương 23

Cuộc hẹn hò.

D Artagnan tức tốc chạy về nhà, và cho dù hơn ba giờ sáng lại phải đi xuyên qua những khu phố dữ tợn nhất của Paris, chàng cũng không gặp phải chuyện rủi ro nào. Người ta nói có một vị thần cho những kẻ yêu đương.

Chàng thấy cửa lối đi để ngỏ, liền leo thẳng lên cầu thang và gõ nhẹ và đúng lối theo quy ước giữa chàng và người hầu của mình. Planchet, hai giờ trước ở tòa thị chính, chàng đã cho về trước và dặn đợi mình, ra mở cửa. Chàng vội hỏi:

- Có ai mang thư đến cho ta không?

- Chả có ai mang thư đến cả - Planchet trả lời - nhưng có một thư tự nó đến một mình thôi.

- Mi muốn nói gì, đồ ngốc?

- Tôi muốn nói, lúc trở về, mặc dù chìa khóa phòng ông vẫn trong túi tôi, và không rời khỏi tôi lúc nào, tôi vẫn thấy một bức thư trên tấm thảm xanh trên bàn trong phòng ngủ của ông.

- Bức thư ấy đâu rồi?

- Thưa ông đâu vẫn đó. Những bức thư vào nhà người ta như thế không phải chuyện bình thường đâu. Nếu cửa sổ vẫn mở hoặc chỉ khép, tôi không nói làm gì. Nhưng không, tất cả đều đóng im ỉm cơ mà thưa ông, hãy đề phòng thôi, bởi chắc có phù chú gì đó.

Trong khi đó, chàng trai lao vội vào buồng ngủ và bóc thư xem. Đó là thư của bà Bonacieux vắn tắt như sau:

"Xin gửi tới những lời cảm ơn nồng nhiệt

"Muốn được thể hiện và chuyển cho chàng những lời cám ơn nồng nhiệt. Tối nay khoảng mười giờ chàng hãy đến Saint-Clu, đối diện với Nhà hứng gió nhô lên ở góc nhà ông De Etxtrê".

CB"

Đọc bức thư, D Artagnan cảm thấy tim mình hồi hộp một sự đê mê dịu dàng vừa hành hạ vừa mơn man trái tim của những cặp tình nhân.

Đó là bức thư vắn đầu tiên chàng nhận được, đó cũng là cuộc hò hẹn đầu tiên dành cho chàng. Trái tim chàng, nở tung ra vì say sưa vui sướng, tự cảm thấy sắp lịm đi ở ngưỡng cửa cái thiên đàng hạ giới mà người ta gọi là tình yêu này.

- Ơ kìa! Thưa ông - Planchet nói khi thấy chủ mình mặt cứ đỏ lên rồi lại tái đi liên tiếp - Ơ kìa! Chẳng phải tôi đã đoán đúng có chuyện dữ hay sao?

- Planchet ơi, mi nhầm rồi - D Artagnan trả lời - Và bằng chứng đây, đây là một đồng vàng để mi uống chúc mừng ta.

- Tôi xin cảm ơn ông chủ về đồng vàng ông thưởng tôi, và tôi xin hứa làm theo đúng những lời chỉ bảo của ông. Nhưng chẳng lẽ lại không đúng, rằng những bức thư lại vào được như thế trong những ngôi nhà đóng kín...

- Rơi từ trên trời xuống, anh bạn của ta ạ, rơi từ trên trời xuống đấy.

- Nhưng ông bằng lòng chứ? - Planchet hỏi.

- Planchet thân mến của ta ơi, ta là người sung sướng nhất trong mọi người.

- Và tôi có thể nhân việc ông được sung sướng mà đi ngủ chứ?

- Được, đi ngủ đi.

- Cầu cho mọi phúc lành trên đời đều rơi xuống ông chủ, nhưng chẳng lẽ lại không đúng là bức thư ấy... và Planchet vừa rút lui vừa lắc đầu với vẻ hoài nghi mà sự hào phòng của D Artagnan không thể hoàn toàn xóa đi nổi.

Còn lại một mình, D Artagnan đọc đi đọc lại bức thư vắn rồi hôn đi hôn lại đến hai chục lần những dòng chữ do tay người tình của mình viết. Cuối cùng chàng đi nằm, ngủ thiếp đi và mơ những giấc mơ vàng.

Bẩy giờ sáng, chàng dậy và gọi Planchet, ngay sau tiếng gọi lần thứ hai, đã mở cửa, mặt còn chưa gột hết những nỗi lo đêm trước.

- Planchet! - D Artagnan nói - có thể ta đi cả ngày hôm nay vậy mi được tự do đến bẩy giờ tối. Nhưng đúng bẩy giờ mi phải chuẩn bị sẵn hai con ngựa.

- Nghĩa là - Planchet nói - hình như chúng ta sắp làm cho mình được thủng da ở nhiều chỗ nữa thì phải!

- Mi sẽ mang theo súng trường và mấy khẩu súng ngắn của mày.

- Thấy chưa? Tôi đã nói gì nào? - Planchet kêu lên. - Đến đây, thì tôi chắc chắn, bức thư gở rồi?

- Nhưng mày cứ yên trí, đồ ngu ạ - Đây chỉ hoàn toàn đơn giản là một trò đùa vui thôi.

- Ồ, cũng như cuộc du hành thỏa thích ngày nào mà đạn bắn như mưa, và cạm bẫy mọc như nấm chứ gì.

- Thôi được, thưa ngài Planchet, nếu ngài sợ - D Artagnan nói tiếp - tôi sẽ đi một mình. Tôi thích du hành một mình hơn là có một bạn đồng hành run sợ.

- Ông chủ lại chửi tôi rồi - Planchet nói - tuy nhiên, hình như ông cũng đã thấy tôi lúc tâm sự.

- Phải, nhưng tao lại tưởng mi đã sử dụng hết lòng can đảm của mi trong một lần rồi.

- Ông chủ sẽ thấy khi có cơ hội, nó còn lại thế nào, có điều tôi xin ông chủ đừng hoang phí nó, nếu ông muốn nó còn được lâu bền.

- Mày có tin là vẫn còn một số nào đấy để chi tối nay không?

- Tôi hy vọng là còn.

- Thôi được! Ta tin ở mi?

- Đúng giờ, tôi sẽ sẵn sàng. Có điều, tôi tưởng ông chủ chỉ có một con ngựa ở chuồng ngựa cận vệ.

- Có lẽ ngay lúc này đã có một con nữa ở đấy rồi. Nhưng tối nay, sẽ có bốn con.

- Hình như chuyến du hành vừa qua của chúng ta là một cuộc du hành để thay ngựa?

- Đúng thế. - D Artagnan nói.

Rồi bằng cử chỉ cuối cùng để căn dặn Planchet, chàng ra ngoài.

Ông Bonacieux đang đứng trước cửa nhà mình. D Artagnan định lờ đi không thèm nói gì với lão hàng xén làm bộ làm tịch.

Nhưng lão ta lại chào chàng đến là dịu dàng và nhã nhặn khiến người thuê nhà khó xử, không những phải chào lại mà còn phải bắt chuyện với lão.

Vả lại làm sao lại không có được một chút vị nể một ông chồng mà người vợ lại hẹn mình ngay tối nay ở Saint-Clu, trước mặt Nhà hứng gió của ông De Etxtrê! D Artagnan lại gần với vẻ dễ mến nhất mà chàng có thể tạo được.

Câu chuyện rơi vào chuyện con người tội nghiệp này bị bắt giam hoàn toàn tự nhiên. Ông Bonacieux không biết D Artagnan từng được nghe cuộc chuyện trò của ông ta với con người lạ mặt ở Măng, lại đi kể cho chàng thuê nhà trẻ tuổi những sự ngược đãi của con quỷ De Lafêmát mà ông ta gán cái danh hiệu ấy cho tên đao phủ của Giáo chủ suốt cả câu chuyện, và dài dòng sang cả chuyện ngục Bastille, những chốt cửa, những ô trổ những lỗ thông hơi, những song sắt, những dụng cụ tra tấn.

D Artagnan lắng nghe với một thái độ vui vẻ mẫu mực rồi khi lão kết thúc, liền hỏi:

- Còn bà Bonacieux, ông có biết ai bắt cóc bà ấy không? Bởi vì tôi không quên chính trong cái hoàn cảnh bức bối đó mà tôi có được cái diễm phúc làm quen với ông.

- À! Ông Bonacieux nói - họ giữ không nói ra với tôi, còn vợ tôi cũng thề độc với tôi là không biết. Nhưng còn ông - Bonacieux tiếp tục với một giọng hoàn toàn bộc tuệch - mấy ngày qua, ông ra sao? Tôi chẳng thấy ông, cũng chẳng thấy các bạn ông, và tôi nghĩ không phải trên vỉa hè của Paris mà ông đã gom tất cả lớp bụi mà Planchet đã phủi hôm qua trên đôi ủng của ông đấy chứ?

- Ông nói đúng đấy ông Bonacieux thân mến của tôi ạ, tôi và các bạn tôi vừa tổ chức một cuộc du hành nho nhỏ.

- Xa đây không?

- Ồ không, lạy Chúa, chỉ độ bốn mươi dặn thôi. Chúng tôi đưa ông Athos đến vùng suối nóng Foócgiơ, các bạn tôi đều ở lại đó.

- Và ông trở về, có phải không ông? - Bonacieux nói tiếp, nét mặt lộ ra một tên trùm láu cá - Một chàng đẹp trai như ông không thể vắng mặt lâu đối với tình nhân của mình được và chúng ta lại được sốt ruột mong đợi ở Paris, có phải không?

- Thật tình - chàng trai trẻ vừa cười vừa nói - tôi xin thú nhận với ông, còn hơn thế ấy, ông Bonacieux thân mến ạ, tôi thấy không thể giấu nổi ông điều gì. Vâng, tôi đã được mong đợi, và khá sốt ruột, tôi xin đảm bảo với ông như vậy.

Một lớp mây mỏng lướt trên trán ông Bonacieux, nhưng quá mỏng khiến D Artagnan không nhận thấy.

- Và chúng ta sẽ được thưởng về sự chu đáo của chúng ta chứ? - Lão hàng xén tiếp tục, hơi biến giọng, một sự biến giọng mà D Artagnan không nhận thấy, chẳng hơn gì lớp mây mỏng trước đấy một lát chốc chốc lại làm sầm tối bộ mặt con người.

D Artagnan vừa cười, vừa nói:

- Kìa, ông cứ tiếp việc giả bộ ngây ngô đi mà.

- Đâu có, tôi nói vậy là chỉ để biết liệu ông có về muộn không thôi.

- Tại sao ông lại hỏi thế, ông chủ nhà thân mến của tôi, - D Artagnan hỏi - Thế ông định đợi tôi thật à?

- Không, kể từ ngày tôi bị bắt và xảy ra vụ trộm ở nhà tôi, mỗi lần tôi nghe thấy tiếng cửa mở nhất là ban đêm là tôi lại sợ run lên. Mẹ kiếp! Biết làm thế nào! Tôi đâu phải người biết múa gươm!

- Ồ nếu vậy ông chớ có sợ nếu tôi về vào lúc một giờ, hai giờ hay ba giờ sáng. Mà đến sáng tôi vẫn không về, thì ông đừng lo gì nữa.

Lần này thì mặt Bonacieux tái quá khiến D Artagnan có không muốn cũng không thể không nhận ra, liền hỏi ông ta có chuyện gì vậy.

- Có chuyện gì đâu - Bonacieux trả lời - không có chuyện gì đâu. Chỉ có từ khi gặp vận hạn, bất thình lình tôi lại cứ bị hơi choáng váng như thế, tôi vừa cảm thấy bị rùng người. Ông là người chỉ bận sao cho được sung sướng thì để tâm đến chuyện đó làm gì.

- Thế thì tôi đang bận, vì tôi là người như thế.

- Khoan đã, đã tới lúc đâu, ông bảo tối nay cơ mà.

- Yên trí, rồi sẽ tối! Ơn Chúa? Và có thể ông sốt ruột đợi tối chẳng kém gì tôi đâu. Có thể tối nay bà Bonacieux sẽ về thăm gia đình cũng nên đấy!

- Bà Bonacieux không được tự do tối nay đâu - Bonacieux đáp với vẻ nghiêm trọng - bà ấy bị giữ lại ở điện Louvre vì công việc.

- Thôi kệ ông vậy, ông chủ thân mến của tôi ạ, kệ ông. Khi mà tôi hạnh phúc, tôi những muốn tất cả mọi người được hạnh phúc theo nhưng hình như không thể được.

Và chàng trai trẻ vừa đi vừa phá lên cười khoái trí, mà chàng nghĩ chỉ mình chàng mới có thể hiểu được.

- Cứ việc vui thích đi! - Bonacieux đáp với một giọng như từ dưới đáy mộ vọng lên.

Nhưng D Artagnan đã đi quá xa không nghe được, mà dù có nghe được, trong tâm trí hiện thời, chắc chắn chàng cũng chẳng để ý.

Chàng đi về phía dinh quán ông De Treville. Cuộc viếng thăm ông đêm trước quá ngắn ngủi, và chưa giải thích được điều gì mấy.

Chàng thấy ông De Treville đang vui. Nhà Vua và Hoàng hậu đã tỏ ra niềm nở với ông trong vũ hội. Còn Giáo chủ thì đúng là mặt khó đăm đăm.

Một giờ sáng Giáo chủ đã rút lui, mượn cớ thấy trong người khó ở. Còn Đức Vua và Hoàng hậu mãi sáu giờ sáng mới trở về điện Louvre.

Ông De Treville đưa mắt nhìn khắp quanh nhà để xem có ai khác không rồi hạ giọng hỏi chàng.

- Bây giờ anh bạn trẻ, ta nói về anh nào, bởi rõ ràng cuộc trở về may mắn của anh đã phần nào là niềm vui của nhà Vua, sự đắc thắng của Hoàng hậu và sự hổ nhục của Đức ông Giáo chủ.

- Anh phải cẩn thận đấy.

D Artagnan trả lời:

- Chừng nào, tôi còn có diễm phúc được hưởng ân sủng của Đức Vua và Hoàng hậu thì tôi phải sợ cái gì nào?

- Phải sợ tất, tin ta đi. Giáo chủ không phải là người quên chuyện mắc lừa chừng nào còn chưa tính sổ với kẻ đánh lừa đâu, và kẻ đi lừa có vẻ là một gã Gátxcông nào đó ta từng quen biết.

- Ông tin rằng Giáo chủ cũng phòng xa như ông và biết chính tôi đã có mặt ở London ư?

- Quỷ thật! Anh đã ở London! Có phải anh đã mang từ London về cái viên kim cương xinh đẹp đang lấp lánh ở ngón tay anh không? Coi chừng đấy, anh D Artagnan thân mến của ta, món quà của kẻ thù không phải là một điều tốt đẹp đâu. Chẳng phải đã có một câu thơ Latinh về điều đó... khoan đã...

- Vâng hẳn vậy - D Artagnan trả lời, mặc dầu chàng chưa bao giờ có thể nhồi nổi vào đầu cái nguyên tắc đầu tiên của cuốn sách vỡ lòng, và vì do tối dạ, đã làm vị gia sư của mình thất vọng - Vâng hẳn vậy, chắc phải có một câu.

- Chắc thì chắc rồi - Ông De Treville có vẻ văn chương nói - Ông De Băngxơrát mới đọc cho ta hôm nào... Khoan đã... À, đây rồi! "Timeo Danaos et dona ferente(1), có nghĩa là: "Hãy coi chừng kẻ thù tặng quà cho anh".

- Nhưng chiếc nhẫn kim cương này đâu phải của kẻ thù, thưa ông - D Artagnan đáp - là của Hoàng hậu đấy chứ.

- Của Hoàng hậu? Ồ, ồ? - Ông De Treville nói - Quả vậy, đích thực là đồ nữ trang của hoàng gia đáng giá nghìn vàng. Thế Hoàng hậu sai ai chuyển món quà này cho anh?

- Đích thân Hoàng hậu trao cho tôi.

- Ở đâu?

- Trong căn phòng liền kề với căn phòng Hoàng hậu thay trang phục.

- Trao thế nào?

- Đưa tay cho tôi hôn.

- Anh được hôn tay Hoàng hậu? - Ông De Treville vừa nhìn D Artagnan vừa kêu lên.

- Hoàng hậu đã ban cho tôi đặc ân đó.

- Và trước mặt những người khác? Bất cẩn! Ba lần bất cẩn! Ba lần bất cẩn!

- Không, thưa ông, xin ông yên tâm, chắng ai trông thấy đâu.

Và D Artagnan kể cho ông Treville mọi việc diễn ra như thế nao.

- Ôi! Đàn bà! Đàn bà! - Người lính già kêu lên - Ta nhận ra ngay cái trí tưởng tượng lãng mạn của họ mà. Tất cả những gì cảm thấy bí ẩn là họ mê say ngay. Như thế là anh đã nhìn thấy cánh tay, chỉ có thế, anh được gặp Hoàng hậu, nhưng không thấy mặt Hoàng hậu, bà gặp anh nhưng không biết anh là ai.

- Không, nhưng nhờ chiếc nhẫn kim cương này...- Chàng trai trẻ tiếp tục.

- Nghe đây - Ông De Treville nói - anh có muốn tôi cho anh một lời khuyên, một lời khuyên tốt, một lời khuyên chí tình không?

- Rất hân hạnh, thưa ông. - D Artagnan nói.

- Được! Anh hãy đến ngay một chủ hiệu kim hoàn đầu tiên nào cũng được, bán cho hắn chiếc nhẫn kim cương này đi với giá hắn trả cho anh thế nào cũng bán, dù hắn có Do Thái đến đâu anh cũng sẽ được tám trăm đồng vàng. Tiền nó không có tên, anh bạn trẻ ạ, còn chiếc nhẫn này có một cái tên khủng khiếp và có thể phản bội lại kẻ đeo nó.

- Bán chiếc nhẫn ư! Chiếc nhẫn do bà chúa của tôi cho!

- Không bao giờ!- D Artagnan nói.

- Thì xoay mặt nó vào trong vậy, kẻ điên rồ tội nghiệp ạ, bởi người ta thừa biết một gã thiếu sinh quân Gátxcông không thể moi đâu ra thứ trang sức như thế trong bộ đồ tư trang của mẹ mình.

- Vâng, ông tin là tôi có điều gì cần e ngại ư? - D Artagnan hỏi.

- Nghĩa là, chàng trai trẻ ạ, kẻ nào đang ngủ thiếp đi trên một quả mìn đã bén ngòi, phải tự coi là an toàn so với anh đấy.

Giọng nói hoàn toàn đáng tin cậy của ông De Treville bắt đầu làm cho chàng lo lắng:

- Quỷ thật! Tôi phải làm gì nào?

- Luôn cảnh giác, và coi đó là trên tất cả. Giáo chủ có trí nhớ rất dai và bàn tay rất dài. Tin ta đi, thế nào ông ta cũng chơi lại anh một vố.

- Vố gì nào?

- Ồ, ta biết được vố gì! Chẳng phải dưới trướng ông ta không có đủ mọi mưu ma chước quỷ ư? Bét nhất cũng có thể là cho bắt anh?

- Thế nào? Dám bắt một người dưới trướng của Hoàng thượng?

- Mẹ kiếp! Dễ thường họ chùn tay với Athos đấy! Dẫu sao đi nữa, chàng trai ạ, hãy tin một người đã ba mươi năm nay ở triều đình, đừng có tự ru ngủ là mình an toàn, mà toi đấy. Hoàn toàn ngược lại, ta nói để anh hay, phải thấy đâu đâu cũng có kẻ thù cả. Nếu người ta kiếm cớ gây sự với anh, hãy tránh đi dù kẻ gây sự là đứa trẻ mười tuổi. Nếu người ta tấn công anh bất kể ngày hay đêm, hãy vừa đánh vừa lùi và đừng xấu hổ. Nếu anh đi qua một chiếc cầu, hãy thăm dò ván cầu, xem có tấm nào bị sụt dưới chân anh không. Nếu anh đi qua một ngôi nhà đang xây, hãy ngước nhìn lên tránh để một hòn đá nào choang đúng đầu anh. Nếu anh về nhà muộn, hãy cho người hầu đi theo và người hầu phải mang theo vũ khí, tuy nhiên anh phải hoàn toàn tin tưởng người hầu. Coi chừng tất cả mọi người, cả bạn bè, anh em, tình thân, nhất là tình nhân của anh.

D Artagnan đỏ mặt, lắp lại một cách máy móc.

- Cả tình nhân của tôi, nhưng tại sao đối với cô ta hơn người khác?

- Là vì tình nhân là một trong những biện pháp ưa thích của Giáo chủ, không có gì nhanh gọn hơn; một mụ đàn bà có thể bán anh lấy mười đồng vàng, bằng chứng là Đalila(2) đó. Anh biết Kinh thánh chứ?

D Artagnan bỗng nghĩ đến cuộc hẹn hò mà bà Bonacieux đã hẹn chàng tối nay. Nhưng chúng ta phải khen chàng là cái quan niệm lỗi thời về đàn bà nói chung của ông De Treville không làm chàng mảy may nghi ngờ bà chủ nhà xinh đẹp của mình.

- Nhưng tiện thể - Ông De Treville nói tiếp - Ba người đồng đội của anh ra sao rồi?

- Tôi cũng đang định hỏi ông xem ông có biết chút tin tức gì về họ không?

- Không một tin tức nào.

- Thế ạ! Còn tôi, tôi đã bỏ họ lại ở dọc đường. Porthos ở Săngtily đang sắp quyết đấu. Aramis ở Vỡ Rim với một viên đạn vào vai, và Athos ở Amiêng, bị buộc tội có tiền giả trong người.

- Anh thấy chưa? - Ông De Treville nói - Và anh làm thế nào thoát được?

- Tôi phải nói như có phép mầu ấy, thưa ông, bị đâm một mũi gươm vào ngực, tôi đóng đinh trả lại tay Bá tước De Wardes xuống con đường đi Cale như ghim một con bướm trên một tấm thảm.

- Thấy nữa chưa! De Wardes là một người của Giáo chủ, em họ của Rochefort. Này, anh bạn, ta nảy ra một ý.

- Xin cứ nói, thưa ông.

- Ở địa vị anh, ta sẽ làm một điều.

- Điều gì ạ?

- Trong khi Đức ông cho người đi lùng anh ở Paris, anh, phải chính anh, sẽ không kèn, không trống đi Picađy, tìm hiểu tin tức ba người bạn đồng đội của mình. Mẹ kiếp, họ đáng để anh quan tâm như thế lắm chứ.

- Lời khuyên quý giá, thưa ông, ngày mai tôi sẽ đi.

- Ngày mai? Tại sao không tối nay?

- Thưa tối nay tôi mắc ở Paris một công việc rất cần thiết.

- A, chàng trai? Chàng trai! Một mối tình nho nhỏ chứ gì? Cẩn thận đấy, ta xin nhắc lại với anh; chính đàn bà đã làm hại chúng ta, tất cả, chừng nào chúng ta còn tồn tại, và sẽ còn làm hại chúng ta, tất cả, chừng nào chúng ta còn sống sót. Tin ta đi. Đi ngay tối nay đi.

- Không thể được, thưa ông.

- Anh trót hứa rồi ư?

- Vâng, thưa ông.

- Ồ, thế thì lại là chuyện khác. Nhưng hứa với ta đi, nếu tối nay anh không bị giết, ngày mai anh sẽ đi.

- Tôi xin hứa.

- Có cần tiền không?

- Tôi còn năm mươi đồng vàng. Tôi nghĩ thế là tạm đủ.

- Nhưng còn các đồng đội của mình?

- Tôi nghĩ họ chắc cũng không thiếu. Chúng tôi ra khỏi Paris, mỗi người có bảy nhăm đồng vàng trong túi.

- Ta không cần gặp anh trước khi anh khởi hành chứ?

- Không, tôi nghĩ thế, thưa ông, trừ phi có tin gì mới.

- Thôi được, chúc lên đường may mắn.

- Xin cảm ơn ông.

Và D Artagnan xin phép cáo lui, cảm động hơn bao giờ hết về sự quan tâm đầy tình cha con với các ngự lâm quân của ông.

Chàng lần lượt qua nhà Athos, Porthos và Aramis chưa có ai trở về. Bọn người hầu của họ cũng vắng mặt, và chả có tin tức gì về người này hay người khác.

- Chắc sẽ biết tin tức của họ qua tình nhân của họ, nhưng chàng lại không biết của Porthos là ai, cũng chẳng biết của Aramis(3) còn Athos thì không có rồi.

Khi đi qua trước mặt dinh trại cận vệ, chàng liếc mắt nhìn vào chuồng ngựa: ba trong số bốn con ngựa đã trở về đấy rồi.

Planchet đang trải lông ngựa, và đã xong hai con, vô cùng sừng sốt khi thấy D Artagnan.

- A, ông đây rồi, tôi đang mong gặp ông!

- Tại sao vậy, Planchet?

- Ông có tin cái lão Bonacieux chủ nhà của chúng ta không?

- Tao hả? Không chút nào.

- Ồ! Thế là đúng, thưa ông.

- Nhưng tại sao mày lại hỏi thế?

- Là tại vì, trong khi ông chuyện trò với lão, tôi quan sát ông mà không nghe ông nói đâu, mặt lão biến sắc đến hai ba lần.

- Thế à!

- Ông chủ không nhận thấy vì ông còn bận nghĩ đến bức thư vừa nhận được, nhưng tôi, trái lại, vì cái cung cách lạ lùng bức thư đã vào tới nhà mình khiến tôi luôn cảnh giác, tôi không để sót một nét cử động nào trên mặt lão.

- Vì mi thấy mặt lão thế nào?

- Bộ mặt tráo trở, thưa ông.

- Đúng thế.

- Thêm nữa, ngay khi ông chủ vừa đi và khuất ở góc phố, lão Bonacieux cũng cầm mũ, đóng cửa và chạy về phía phố đối diện.

- Mi nói đúng, Planchet ạ, quả thật, ta thấy mọi cái đó hình như đều ám muội lắm. Nhưng yên tâm, chúng ta sẽ chỉ trả tiền thuê nhà cho lão khi nào chuyện này được giải thích rành mạch cho chúng ta.

- Ông chủ đùa rồi, nhưng rồi ông chủ sẽ thấy.

- Mi còn muốn gì, Planchet, cái gì phải đến sẽ đến.

- Ông chủ không bỏ cuộc dạo mát tối nay chứ?

- Hoàn toàn trái lại Planchet ạ, càng giận lão Bonacieux bao nhiêu, ta lại càng sẽ đến nơi bức thư khiến mi khá lo lắng ấy hẹn ta.

- Ờ, nếu đó đã là quyết định của ông chủ...

- Thì không gì lay chuyển được, anh bạn ạ. Cứ như thế nhé, đúng chín giờ mi sẵn sàng ở dinh trại, tao sẽ đến đón mày.

Planchet thấy không còn chút hy vọng nào làm cho ông chủ của mình từ bỏ dự định, liền thở dài và lại tiếp tục trải lông con ngựa thứ ba.

Còn D Artagnan về cơ bản vốn là một chàng Gátxcông rất cẩn trọng, đáng lẽ trở về nhà, chàng đến ăn trưa tại nhà ông linh mục người Gátxcông đã từng thết bữa điểm tâm cho cả bốn người bạn lúc họ đang trong lúc túng quẫn.

Chương 24

Nhà hóng gió

Lúc chín giờ D Artagnan đã có mặt ở dinh trại quân cận vệ.

Chàng thấy Planchet đã trang bị đầy đủ vũ khí, con ngựa thứ tư đã tới Planchet vũ trang bằng một súng trường và một súng ngắn.

D Artagnan đeo gươm và giắt hai khẩu súng ngắn ở đai lưng rồi cả hai lên ngựa, và lặng lB xa dần. Trời tối như bưng, không ai trông thấy họ đi ra, Planchet đi theo sau chủ mình cách xa chừng mười bước.

D Artagnan đi xuyên qua phố bờ sông, qua cửa ô Hội nghị ra khỏi thành phố rồi đi theo con đường thuở đó đẹp hơn bây giờ nhiều dẫn tới Saint-Clu.

- Còn trong thành phố, Planchet giữ nghiêm khoảng cách đã thiết lập, nhưng từ lúc con đường bắt đầu trở nên vắng vẻ và tối tăm hơn, hắn im lặng nhích lại gần. Bắt đầu vào rừng Bulônhơ, hắn đàng hoàng đi song song sát bên chủ. Quả thật những cây to rung rinh và ánh trăng rọi trong những lùm cây tối sẫm khiến hắn lo sợ. D Artagnan thấy ở người hầu có điều gì đó lạ thường, liền hỏi:

- Thế nào, ngài Planchet, chúng ta có chuyện gì vậy?

- Ông không thấy rừng cây giống như những nhà thờ ư?

- Sao lại thế, Planchet?

- Bởi vì người ta không dám nói to trong chỗ này cũng như trong những chỗ kia.

- Tại sao mi không dám nói to, Planchet mi sợ à?

- Vâng, sợ bị nghe thấy, thưa ông!

- Sợ bị nghe thấy! Nhưng Planchet thân mến, chuyện của chúng ta là chuyện đạo đức, có gì đáng chê đâu.

Planchet trở lại với ý nghĩ chủ chốt của mình, đáp:

- À, thưa ông, sao cái lão Bonacieux nó có đôi lông mày trông đến quỷ quyệt, còn đôi môi thì múa may phát tởm.

- Vì cái quỷ gì mà mi cứ nghĩ về lão Bonacieux như thế?

- Thưa ông, người ta nghĩ đến cái người ta có thể, chứ không nghĩ tới cái người ta muốn.

- Bởi vì mi là một thằng nhát, Planchet ạ.

- Thưa ông, đừng nhầm lẫn sự thận trọng với sự nhút nhát, sự thận trọng là một đức tính tốt.

- Và mi có đức tính tốt phải không Planchet?

- Thưa ông, chẳng phải cái nòng súng hỏa mai lấp lánh ở đâu đó chút nào sao? Chúng ta cúi thấp đầu xuống chăng?

D Artagnan chợt nhớ đến những lời dặn dò của ông De Treville liền lẩm nhẩm:

- Thực ra, cái quân súc sinh này cuối cùng cũng làm mình phát sợ.

Nghĩ vậy chàng liền cho ngựa phi nước kiệu.

Planchet cũng phi nước kiệu theo, đúng như một cái bóng của chàng.

- Chúng ta cứ đi như thế này suốt đêm ư, thưa ông?

- Không, Planchet ạ, vì riêng mi, mi đã tới nơi rồi.

- Sao cơ? Tôi tới nơi rồi? Còn ông chủ?

- Ta còn đi thêm ít bước nữa.

- Và ông chủ bỏ lại mình tôi ở đây?

- Mi sợ ư, Planchet?

- Không, nhưng tôi chỉ xin ông chủ lưu ý đêm sẽ rất lạnh và khí lạnh gây bệnh thấp khớp, và một tên hầu mắc bệnh thấp khởp sẽ là một tên đầy tớ đáng buồn, nhất là đối với một ông chủ hiếu động như ông?

- Ồ, nếu mi thấy lạnh, Planchet hãy ghé vào một cái quán nào đó ở kia kìa, và sáu giờ sáng mai đợi ta ở ngoài cửa.

- Thưa ông, tôi đã uống và ăn một cách thành kính hết cả đồng vàng sáng nay ông cho tôi, đến nỗi chẳng còn một xu chết tiệt nào trong trường hợp tôi thấy lạnh.

- Một đồng vàng nữa nữa đây. Mai nhé!

D Artagnan xuống ngựa, quàng dây cương vào cánh tay Planchet, và vừa khoác áo choàng vừa nhanh chóng rời xa.

- Trời ơi! Tôi rét quá! - Khi bóng chủ mình đã khuất, Planchet la lên, cuống quít mong được sưởi ấm, rồi vội vã đến gõ cửa một ngôi nhà, được bày biện theo đúng kiểu cách một tiểu quán ngoại ô.

Trong khi ấy D Artagnan rẽ vào một đường tắt tiếp tục đi đến Saint-Clu. Nhưng đáng lẽ đi theo phố lớn, chàng lại rẽ vào đằng sau một tòa lâu đài, đi vào một phố hẻm rất rộng và đã ở ngay trước mặt ngôi nhà hóng gió đã ấn định. Ngôi nhà ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ. Một bức tường lớn, mà góc tường là ngôi nhà đó, chiếm hẳn một bên của phố hẻm, mặt phố bên kia, là một hàng rào ngăn người qua lại vào một khu vườn nhỏ, cuối vườn một túp lều xơ xác.

Chàng đã tới chỗ hẹn, và vì nàng không nói trong thư đến nơi thì báo bằng tín hiệu nào, nên đành chờ.

- Không nghe thấy một tiếng động nhỏ, tưởng như đang ở cách xa kinh thành đến trăm dặm rồi. D Artagnan dựa lưng vào bờ rào sau khi đã đưa mắt nhìn phía sau. Ra khỏi hàng rào, khu vườn và túp lều ấy, một mà sương mù ảm đạm từng lớp, từng lớp bao phủ cả một vùng bao la, trong đó Paris trống rỗng, há hốc mồm ra ngủ, cái bao la trong đó nhấp nháy vài điểm sáng, mấy ngôi sao thê lương của địa ngục này.

Nhưng đối với D Artagnan, mọi cảnh tượng đều khoác một dáng vẻ vui tươi, mọi ý nghĩ đều mang một nụ cười, mọi bóng đêm đều trong suốt. Giờ hẹn sắp điểm rồi.

Quả vậy, chỉ trong vòng mấy giây, cái mõm rộng của tháp chuông nhà thờ Saint-Clu đã gầm lên và từ từ buông ra mười tiếng.

- Có một cái gì đó nghe đượm màu tang tóc trong cái giọng đồng thau đang than thở như thế giữa đêm trường.

Nhưng mỗi tiếng buông ra hợp thành cái giờ hẹn đó lại rung lên êm ái trong trái tim chàng trai trẻ.

Đôi mắt chàng đăm đàm nhìn lên ngôi nhà nhỏ hóng gió ở góc tường bao mà các cửa sổ đều đóng kín, trừ chiếc cửa sổ duy nhất trên tầng một.

Qua chiếc cửa sổ đó, một vùng ánh sáng dịu dàng như trăng bạc lên những vòm lá run rẩy của vài ba cây thanh quất nhô lên thành từng cụm ở ngoài vườn. Hiển nhiên là đằng sau chiếc cửa sổ nhỏ, được chiếu sáng rất duyên dáng ấy, bà Bonacieux xinh đẹp đang đợi chàng.

Như được ru trong ý nghĩ dịu ngọt ấy, D Artagnan vẫn đứng đợi tại chỗ nửa giờ đồng hồ không chút sốt ruột, mắt vẫn đăm đăm nhìn lên cái lầu ngắm cảnh nhỏ bé mê hồn đó mà chàng cũng thấy được một mảng trần nhà có những gờ chỉ mạ nhũ vàng, chứng tỏ vẻ hào hoa của phần còn lại của căn phòng.

Gác chuông nhà thờ Saint-Clu điểm mười giờ rưỡi. Lần này không hiểu vì sao, chàng bất giác rùng mình. Cũng có thể chàng bắt đầu thấm lạnh, và thật ra chỉ là một cảm giác hoàn toàn thể chất và chàng lại xem là ấn tượng tinh thần.

Rồi chàng lại nghĩ hay mình đã đọc sai, chứ giờ hẹn là mười một giờ kia.

Chàng lại gần cửa sổ, đứng vào chỗ có ánh sáng chiếu ra, rút bức thư của nàng ra đọc lại thấy mình không hề nhầm, giờ hẹn rõ ràng là mười giờ.

Chàng trở lại chỗ cũ, bắt đầu hơi lo lắng về sự im ắng và quạnh quẽ này.

Chuông điểm mười một giờ.

D Artagnan bắt đầu lo sợ thực sự đã xảy ra điều gì với bà Bonacieux.

Chàng vỗ tay ba tiếng, tín hiệu thông thường của các cặp tình nhân, nhưng không có ai đáp lại, không cả tiếng vọng.

Thế là chàng giận dỗi nghĩ rằng có thể thiếu phụ đã ngủ quên trong khi đợi chàng.

Chàng lại gần bức tường và cố treo lên, nhưng bức tường mới trát, trơn quá. D Artagnan không bám móng tay được.

Lúc ấy chàng liền ngắm mấy cái cây mà ánh sáng tiếp tục dát bạc lên các khóm lá và một trong những cây ấy lại ngả ra đường, chàng nghĩ nếu ở giữa đám cành cây ấy chàng có thể nhìn xuyên thấu vào trong ngôi nhà hóng gió.

Cái cây dễ trèo. Hơn nữa, D Artagnan chưa đầy hai mươi tuổi, do đó chưa quên thói học trò. Thoát một cái, chàng đã ở giữa đám cành lá, và qua những ô kính cửa sổ trong suốt, chàng phóng mắt sâu vào tận bên trong ngôi nhà.

Một chuyện lạ lùng khiến D Artagnan rợn người từ gan bàn chân lên đến tận chân tóc. Cái ánh sáng dịu dàng kia, cái cây đèn vô tình kia đang chiếu rõ một cảnh tượng hỗn độn hãi hùng, một ô kính cửa bị vỡ, cửa phòng bị đạp tung, gần gẫy, treo trên bản lề, một cái bàn chắc đã được bày một bữa tối sang trọng nằm lăn ra đất, bình lọ vỡ tan, quả cây bị giẫm nát vung vãi trên sàn nhà, mọi cái đều chứng tỏ một cuộc vật lộn quyết liệt và tuyệt vọng trong căn phòng này. D Artagnan còn tin rằng đã nhận ra giữa cái đống hổ lốn lạ lùng ấy những mảnh quần áo và mấy vết máu hoen trên khăn trải bàn và rèm cửa nữa.

Chàng vội vàng trèo xuống đường phố, tim đập khủng khiếp, muốn tìm xem có dấu vết bạo lực nào khác không.

Ánh sáng yếu ớt, êm dịu kia vẫn luôn nhấp nháy trong sự tĩnh lặng của ban đêm. Lúc bấy giờ D Artagnan mới nhận thấy điều mà thoạt đầu chàng không để ý, bởi chẳng có gì đáng khiến chàng để ý, là nền đất nện bằng ở đây, chỗ kia lại lỗ chỗ, in dấu chân người và ngựa. Ngoài ra, vết bánh xe, hình như từ Paris đến cũng đã cầy đấy nhão lên một vết hằn sâu, dài không quá tầm cao của ngôi nhà hóng gió và quay hướng về Paris.

Cuối cùng, trong khi tiếp tục tìm kiếm, D Artagnan thấy gần bức tường một chiếc găng tay phụ nữ bị rách. Tuy nhiên chiếc găng đó, ở những phần chưa dính bùn, trông vẫn mới không chê vào đâu được. Đó là một chiếc găng sức nước hoa thơm phức mà các tình lang thích rút ra khỏi một bàn tay xinh đẹp.

D Artagnan càng tiếp tục dò tìm, mồ hôi càng vã ra, càng giá lạnh, long lanh trên trán, tim chàng càng thắt lại bởi một nỗi lo âu khủng khiếp, hơi thở càng hổn hển, tuy nhiên để tự an tủi, chàng tự nhủ, cái nhà hóng gió này có lẽ chả liên quan gì với bà Bonacieux, vì người đàn bà ấy, hẹn chàng ở trước mặt ngôi nhà, chứ đâu phải trong ngôi nhà đó, có khi nàng bị giữ lại ở Paris vì công việc, cũng có thể vì chồng ghen.

Nhưng mọi lý lẽ ấy đều bị công kích dữ dội, bị hủy diệt, bị lật nhào bởi cái cảm giác đau đớn trong nội tâm, trong một số trường hợp nó xâm chiếm toàn bộ con người chúng ta, và gào lên với chúng ta, bởi tất cả những gì trời phú cho chúng ta thấu hiểu, rằng một tai họa lớn đang lượn lờ trên đầu chúng ta.

Thế là, D Artagnan trở nên như điên dại, chàng chạy phứa ra con đường lớn, rồi theo lối đã đi lúc trước, tiến về phía bến đò hỏi người chở đò.

Người chở đò nói khoảng bẩy giờ tối có chở qua sông một người đàn bà mặc áo choàng đen có vẻ hết sức giữ gìn tránh không để ai nhận ra mình, nhưng cũng chính do quá giữ gìn nên người chở đò lại càng để ý và nhận ra người đàn bà ấy rất đẹp và đẹp.

Thời đó, cũng như ngày nay, có hàng đống đàn bà trẻ và đẹp đi đến Saint-Clu và cũng giữ không để bị lộ diện. Tuy nhiên D Artagnan không còn hồ nghi gì nữa rằng đó chính là bà Bonacieux.

Nhân có ánh đèn trong lều người lái đò, D Artagnan đọc lại bức thư của bà Bonacieux yên tâm rằng mình đã không nhầm, nơi hẹn đúng là ở Saint-Clu chứ không ở đâu khác, và trước ngôi nhà hóng gió của ông De Etxtrê chứ không phải ở phố khác.

Tất cả đều quy tụ lại để chứng minh cho D Artagnan thấy những dự cảm của chàng đã không lừa chàng và một bất hạnh lớn đã xảy đến.

Chàng vừa đi vừa chạy trên con đường trở về ngôi nhà hóng gió. Chàng thấy hình như trong lúc chàng vắng mặt, đã có thêm điều gì mới có thể đã xảy ra ở ngôi nhà hóng gió và những tin tức đang đợi chàng ở đó.

Phố hẻm vẫn vắng tanh và vẫn thứ ánh sáng mờ mờ êm dịu vô tình tỏa ra ngoài cửa sổ.

D Artagnan bỗng nghĩ đến căn lều tuy lụp xụp im lìm và tối tăm kia nhưng biết dâu lại thấy hết và có thể nói ra hết mọi điều chăng.

Cửa hàng rào đóng kín, chàng đành nhảy qua và mặc cho con chó bị xích sủa vang, chàng vẫn cứ đến gần túp lều.

Chàng gõ cửa, lúc đầu không ai trả lời. Một sự im lặng chết chóc ngự trự trong căn lều cũng như trong ngôi nhà hóng gió.

- Tuy nhiên, túp lều là nguồn thông tin cuối cùng rồi, chàng đành cứ gõ.

Rồi hình như có tiếng động nhẹ bên trong, một thứ tiếng động sợ sệt như thể run rẩy do sợ bị nghe thấy.

Thế là D Artagnan thôi không gố nữa và nãn nỉ, van nài, giọng đầy lo âu và hứa hẹn, đầy hãi hùng và ve vãn, khiến cho tiếng nói của chàng tự nhiên lại làm yên tâm được kẻ dễ sợ sệt nhất. Cuối cùng thì một cánh cửa sổ cũ mọt cũng mở ra, đúng hơn là chỉ hé mở rồi lại đóng lại ngay khi ánh sáng của một chiếc đèn tồi tàn đang cháy ở góc lều chiếu lên dải đeo gươm, chuôi gươm và chuôi súng ngắn của D Artagnan, Trong khi đó D Artagnan vẫn kịp nhận ra mặt một ông lão, dù cho cửa đập lại rất nhanh.

- Có Chúa chứng giám! - Chàng nói - Xin hãy nghe cháu. Cháu đợi một người mà không thấy tới, cháu đang lo đến chết đây. Đã có chuyện gì không may xảy ra ở quanh đây ư? Cụ nói đi!

Chiếc cửa sổ lại từ từ mở ra, và vẫn bộ mặt ấy hiện ra, chỉ có điều nó còn nhợt nhạt hơn cả lần trước.

D Artagnan hồn nhiên kể lại chuyện của mình, thay đổi tên người đôi chút. Chàng nói có một cuộc hẹn hò với một thiếu phụ trước ngôi nhà hóng gió như thế nào, và không thấy nàng đến ra sao, chàng trèo lên cây thanh quất và qua ánh đèn nhợt nhạt đã thấy sự rối loạn trong căn phòng thế nào.

Ông lão chám chú lắng nghe, chốc chốc lại tỏ ý đúng như vậy Rồi khi D Artagnan đã nói xong, ông lão lắc đầu tỏ ý ái ngại.

- Cụ muốn nói sao? - D Artagnan kêu lên - Trời ơi, cụ nói rõ ra cho cháu nghe nào.

- Ồ, ông ơi! - Cụ già nói - Đừng hỏi gì tôi cả, bởi vì nếu tôi nói với ông những gì tôi đã thấy chắc chắn sẽ xảy ra những điều không hay cho tôi.

- Vậy chắc cụ đã trông thấy chuyện gì đó rồi? - D Artagnan vừa nói tiếp vừa ném cho ông cụ một đồng vàng - Trong trường hợp ấy, có Chúa nhìn thấy gì, và cháu xin lấy danh dự của một nhà quý tộc ra thề không một lời nào của cụ hé ra khỏi miệng cháu.

Ông cụ đọc thấy trên mặt D Artagnan biết bao vẻ thực thà và đau đớn, liền ra hiệu cho chàng hãy chú ý nghe rồi nói khẽ:

"Lúc đó khoảng gần chín giờ, tôi nghe thấy có tiếng động gì đó ở ngoài phố và tôi định ra xem xảy ra chuyện gì thì ra gần đến cửa, tôi thấy người ta đang tìm cách vào nhà tôi. Tôi vốn nghèo chả sợ ai trộm cắp đang định mở cổng thì thấy ba người cách đó mấy bước. Trong bóng tối có một cỗ xe thắng ngựa và mấy con ngựa dắt. Mấy con ngựa dắt hiển nhiên là của ba người đàn ông ăn mặc theo lối kỵ sĩ rồi. Tôi kêu lên:

- A! Các quý ông? Các quý ông muốn hỏi gì?

- Ngươi hẳn có một cái thang chứ? - Người có vẻ đứng đầu nhóm hộ tống hỏi tôi.

- Vâng, thưa ông, có một chiếc tôi vẫn trèo để hái quả.

- Đưa đây cho chúng ta, rồi lui vào trong nhà, đây là một đồng vàng vì chúng ta đã quấy quả ngươi. Và nhớ nếu ngươi chỉ nói ra một câu thôi những gì ngươi sắp trông thấy và nghe thấy bởi ngươi sẽ nhìn và sẽ chú ý nghe, ta tin chắc là như thế, dù chúng ta đã hăm dọa ngươi, ngươi sẽ toi mạng.

Nói rồi, hắn ta vứt cho tôi đồng tiền, tôi nhặt lấy và hắn mang thang đi!

Quả nhiên, sau khi đã đóng cổng hàng rào, tôi làm như trở vào nhà nhưng tôi lại ra ngay bằng lối cửa sau, luồn trong bóng tối tới tận lùm cây mộc hương, ở giữa lùm cây ấy, tôi có thể nhìn thấy hết mà không ai biết.

Ba người đó cho cỗ xe tiến về phía trước không một tiếng động, và lôi ra khỏi xe một người đàn ông lùn tịt, to ngang, tóc hoa râm, ăn mặc xuềnh xoàng, quần áo màu tối sẫm, người này thận trọng trèo lên thang, nham hiểm nhìn vào trong căn phòng rồi lại lén lút tụt xuống và nói nhỏ:

- Đúng ả ta!

Người đã nói chuyện với tôi lập tức đến gần cửa ngôi nhà hóng gió, dùng chiếc chìa khóa mang theo mở ra, đóng lại rồi biến mất. Cùng lúc đó hai người kia trèo lên thang. Lão già thấp bé đứng ở cửa xe, người đánh xe vẫn kìm mấy con ngựa thắng vào xe, và một tên hầu giữ mấy con ngựa cưỡi.

Bất thình lình những tiếng kêu thét vang lên trong ngôi nhà hóng gió, một người đàn bà chạy tới định mở cửa sổ nhào xuống.

Nhưng vừa thấy hai người đàn ông, bà ta nhảy lùi lại đằng sau, hai người đàn ông kia lao qua cửa sổ đuổi theo bà ta trong căn phòng.

Thế rồi chẳng nhìn thấy gì nữa. Nhưng tôi nghe thấy tiếng đồ đạc bị đập gãy. Người đàn bà kêu cứu. Nhưng những tiếng kêu bị dập tắt ngay, ba người đàn ông lại gần cửa sổ, khênh bà ta trên cánh tay, hai người xuống thang và chuyển bà ta vào trong xe, và lão già sau đó cũng chui vào. Tên còn lại trong ngôi nhà hóng gió đóng cửa sổ lại, một lát sau theo lối cửa ra khỏi nhà, kiểm tra xem người đàn bà đã chắc chắn ở trong xe chưa.

Hai tên đồng bọn đã lên ngựa đợi hắn, đến lượt hắn cũng nhảy lên yên, tên hầu lên ngồi cạnh người đánh xe, cỗ xe được ba kỵ sĩ hộ tống xa dần theo bước ngựa phi nước đại, và thế là hết. Từ lúc đó, tôi không còn trông thấy, nghe thấy gì hết".

D Artagnan điếng người vì cái tin khủng khiếp đó, đứng lặng câm đi, trong khi đó tất cả những con quỷ giận dữ và ghen tuông gào thét trong lòng chàng. Nỗi thất vọng lặng câm đó hẳn đã tác dụng đến ông lão nhiều hơn nước tiếng kêu rên và nước mắt, khiến ông bảo chàng:

- Nhưng ông quý tộc này, thôi đi, đừng buồn phiền, chúng không giết mất người đàn bà của ông, đấy mới là điều cốt yếu.

D Artagnan liền hỏi:

- Cụ có biết tí chút nào cái kẻ đã điều khiển cái cuộc viễn chinh âm ty địa ngục này không?

- Tôi chả biết gì về hắn.

- Nhưng một khi hắn đã nói với cụ thì cụ cũng nhìn thấy hắn chứ?

- À, ông muốn hỏi lão về đặc điểm của hắn chứ gì?

- Vâng.

- Một kẻ rắn sắt lại, da ngăm nâu, ria mép đen, mắt đen, dáng vẻ một nhà quý tộc.

- Đúng nó rồi? - D Artagnan kêu lên - Vẫn lại nó! Luôn luôn nó. Hình như nó là con quỷ ám của tôi! Còn tên kia?

- Tên nào?

- Tên lùn tịt ấy.

- Ồ, tôi đảm bảo hắn không thuộc loại quyền quý. Vả lại, hắn không đeo gươm, những kẻ khác đối xử với hắn có vẻ khinh thường lắm.

- Chắc một tên hầu nào đó - D Artagnan lẩm nhẩm - Ôi người phụ nữ tội nghiệp! Tội nghiệp cho nàng. Chúng nó đã làm gì nàng?

- Ông đã hứa giữ kín cho tôi đấy nhé - Ông già nói.

- Và cháu xin hứa lại với cụ lần nữa. Cụ yên tâm. Cháu là một nhà quý tộc. Một nhà quý tộc chỉ có một lời hứa và cháu đã hứa với cụ rồi.

D Artagnan, lòng sầu não, trở lại con đường ra bến đò, lúc thì chàng không thể tin nổi đấy là bà Bonacieux và hy vọng hôm sau sẽ gặp lại nàng ở điện Louvre, lúc chàng lại e ngại nàng có chuyện dan díu với một người nào khác và tên ghen tuông ấy đã bắt quả tang và đem nàng đi(1), chàng phân vân, chàng rầu rĩ, chàng tuyệt vọng.

- Ôi, giá ta có các bạn ta ở đấy! chàng kêu lên - Ít nhất ta cũng sẽ có hy vọng tìm lại được nàng nhưng ai biết được bây giờ chính họ ra sao?

Đã gần nửa đêm. Phải tìm gặp lại Planchet thôi. D Artagnan lần lượt gõ cửa tất cả các quán rượu mà chàng thấy còn ánh đèn le lói ở bên trong nhưng chẳng quán nào thấy Planchet cả.

Đến quán thứ sáu, chàng bắt đầu nghĩ tìm kiếm thế này chẳng qua cũng chỉ cầu may thôi. D Artagnan chỉ hẹn với người hầu đến sáu giờ sáng mai, thì dù lúc này nó ở đâu đi nữa vẫn là quyền của nó.

Hơn nữa, chàng chợt nảy ra ý nghĩ, cứ nán lại quanh quẩn nơi sự cố xảy ra, có khi lại thu thêm được một điều gì đó làm sáng tỏ thêm cái vụ bí ẩn này. Thế là chàng dừng lại ở quán thứ sáu, gọi một chai vang thượng hạng, dựa tay trong góc tối nhất và quyết định ngồi đợi như thế đến sáng hôm sau, nhưng lần này nữa chàng lại hy vọng hão huyền và cho dù có hết sức lắng tai, chàng cũng chỉ nghe thấy giữa những tiếng nguyền rủa là những lời nhạo báng, chửi bới, lời qua tiếng lại giữa đám thợ chuyển, người hầu và phu xe hợp thành cái xã hội đáng kính mà chàng đang tham gia này, chứ chẳng có gì có thể giúp chàng lần ra dấu vết người đàn bà tội nghiệp bị bắt cóc.

Sau khi đã nốc hết chai vang do chẳng có việc gì làm và để khỏi dấy lên những nghi ngờ, chàng đành miễn cưỡng tìm trong góc mình ngồi, một tư thế thuận lợi nhất để ngủ thiếp đi đã, muốn ra sao thì ra.

D Artagnan mới hai mươi tuổi, và ở cái tuổi ấy, giấc ngủ có những quyền vĩnh cửu để đòi hỏi một cách khẩn thiết cả đối với những con tim tuyệt vọng nhất.

Khoảng sáu giờ sáng, D Artagnan thức dậy với một nỗi khó chịu thường thấy lúc sáng sớm sau một đêm tồi tệ. Chàng rửa ráy qua loa, kiểm tra xem người ta có lợi dụng chàng ngủ lấy cắp mất gì không, và thấy chiếc nhẫn kim cương vẫn trên ngón tay, ví tiền vẫn nguyên trong túi, súng ngắn vẫn ở đai lưng, liền đứng lên trả tiền chai rượu rồi đi ra để xem sáng nay việc tìm kiếm tên hầu của mình có may mắn hơn đêm qua không. Quả nhiên, thứ đầu tiên chàng trông thấy trong màu sương ẩm ướt và nhờ xám chính là tên Planchet thật thà, tay dắt hai con ngựa, đang đợi chàng ở ngoài cửa một quán rượu nhỏ tồi tàn mà giá D Artagnan có đi qua trước cửa cũng không ngờ nó đang tồn tại.

Chương 25

Porthos.

Đáng lẽ về thẳng nhà D Artagnan lại xuống ngựa trước cửa nhà ông De Treville, leo vội lên cầu thang, lần này, chàng quyết định kể cho ông nghe tất cả những gì vừa diễn ra. Chắc chắn, ông sẽ cho chàng những lời khuyên tốt trong toàn bộ vụ này.

Rồi, vì ông De Treville hầu như gặp Hoàng hậu hàng ngày, biết đâu ông lại chẳng thể moi được ở Hoàng hậu tin tức nào đấy về người đàn bà tội nghiệp mà nữ chúa của nàng hẳn phải đền đáp lòng tận tụy của nàng với mình.

Ông De Treville lắng nghe câu chuyện chàng trai kể với mức độ nghiêm trọng chứng tỏ ông nhìn thấy một cái gì khác với chuyện dan díu yêu đương, trong toàn bộ cuộc phiêu lưu này.

Rồi khi, D Artagnan đã kể xong, ông nói:

- Hừm, tất cả chuyện này, cách xa một dặm cũng đã ngửi thấy mùi của Giáo chủ.

- Nhưng phải làm gì? - D Artagnan hỏi.

- Không làm gì hết, tuyệt đối không, lúc này, chỉ có rời khỏi Paris như ta đã bảo anh đó, càng sớm càng tốt. Ta sẽ gặp Hoàng hậu, ta sẽ kể lại mọi tình tiết về sự biến mất của người phụ nữ tội nghiêp, chắc bà còn chưa biết gì, những tình tiết ấy sẽ dẫn dắt bà phải làm gì về phía bà, và khi anh trở về, có thể ta sẽ có một tin tốt lành nào đó để nói với anh. Cứ yên tâm ở ta.

D Artagnan biết rằng, dù là dân Gátxcông, ông De Treville không có thói quen hứa hẹn và khi tình cờ ông đã hứa, thì ông còn giữ lời hứa hơn đã ngỏ. Chàng liền chào ông, đầy lòng biết ơn cả trong quá khứ lẫn với tương lai, và ông đại úy đáng kính về phần mình cũng cảm thấy một mối thiện cảm mãnh liệt đối với chàng trai đến là can trường và kiên định, và trìu mến bắt tay chúc chàng lên đường may mắn.

D Artagnan quyết định thực hiện ngay lúc này những lời khuyên của ông De Treville, rẽ về đường Phu đào huyệt, lo việc gói ghém quần áo. Về tới gần nhà, chàng nhận ra lão Bonacieux trong quần áo buổi sáng, đang đứng ở ngưỡng cửa. Tất cả những gì mà gã Planchet cẩn tắc đã nói với chàng đêm trước về tính tình nham hiểm của lão chủ nhà lúc này lại hiện ra trong đầu. D Artagnan đang nhìn lão chăm chú hơn bao giờ hết. Thật quả, ngoài cái màu nhợt nhạt vàng nhờ bệnh hoạn chỉ rõ mật thấm tràn trong máu, mà cũng có thể chỉ là ngẫu nhiên, D Artagnan còn nhận ra một cái gì đó tráo trở nham hiển nơi những nếp nhăn trên mặt lão. Một tên bịp bợm không cười giống như một người thật thà, một kẻ đạo đức giả không khóc bằng những giọt nước mắt của người trung thực. Mọi giả tạo đều là một cái mặt nạ, và cho dù cái mặt nạ có làm khéo đến đâu, chỉ cần hơi chú ý, người ta vẫn phân biệt được với mặt thật.

Với D Artagnan, hình như lão có đeo một cái mặt nạ thật và lại là cái mặt nạ khó coi nhất. Do đó, không thoát ra khỏi sự ghê tởm đối với con người đó, chàng đang định đi qua trước mặt mà không nói gì, thì giống như đêm trước, lão Bonacieux gọi chàng:

- Ê này, chàng trai trẻ - lão nói với chàng - Hình như đêm qua chúng ta ngủ mòng mắt? Bẩy giờ sáng rồi, khỉ thật! Tôi thấy hình như ông hơi đảo lộn những thói quen cũ, ông trở về nhà vào lúc người khác ra đi.

- Ngài Bonacieux ạ, người ta sẽ không thể trách ngài như vậy - chàng trai nói - vì ngài là mẫu mực cho những con người nền nếp mà. Đúng là khi người ta có một cô vợ trẻ đẹp, người ta cần gì phải tìm hạnh phúc ở đâu. Chính hạnh phúc tự khắc nó tìm đến mình có phải không ngài Bonacieux?

Bonacieux tái người đi như một xác chết, nhăn nhó cười:

- Chà, chà! Ông là một tay vui tính đấy. Nhưng đêm vừa rồi ông chạy nhông đi đâu thế, hở chú mình? Hình như đi ngang về tắt là không hay đâu đấy.

D Artagnan cúi xuống nhìn đôi ủng đầy bùn của mình, nhưng đồng thời cũng nhìn luôn giầy tất lão hàng xén. Có thể nói chúng cùng chung một giuộc, của chàng và của lão đều vấy bẩn cùng một thứ bùn.

Thế là đột nhiên một ý nghĩ đi xuyên qua đầu chàng. Cái lão tóc hoa râm lùn tịt, to bè, một loại người hầu, mặc sẫm màu, bị bọn đeo gươm đi hộ tống đối xử miệt thị đích thực là Bonacieux chứ còn ai nữa. Tên chồng đã chủ mưu việc bắt cóc vợ mình.

D Artagnan tự nhiên thèm muốn khủng khiếp nhảy chồm lên cổ họng lão hàng xén bóp hắn chết ngay, nhưng, như đã nói, chàng là một chàng trai rất thận trọng nên kìm giữ được. Tuy nhiên sự đảo lộn diễn ra trên mặt chàng vẫn cứ lồ lộ khiến Bonacieux hoảng và định thử lùi lại, nhưng lão lại ở ngay trước cửa mà cánh cửa lại đóng, khiến lão buộc phải đứng nguyên tại chỗ.

- Ra thế đấy. Nhưng con người tử tế ạ, ông lại đùa rồi - D Artagnan nói - Tôi thấy hình như nếu đôi ủng của tôi cần phải lau chùi thì giầy, tất của ông cũng đòi bàn chải giúp đấy. Về phần mình, chắc ngài cũng lang thang phải không ngài Bonacieux? Chà, Mẹ kiếp! Như thế thì không thể nào tha thứ cho một người ở vào lứa tuổi ông, thêm nữa lại có một người vợ trẻ đẹp như vợ ông.

- Ôi, lạy Chúa, không phải thế - Bonacieux nói - mà hôm qua tôi đã ở Thánh Măngđê để nắm được tin tức về một con ở, không có nó tuyệt đối không được, và vì đường sá quá tồi, nên tôi đã tha cả đám bùn này về mà chưa có thì giờ làm sạch.

Địa điểm mà Bonacieux chỉ ra là lão đã đi đến đấy, lại là bằng chứng mới làm cho những nghi ngờ của D Artagnan thêm vững vàng. Bonacieux nói đến Thánh Măngđê, bởi vì Thánh Măngđê ngược lại hoàn toàn phía Saint-Clu.

Khả năng xảy ra như thế làm chàng vơi dịu đi một phần. Nếu Bonacieux biết vợ mình hiện đang ở đâu vẫn có thể dùng những biện pháp cực đoan cậy răng lão hàng xén để tìm ra bí mật. Chỉ còn việc biến khả năng đó thành tất yếu.

- Xin lỗi, ông Bonacieux thân mến, nếu tôi xử sự với ông hơi khiếm nhã - D Artagnan nói - nhưng không gì khát bằng đêm không được ngủ, tôi đang khát phát điên đây, vậy cho phép tôi vào uống cốc nước trong nhà ông nhé, ông cũng rõ, giữa hàng xóm với nhau, việc đó cũng tự nhiên thôi.

Và chẳng đợi chủ nhà cho phép, D Artagnan cứ vào và liếc mắt nhanh nhìn cái giường, cái giường vẫn phẳng phiu.

Bonacieux không nằm ngủ, vậy là lão chỉ vừa mới về nhà được một hai giờ thôi. Lão đã bám theo vợ lão đến tận nơi người ta dẫn vợ lão đến, hoặc ít nhất cũng đến trạm đầu tiên.

D Artagnan vừa uống cạn cốc nước vừa nói:

- Cám ơn ngài Bonacieux nhé. Tôi chỉ cần ở ông có thế thôi. Bây giờ tôi về nhà tôi đây. Tôi sẽ bảo Planchet đánh ủng cho tôi, khi nào nó làm xong, nếu ông muốn, tôi sẽ sai nó sang đánh giầy cho ông.

Và chàng rời nhà tay hàng xén còn đang hết sức ngỡ ngàng về sự chia tay kỳ lạ đó và tự hỏi có phải đã đâm đầu vào bẫy của chính mình không.

Lên đến trên thang gác, chàng thấy Planchet đang hốt hoảng. Thoạt trông thấy chủ mình, gã đã kêu lên:

- Ôi, ông chủ, lại có chuyện rồi, mà tôi thấy ông về muộn quá đấy?

- Có chuyện gì vậy - D Artagnan hỏi.

- Ồ, tôi cho ông chủ đoán một trăm, không, cho hẳn một nghìn lần đấy xem tôi đã thay ông khi vắng mặt tiếp ai đến thăm nào?

- Khi nào?

Nửa giờ trước đây, khi ông còn ở nhà ông De Treville ấy.

- Vậy là ai đến, thôi nói đi nào.

- Ông De Cavoa.

- Ông De Cavoa ư?

- Đích thân ông ấy.

- Ông đại úy cận vệ của Đức ông?

- Chính ông ấy.

- Đến bắt ta?

- Tôi nghĩ vậy, thưa ông, mặc dầu vẻ mềm mỏng của ông ta.

- Mi bảo lão ta mềm mỏng?

- Nghĩa là như mật ong luôn, thưa ông.

- Đúng thế chứ?

- Ông ta nói mình đến là do Đức Giáo chủ phái đến, có nhã ý mời ông theo ông ta đến Hoàng cung.

- Thế mi trả lời thế nào?

- Là việc ấy không thể được, vì ông có ở nhà đâu, ông ta có thể thấy đấy.

- Thế lão ta bảo sao?

- Rằng, nội nhật hôm nay, ông đừng quên đến nhà ông ấy, rồi còn ghé tai nói thêm: "Bảo với chủ anh là Đức ông hoàn toàn biệt đãi chủ anh, tương lai tốt đẹp của chủ anh có lẽ phụ thuộc vào cuộc tiếp kiến này".

- Cái bẫy của Giáo chủ hơi vụng về. - Chàng mỉm cười nói.

- Thì tôi cũng thấy đó là cái bẫy chứ, và tôi trả lời khi ông trở về chắc ông sẽ tiếc lắm. "Thế ông ấy đi đâu?" ông De Cavoa hỏi tôi. Tôi trả lời: "Đi Troa vùng Sămpanhơ", "Ông ấy đi bao giờ? " "Tối hôm qua".

- Planchet, anh bạn của ta - D Artagnan ngắt lời - mi thực sự là của quý của ta đấy.

- Ông biết không, tôi nghĩ nếu ông muốn gặp ông De Cavoa ông cứ việc bảo rằng ông chẳng đi đâu cả, rằng tôi nói dối đấy thôi, vẫn còn kịp chán, vì tôi không phải là nhà quý tộc, tôi có thể nói dối mà.

- Yên tâm đi, Planchet, mi sẽ giữ được danh tiếng một con người chính trực. Mười lăm phút nữa chúng ta sẽ đi.

- Tôi cũng đang định khuyên ông chủ như vậy. Nhưng ta đi đâu tôi không quá tò mò đấy chứ?

- Mẹ kiếp! Cứ đi ngược lại phía mi nói ta đã đi ấy. Vả lại, chắc mi không kém sốt ruột biết tin về Mousqueton, Grimaud và Bazin như ta muốn biết xem Athos, Porthos và Aramis ra sao chứ?

- Muốn quá chứ - Planchet nói. - Ông muốn lúc nào là tôi đi ngay. Không khí ở tỉnh nhỏ tôi tin là tốt hơn cho chúng ta ở Paris. Vậy nên...

- Vậy thì, gói ghém áo quần đi, Planchet và ta đi. Ta sẽ đi trước, hai tay đút túi, để đừng ai nghi ngờ. Mi sẽ đuổi kịp ta ở dinh trại cận vệ. À, Planchet này, ta tin mi nói đúng về lão chủ nhà đấy, chắc hẳn lão là một tên vô lại kinh tởm rồi.

- Ồ, xin ông chủ cứ tin tôi, khi tôi nói với ông điều gì, tôi là thầy tướng đấy.

D Artagnan xuống trước như đã thỏa thuận, và để khỏi phải băn khoăn điều gì, chàng rẽ tới nhà ba bạn mình lần cuối nhưng cũng chẳng nhận được tin gì. Chỉ có mỗi một bức thư thơm nức và chữ viết rất nhỏ và bay bướm gửi cho Aramis. D Artagnan nhận chuyển thư bộ. Mười phút sau, Planchet đuổi kịp chàng ở chuồng ngựa dinh trại cận vệ. Để khỏi mất thì giờ, D Artagnan tự đóng lấy yên cương.

- Tốt lắm - chàng bảo Planchet, khi gã đã buộc gói quần áo vào túi hành trang - Bây giờ đóng yên cương cho ba con ngựa rồi ta đi.

- Ông tin mỗi người hai ngựa, ta sẽ đi nhanh hơn ư? - Planchet hỏi, sẽ tinh quái.

- Không, thưa ông đùa tồi - D Artagnan trả lời - nhưng với bốn con ngựa, chúng ta có thể đem ba ông bạn của ta về, nếu ta tìm thấy họ còn sống.

- Nếu như thế sẽ là quá may đấy - Planchet trả lời - nhưng rất cuộc không nên thất vọng ở sự nhân từ của Thượng đế.

- Amen! - D Artagnan nói và phốc lên ngựa.

Và cả hai ra khỏi dinh trại cận vệ, đến đầu phố, tách nhau ra, người đi trước, qua trạm Vi-lét, và người kia qua trạm Mông Mac ra khỏi Paris rồi ra ngoài gặp lại nhau ở Saint-Denis, một phương sách chiến lược được thực hiện cùng độ chính xác, đáng được khen thưởng vì kết quả tốt đẹp. D Artagnan và Planchet cùng vào Piefit một lúc.

Phải nói Planchet ban ngày can đảm hơn ban đêm. Tuy nhiên tính thận trọng tự nhiên chẳng rời gã một phút. Gã không quên bất kỳ sự cố nào trong cuộc du hành lần trước, và luôn coi tất cả những ai gã chạm trán ở trên đường là kẻ thù. Việc đó dẫn đến gã không rời chiếc mũ trong tay khiến cho D Artagnan sợ do sự lễ phép thái quá của người hầu, người ta coi mình là người tầm thường, nên đã quở trách Planchet thậm tệ.

Tuy nhiên, quả thật hoặc những người qua đường cảm động vì sự nhã nhặn của Planchet, hoặc lần này chẳng có ai rình rập trên đường, hai người tới Săngtily không gặp bất trắc gì và xuống ngựa ở lữ quán Saint-Martin lớn, vẫn cái lữ quán họ đã dừng chân chuyến đi trước.

Chủ quán thấy một chàng trai, theo sau có một tên hầu tay dắt hai ngựa, liền trịnh trọng tiến ra ngưỡng cửa. Mà vì đã đi được mười một dặm, nên D Artagnan cho là nên nghỉ, dù Porthos có còn trong quán hay không còn đấy nữa. Rồi có thể sẽ là thiếu thận trọng nếu chưa chi đã hỏi xem chàng ngự lâm kia ra sao, nghĩ vậy, D Artagnan xuống ngựa, giao ngựa cho người hầu rồi vào một phòng dành cho những ai muốn ngồi riêng, gọi một chai vang loại thượng hạng và một bữa điểm tâm càng ngon càng tốt, làm tăng thêm thiện cảm của chủ quán vốn là đã có từ lúc mới gặp lữ khách.

Vì thế, D Artagnan được phục vụ nhanh chóng lạ kỳ.

Binh đoàn cận vệ tuyển mộ trong số đệ nhất quý tộc của vương quốc, và D Artagnan với một người hầu theo sau, lại đi du hành với bốn người ngựa đẹp, mặc dầu bộ đồng phục giản dị vẫn không khỏi khiến người ta trọng nể. Chủ quán muốn đích thân phục vụ. Thấy thế D Artagnan bảo mang ra hai chiếc cốc và gợi chuyện.

- Thật tình, ông chủ thân mến ạ - D Artagnan rót đầy hai cốc và nói - tôi đã gọi loại vang hảo hạng của ông, và nếu ông lừa tôi, ông sẽ bị trừng phạt ở chỗ ông mắc tội, vì tôi ghét uống một mình, ông sẽ uống cùng tôi. Ông hãy nâng cốc và ta cùng uống. Ta uống chúc cái gì nhỉ, ở cái gì không phật lòng ai được nhỉ? À ta uống cho sự thịnh vượng của lữ quán ông.

- Quý ông làm cho tôi vinh dự quá - chủ quán nói - tôi xin thành thực cảm ơn lời chúc của ông.

- Nhưng xin ông đừng nhầm đấy - D Artagnan nói - trong lời chúc của tôi, nó nhuốm màu ích kỷ nhiều hơn là ông nghĩ đấy.

- Có những quán làm ăn thịnh vượng, khách hàng được tiếp đón chu đáo, trong những lữ quán đang sa sút, tất cả đều rối tinh lên, và khách trọ thành nạn nhân của sự lúng túng của người chủ. Mà tôi lại đi du hành nhiều, nhất là trên con đường này, tôi muốn thấy tất cả các ông chủ quán đều làm ăn phát đạt.

- Quả thật - chủ quán nói - hình như đây không phải lần đầu tiên tôi có vinh dự được gặp ngài.

- Ồ, tôi qua Săngtily có lẽ tới chục lần rồi ấy chứ và trong số chục lần ấy, ít ra tôi cũng dừng lại ở quán ông ba bốn lần. Ông nhớ chứ, tôi vừa ở quán này cách đây mười hai ngày gì đó. Tôi dẫn đường cho mấy người bạn tôi, mấy ông ngự lâm quân, rồi một ông cậy mình là ngự lâm quân cãi lộn với một người lạ, người này chẳng biết kiếm cớ gì gây sự với ông ấy.

- À, thôi đúng rồi! - Chủ quán nói - Tôi nhớ hết chuyện đó.

- Có phải là ông Porthos quý ngài muốn nói với tôi không?

- Đúng, đấy là tên người bạn đồng hành của tôi. Lạy Chúa, ông chủ thân mến, nói cho tôi biết nào, bạn tôi có gặp chuyện không may gì không?

- Nhưng quý ngài chắc đã rõ ông ấy không thể tiếp tục lên đường.

- Quả vậy, ông ấy có hứa đuổi kịp chúng tôi, nhưng chúng tôi không gặp lại.

- Ông ấy đã cho chúng tôi cái vinh dự là ở lại đây.

- Sao? Ông ấy đã cho ông vinh dự ở lại đây?

- Vâng, thưa ông, trong lữ quán này. Chúng tôi còn rất lo ngại nữa.

- Về chuyện gì?

- Về các khoản chi dùng của ông ấy.

- Nhưng ông ấy dùng gì thì ông ấy sẽ trả chứ.

- Ôi, thưa ông, ông đúng là bôi cao xoa vào máu tôi rồi! Chúng tôi đã ứng trước những khoản lớn, và sáng nay nữa, nhà phẫu thuật tuyên bố với chúng tôi, nếu ông Porthos không trả tiền ông ấy, chính tôi phải chịu phạt, bởi vì chính tôi cho người đi tìm ông ấy.

- Nhưng Porthos bị thương ư?

- Thưa ông, tôi không thể nói ra với ông.

- Sao, ông không thể nói với tôi? Ông chắc phải biết rõ hơn ai hết chứ.

- Vâng, nhưng trong tình trạng hiện thời của chúng tôi, chúng tôi không nói tất cả những gì mình biết được thưa ông, nhất là khi người ta đã báo trước tai của chúng tôi đảm bảo cho lưỡi của chúng tôi.

- Vậy tôi có thể gặp Porthos không?

- Được chứ, thưa ông. Ông hãy theo cầu thang lên tầng một gõ cửa phòng số 1. Có điều ông phải báo trước là chính ông.

- Sao, tôi báo trước là chính tôi?

- Vâng, bởi ông có thể gặp chuyện rủi.

- Chuyện rủi nào xảy đến với tôi?

- Ông Porthos có thể tưởng lầm ông là người nhà này, và trong lúc tức giận, có thể đâm cho ông một mũi gươm xuyên qua người hoặc bắn vỡ sọ ông.

- Thế ông đã làm gì ông ấy?

- Chúng tôi chỉ đòi tiền ông ấy thôi.

- Ôi đồ quỷ! Tôi hiểu chuyện rồi. Đòi tiền trong khi không còn nữa thì Porthos luôn bậy bả rồi. Nhưng tôi biết chắc là ông ấy còn nhiều tiền kia mà.

- Thì tôi cũng nghĩ như thế, thưa ông. Nhà hàng chúng tôi vốn rất quy củ, tính toán hàng tuần, được khoảng tám ngày chúng tôi đưa ông ấy hóa đơn, nhưng hình như chúng tôi đưa không đúng lúc, vừa mới nói được câu đầu về chuyện thanh toán, ông ấy đã chửi vang lên, đúng là đêm trước ông ấy đánh bạc thật.

- Thế nào, đánh bạc đêm trước. Với ai?

- Ôi, Chúa ơi, ai biết được? Với một quý ông đi qua, và ông Porthos ngỏ ý chơi bạc với ông kia.

- Thế là kẻ khốn khổ nhẵn túi?

- Luôn cả con ngựa nữa thưa ông, vì khi người lạ mặt sắp ra đi, tôi thấy người hầu của ông ta đóng yên vào con ngựa của ông Porthos. Lúc đó chúng tôi cũng đưa ra nhận xét với người khách lạ, nhưng người này trả lời chúng tôi đừng dây vào chuyện không liên quan đến mình, và con ngựa đó là của ông ta. Chúng tôi cũng đã báo ngay cho ông Porthos điều gì vừa xảy ra, nhưng ông ấy bảo chúng tôi là đồ xấc láo mới đi nghi ngờ lời nói của một nhà quý tộc và rằng một khi ông ta đã nói con ngựa ấy là của ông ta, ắt nó là của ông ta.

- Tôi thừa biết điều đó rồi! - D Artagnan lẩm nhẩm.

Ông chủ quán tiếp tục:

- Thế là tôi cho người đến nói với ông ấy rằng vì hình như chúng tôi không thể đi đến một thỏa thuận nào về việc thanh toán, tôi hy vọng ít nhất ông cũng tỏ ra biết điều, bạn cho đồng nghiệp của tôi ở lữ quán Chim Phượng hoàng cái ân huệ đón ông sang bên đó. Nhưng ông Porthos đáp lại rằng, vì quán của tôi tốt nhất, ông muốn lưu lại đây. Câu trả lời quá tâng bốc ấy khiến tôi không dám vật nài ông đi nữa. Tôi chỉ dám giới hạn xin ông trả lại căn phòng là phòng đẹp nhất lữ quán, vui lòng lên căn phòng xinh xắn ở tầng ba. Nhưng ông Porthos nói lúc nào ông cũng ngóng đợi người tình của ông là một trong những phu nhân quyền quý nhất triều đình, tôi đành phải hiểu rằng căn phòng mà ông đem lại cho tôi vinh dự là đã cư trú ở đấy chắc còn tồi tàn hơn nhiều đối với một nhân vật như thế. Tuy nhiên, dù nhận ra điều ông nói là hoàn toàn có thật tôi vẫn cứ vật nài ông, nhưng rồi chẳng thèm bàn cãi gì với tôi ông vớ luôn khẩu súng ngắn đặt lên bàn ngủ và tuyên bố chỉ cần nói ướm một câu về việc chuyển phòng dù sang phòng khác hay quán khác, ông sẽ bắn vỡ sọ kẻ nào dại dột đi xen vào chuyện chỉ liên quan đến ông, vì thế, từ lúc đó, không ai dám vào phòng ông, nếu không phải tên đầy tớ của ông.

- Vậy Mousqueton cũng ở đây?

- Vâng thưa ông, hắn đi đâu đó năm ngày rồi trở về mặt mũi cau có. Hình như trong chuyến đi hắn cũng gặp những chuyện bực bội. Khốn thay, hắn nhanh nhẹn tháo vát hơn chủ hắn cho nên cái gì cần cho chủ là hắn lục tung lên bằng được, vì nghĩ nếu hỏi có thể lại bị từ chối, hắn cứ lấy phứa mà chẳng hỏi ai.

- Thật ra - D Artagnan trả lời - tôi luôn nhận thấy ở Mousqueton một lòng tận tụy và trí thông minh rất cao.

- Có thể đúng đấy, thưa ông, nhưng giả thử mà mỗi năm hắn đến tìm tôi bốn lần thì sau khi tiếp xúc với trí thông minh và lòng tận tâm ấy, chắc chắn tôi sẽ khuynh gia bại sản.

- Không, Porthos sẽ trả ông.

- Hừm! - Chủ quán tỏ vẻ nghi ngờ.

- Porthos là người được một vị đại phu nhân yêu quý, bà ta sẽ không để ông ấy trong tình trạng lúng túng và khốn khó đang mắc với ông đâu.

- Nếu như tôi dám nói ra điều tôi tin trong chuyện này...

- Ông tin thế nào?

- Còn hơn là tin, mà là biết.

- Điều mà ông biết?

- Mà còn biết chắc chắn nữa.

- Nhưng ông biết chắc chắn điều gì?

- Tôi nói là tôi biết cái bà đại phu nhân ấy.

- Ông?

- Vâng, tôi.

- Thế làm thế nào ông biết được?

- Ồ, thưa ông, liệu tôi có thể tin được tính kín đáo của ông không?

- Ông nói đi, xin thề danh dự của người quý tộc, ông sẽ không phải hối tiếc về sự tin cậy của ông đâu.

- Đó, ông xem, sự lo lắng cũng làm được khối việc đấy chứ.

- Ông đã làm được những việc gì?

- Ồ, chẳng có gì ngoài việc một chủ nợ có quyền làm.

- Rốt cuộc là cái gì?

- Ông Porthos trao cho chúng tôi một bức thư cho bà nữ Công tước đó, và dặn chúng tôi bỏ vào hòm thư. Gã đầy tớ của ông ấy chưa về. Vì ông ấy không thể rời khỏi phòng mình, ông ấy phải nhờ chúng tôi.

- Rồi sao?

- Đáng lẽ bỏ thư vào hòm thư, việc ấy không bao giờ chắc chắn cả, nhân một tên hầu bàn của tôi có việc phải đi Paris, tôi ra lệnh cho nó mang thẳng bức thư đến tận tay bà Công tước.

- Như thế là làm tròn ý định của ông Porthos đã hết sức tin cậy trao cho chúng tôi bức thư, có phải không?

- Gần như thế.

- Thế ông có biết cái bà đại phu nhân ấy là thế nào không?

- Không, tôi có được nghe Porthos nhắc đến, có thế thôi.

- Ông có biết cái bà tự nhận là nữ Công tước ấy là người thế nào không?

- Tôi xin nhắc lại, tôi không quen biết bà ta.

Đó là bà biện lý(1) già ở Satơlê, tên là bà Coquenard, bà ta ít nhất cũng năm mươi tuổi và vẫn có vẻ còn ghen tuông ghê lắm.

- Tôi thấy điều đó khá lạ lùng, một nữ Quận chúa mà lại cư trú ở phố Lũ gấu.

- Làm sao ông biết chuyện đó?

Bởi vì bà ta nổi cơn tam bành khi nhận bức thư, và nói rằng ông Porthos là một kẻ thay lòng đổi dạ, rằng lại vì một con mụ nào nữa mà xơi nhát gươm kia.

Nhưng ông ấy bị xơi một nhát gươm thật à?

- Ôi, lạy Chúa! Tôi vừa nói gì đấy nhỉ?

- Ông nói là Porthos bị xơi một nhát gươm.

- Vâng, nhưng ông ấy cấm ngặt tôi không được nói.

- Tại sao vậy?

- Sao ư? Thưa ông, tại vì ông ấy đã huênh hoang sẽ đâm xiên qua cái người lạ mặt mà ông để mặc cho tranh cãi nhau ấy, và rồi chính cái người lạ mặt kia, trái lại, đã cho ông Porthos lăn kềnh ra đất, bất chấp mọi thói anh hùng rơm(2) của ông ấy. Mà vì ông Porthos là một người quá tự phụ, nên trừ đối với bà nữ Công tước mà ông tưởng làm bà ta thích thú bằng việc kể những chuyện phiêu lưu của mình, ông không muốn thú nhận với bất kỳ ai rằng ông đã xơi một nhát gươm.

- Như thế, tức là một nhát gươm khiến ông ta nằm liệt giường?

- Và một nhát gươm bậc thầy, tôi xin cam đoan với ông như vậy. Chắc linh hồn bạn ông phải đóng chốt trong thể xác ông ấy.

- Ông có mặt ở đây à?

- Thưa ông, tôi đi theo họ là do hiếu kỳ, thành thử tôi được nhìn thấy trận đấu, còn các đấu sĩ lại không nhìn thấy tôi.

- Thế trận đấu diễn ra thế nào?

- Ồ! Không lâu đâu, tôi đảm bảo như thế. Họ đều giữ thế thủ, người lạ mặt làm một đòn nhử, rồi doãi chân, tất cả quá nhanh đến nỗi ông Porthos mới định đỡ thì gần một gang tay sắt đã găm vào ngực ông rồi. Ông ngã ngửa ra đằng sau. Người lạ mặt gí ngay mũi gươm vào họng ông. Ông Porthos thấy mạng mình đã trong tay địch thủ, liền xin thua. Người lạ hỏi tên ông và khi biết tên ông là Porthos chứ không phải D Artagnan, liền đỡ ông ấy dậy dìu về lữ quán, rồi lên ngựa và biến mất.

- Như thế tức là D Artagnan mới là người hắn ta thù hận?

- Hình như thế.

- Và ông có biết hắn ta thế nào rồi không?

- Không, cho đến khi ấy, tôi chưa bao giờ thấy ông ta, và từ bấy, tôi chưa hề gặp lại.

- Tốt lắm, tôi đã biết được điều tôi muốn biết. Ông bảo hiện thời ông Porthos đang ở phòng số 1 tầng một?

- Vâng, phòng đẹp nhất quán trọ, đáng lẽ tôi đã cho thuê chục lần rồi ấy chứ.

- Thôi được, ông cứ yên tâm - D Artagnan vừa cười vừa nói - Porthos sẽ trả ông bằng tiền của nữ Công tước Coquenard.

- Ôi thưa ông, bà biện lý hay bà công tước cũng được, miễn là bà ta nới dải buộc túi tiền. Nhưng bà ấy đã trả lời dứt khoát là bà ấy chán những đòi hỏi và sự không chung thủy của ông Porthos lắm rồi, và sẽ không gửi cho ông ta một xu nào nữa.

- Và ông nói lại với vị khách trọ của mình chứ?

- Chúng tôi phải giữ chứ, nếu không ông ấy sẽ biết chúng tôi chuyển thư bằng cách nào.

- Và ông ấy cứ thoải mái đợi tiền?

- Ồ, lạy Chúa, vâng! Mới hôm qua, ông ta lại viết, nhưng lần này là tên đầy tớ bỏ vào thùng thư.

- Và ông nói bà biện lý già và xấu ư!

- Ít nhất năm mươi tuổi, và chẳng đẹp chút nào, theo như Patô nói.

- Nếu thế, thì ông yên tâm đi, bà ta chả thoát khỏi mềm lòng, vả lại, Porthos không thể nợ ông nhiều lắm.

- Sao, không nhiều lắm ư? Hai chục đồng vàng rồi đấy, chưa tính tiền thuốc. Ôi, ông ấy chẳng chịu từ bỏ thứ gì, quen sống thoải mái rồi mà.

- Không sao đâu! Nếu tình nhân của ông ta bỏ rơi ông ta, ông ta sẽ tìm, được các bạn bè, tôi đảm bảo như vậy. Như thế, ông chủ quán thân mến ạ, đừng lo ngại gì cả, ông cứ tiếp tục cung ứng cho ông ấy tất cả những gì đang cần thiết đi.

- Ông đã hứa với tôi là không nói gì về bà biện lý và không nói ra một câu nào về vết thương rồi đấy nhé.

- Đã thỏa thuận thế rồi, tôi đã hứa mà.

- Ông phải biết, ông ấy sẽ giết tôi đấy!

- Ông đừng sợ, ông ấy không đến nỗi hung dữ như bộ dạng ông ấy đâu.

Vừa nói, D Artagnan vừa leo lên cầu thang, để lại ông chủ quán đã hơi yên tâm về hai điều ông ta hình như hết sức quan tâm: món nợ và mạng sống của ông ta.

Phía trên cầu thang, chiếc cửa dễ nhận ra nhất ở hành lang, trên cửa kẻ chữ số 1 khổng lồ bằng sơn đen, D Artagnan gõ một tiếng, bên trong có tiếng mời cứ vào, và chàng bước vào.

Porthos đang nằm và đang chơi bài với Mousqueton để luyện tay chơi, trong khi đó một xiên gà gô đang quay trên lửa và ở mỗi góc của một lò sưởi lớn, là hai cái chảo trên hai bếp lò đang sôi sùng sục tỏa ra thơm lừng mùi thỏ nấu sốt vang và cá om. Ngoài ra, trên bàn và trên mặt đá hoa chiếc tủ ngăn kéo, đầy vỏ chai.

Nhìn thấy bạn, Porthos reo lên mừng rỡ và Mousqueton kính cẩn đứng lên nhường chỗ cho chàng, lui ra kiểm tra hai cái chảo.

- Ôi, Mẹ kiếp! Là cậu ư - Porthos nói với D Artagnan - Rất mừng là cậu đã đến, nhưng xin lỗi nếu như mình không ra đón cậu được. Nhưng Porthos vừa nhìn D Artagnan vừa nói tiếp - cậu biết chuyện gì xảy với mình chứ?

- Không.

- Chủ quán không nói gì với cậu à?

- Tôi hỏi thăm anh rồi lên thẳng đây thôi.

Porthos thở phào nhẹ nhõm. D Artagnan tiếp tục hỏi:

- Thế có chuyện gì xảy ra với anh ư, Porthos thân mến?

- Xảy ra với mình khi mình nhoài người về phía địch thủ mà mình đã xỉa cho hắn ba nhát rồi đấy chứ, mình định kết liễu hắn bằng nhát thứ tư, thế là chân mình giẫm lên một hòn đá, và mình bị trẹo gối.

- Thật thế ư?

- Thề danh dự mà! Cũng may cho thằng đểu ấy, chứ không mình đã cho nó chết toi tại chỗ rồi, mình đảm bảo với cậu như vậy.

- Và rồi nó ra sao?

- Ồ, mình cũng chẳng biết gì hết. Nó bị thế là đủ lắm rồi. Nó chuồn mất mà không dám đòi những gì còn lại.

- Bị trẹo gối - D Artagnan tiếp tục - đến nỗi không ra được khỏi giường ư?

- Ờ Lạy Chúa, thế thôi. Mấy lại chỉ mấy ngày nữa là mình lại đi được mà.

- Tại sao lúc đó anh không để người ta khênh mình về Paris? Ở đây chắc anh phải buồn dữ dội.

- Đấy là ý định của mình. Nhưng, bạn thân mến ạ, mình phải thú nhận với cậu một chuyện.

- Chuyện gì?

- Chính vì mình buồn dữ dội như cậu nói và lại có trong túi bẩy nhăm đồng vàng mà cậu chia cho, để giải sầu, mình đã cho mời một tay quý tộc đi qua đây và đã đề nghị chơi xúc xắc với hắn, hắn nhận lời và không thể ngờ được cả chỗ bẩy nhăm đồng vàng trong túi mình chuyển hết sang túi hắn không kể con ngựa của mình, hắn cũng dắt mất. Còn cậu, D Artagnan thân mến?

- Anh Porthos thân mến, anh muốn gì nữa, người ta không thể cái gì cũng gặp may được - D Artagnan nói - Anh hẳn biết câu châm ngôn: "Đen bạc, đỏ tình". Anh quá may trong tình trường không tránh được canh bạc nó trả thù, nhưng cần cóc gì cái vận rủi! Chẳng phải một tay bợm gái may mắn như anh không có một nữ Công tước không thể quên được việc đến giúp anh sao?

Porthos trả lời, vẻ thoải mái nhất đời:

- Ấy đấy, D Artagnan thân mến ạ, chẳng qua mình gặp vận đen nên mới phải viết thư bảo gửi cho mình khoảng năm mươi đồng vàng mình tuyệt đối cần trong tình cảnh hiện thời.

- Rồi sao?

Rồi thì, chắc mụ ta tịch rồi hay sao không thấy trả lời.

- Thật thế ư?

- Không, vì thế, hôm qua mình lại tống cho một thư nữa thúc ép hơn thư trước. Nhưng còn cậu, bạn rất thân của mình, nói về cậu đi nào. Mình xin thú thực với cậu mình bắt đầu thấy lo lo cho cậu rồi đấy.

- Nhưng mà chủ quán có vẻ đối xử tốt với anh ghê nhỉ, anh Porthos? - D Artagnan vừa nói vừa chỉ cho người ốm, những chảo đầy và những vỏ chai rỗng.

- Cũng được được? - Porthos trả lời - Cách đây ba bốn ngày cái tên xấc xược đó đưa bảng thanh toán cho mình, thế là mình tống hết ra khỏi cửa, cả tên chủ lẫn bảng thanh toán, thành thử mình ở đây với tư cách người chiến thắng, kẻ chinh phục. Vì vậy, cậu thấy đấy, mình phải vũ trang đến tận răng, vì luôn sợ bị buộc phải rời khỏi cương vị chiến thắng ấy.

- Tuy nhiên - D Artagnan vừa nói vừa cười, chỉ mấy cái chảo và những vỏ chai - Thỉnh thoảng hình như anh vẫn xuất ngoại đấy chứ.

- Khốn nạn thay, không phải mình! - Porthos nói - cái trò trẹo xương khốn nạn đó giữ chặt mình ở giường, nhưng Mousqueton đi lang thang khắp nơi và mang thực phẩm về.

- Mousqueton, anh bạn của ta - Porthos tiếp - Mi xem, chúng ta có viện trợ rồi, phải bổ sung thức nhắm thôi.

- Mousqueton - D Artagnan nói - Ta cần anh gíúp một việc.

- Việc gì thưa ông.

- Là truyền cho Planchet cái bảo bối của anh. Đến lượt ta, cũng có thể bị bao vây lắm chứ, lúc đó ta ắt sẽ không bực mình vì hắn cũng làm cho ta được hưởng từng này lợi ích giống như anh bạn thưởng cho chủ anh ấy.

- Ôi, trời ơi, thưa ông - Mousqueton nói vẻ khiêm tốn - không gì dễ hơn. Chỉ cần khéo léo một chút, thế thôi. Tôi lớn lên ở thôn quê, và cha tôi, những lúc nhàn rỗi, đôi khi cũng săn bắn trái phép.

- Thời gian còn lại ông ấy làm nghề gì?

- Thưa ông, cha tôi thực hành một công nghệ mà tôi thấy cũng tươm lắm.

- Nghề gì?

- Vì đó là thời chiến tranh giữa người Cơ đốc giáo và giáo phái Canvanh, và ông thấy những người Cơ đốc giáo tàn sát những người phái Canvanh, và những người phái Canvanh lại tàn sát người Cơ đốc giáo, bên nào cũng nhân danh tôn giáo, ông cụ liền tự cho phép mình tín ngưỡng cả hai, lúc thì Cơ đốc giáo, lúc lại Canvanh. Ông cụ thường súng khoác vai, lang thang sau nước rào giậu bờ đường và khi thấy một người Cơ đốc đi một mình liền nổi máu Tin lành ngay tức khắc. Ông hạ súng hướng về phía lữ khách, rồi khi chỉ còn cách mươi bước chân, ông vào đề đối thoại và hầu như luôn kết thúc bằng việc người kia bỏ lại túi tiền để thoát lấy mạng mình. Ông đi không nói một lời khi thấy một người Canvanh đang tới, ông lại nổi máu Cơ đốc rất dữ dội đến nỗi chẳng hiểu tại sao mới mười lăm phút trước đây ông lại có thể có những nghi ngờ về sự siêu đẳng của tôn giáo thần thánh chúng ta. Bởi vì tôi, thưa ông, tôi theo Cơ đốc giáo, cha tôi, trung thành với những nguyên tắc của ông, bắt anh cả tôi là dân Canvanh.

- Cuối cùng con người đáng kính ấy thế nào? - D Artagnan hỏi.

- Ôi, thưa ông, một cách khốn nạn nhất. Một hôm ông cụ bị túm trên một con đường trống vắng giữa một người Canvanh và một người Cơ đốc giáo đã từng mắc chuyện với ông cụ, cả hai đều nhận ra ông, thế là họ họp lại với nhau chống lại và treo cổ ông cụ lên một cái cây, rồi họ lại đến huyênh hoang về cái việc quá ư liều lĩnh họ đã làm, trong một tửu quán ở ngôi làng chợt đến mà anh tôi và tôi cũng đang uống ở đó.

- Rồi các anh làm gì? - D Artagnan hỏi.

- Chúng tôi để mặc cho chúng nói - Mousqueton tiếp - Thế rồi, ra khỏi cái quán đó, mỗi tên đi về một phía trái ngược nhau, anh tôi đi phục ở con đường gã Cơ đốc đi, và tôi phía gã Tin lành. Hai giờ sau, thế là xong, chúng tôi ai nấy tính sổ xong với chúng, và hết sức khâm phục tính lo xa của ông bố đáng thương của chúng tôi đã đề phòng nuôi dạy chúng tôi mỗi người một tôn giáo khác nhau.

- Quả thật, như anh nói ấy, Mousqueton, bố anh hình như từng là một người rất thông mình. Và anh nói, lúc nhàn rỗi, con người tử tế ấy lại là tay săn bắn trộm?

- Vâng, thưa ông, chính ông cụ đã dạy tôi cách buộc bẫy chim muông và đặt dây câu ngầm. Kết quả là khi thấy lão chủ quán ty tiện nuôi chúng tôi bằng đống thịt bạc nhạc chỉ hợp với bọn quê mùa và không thích hợp chút nào với hai cái dạ dày yếu ớt như của chúng tôi, tôi đành xoay xở đôi chút với cái nghề cũ của mình. Lang thang trong khu rừng nhỏ của vị Hoàng thân, tôi giăng bẫy trên các lối đi, ngủ bên bờ nước của Điện hạ, tôi luồn dây câu xuống dưới ao hồ. Thành thử nhờ trời, giờ đây chúng tôi chẳng thiếu những gà gô, thỏ, cá chép, lươn, tất cả các loại thức ăn lành và dễ tiêu, thích hợp với người bệnh, ông có thể coi xem có đúng không.

- Nhưng còn rượu vang - D Artagnan nói - ai cung cấp rượu vang? - chủ quán chứ?

- Nghĩa là đúng và không.

- Đúng và không là thế nào?

- Đúng là ông ta cung cấp, nhưng ông ta không biết mình có cái vinh dự ấy.

- Giải thích xem nào, Mousqueton, câu chuyện của anh đầy những điều bổ ích đấy.

- Thế này, thưa ông. Tình cờ xui khiến tôi gặp được một người Tây Ban Nha, trong những cuộc đi chơi xa, anh ta từng thăm nhiều nước trong đó có cả Tân thế giới.

- Tân thế giới thì có liên quan gì đến những chai vang trên bàn giấy và trên cái tủ ngăn kia?

- Bình tĩnh nào, thưa ông, đâu sẽ có đấy mà.

- Đúng vậy, Mousqueton. Ta tin và vẫn nghe anh đây.

- Người Tây Ban Nha ấy có một người hầu đi theo sang Mêhicô. Người hầu ấy lại là đồng hương của tôi, thành thử chúng tôi liên kết với nhau rất nhanh vì giữa chúng tôi còn rất hợp nhau về tính cách nữa. Cả hai chúng tôi đều yêu săn bắn trên hết mọi thứ, thành thử hắn kể cho tôi nghe những thổ dân đã săn hổ và bò tót trong những đồng cỏ ở Nam Kỳ với những thòng lọng quăng vào cổ những con vật kinh khủng ấy như thế nào. Lúc đầu, tôi không muốn tin người ta lại có thể đạt tới trình độ khéo léo, cách xa hai ba mươi bước quăng đầu thòng lọng đúng nơi mình nhằm. Bạn tôi đặt một cái chai cách ba mươi bước và lần nào cậu ấy quăng cũng giật được chai trong thòng lòng. Trước bằng chứng ấy, phải nhận câu chuyện là có thật thôi. Tôi cũng lao vào luyện tập, và vì trời phú cho chút ít nàng khiếu, bây giờ tôi quăng thòng lọng giỏi ngang với bất kỳ ai. Thế là, ông có hiểu không? Chủ quán có một hầm chứa đầy rượu và lão ta không bao giờ rời chìa khóa. Có điều hầm rượu có lỗ thông hơi. Thế là, qua lỗ thông hơi đó tôi quăng thòng lọng và giờ đây thì tôi đã biết được góc nào lấy tốt rồi, và cứ nơi ấy tôi kéo. Đó, thưa ông. Tân thế giới có liên quan đến những chai vang trên bàn giấy và tủ ngăn như thế đấy. Bây giờ ông hẳn muốn nếm thử rượu vang của chúng tôi và đừng có thành kiến, ông cho biết uống thấy thế nào.

- Cám ơn, anh bạn của ta, cám ơn, nhưng thật không may ta vừa ăn điểm tâm xong.

- Dào ôi! - Porthos nói - Bày bàn đi, Mousqueton và trong khi chúng ta ăn điểm tâm, D Artagnan sẽ kể cho chúng ta nghe mười ngày xa chúng ta, cậu ấy ra sao.

- Xin sẵn sàng - D Artagnan nói.

Trong khi Porthos và Mousqueton ăn điểm tâm với vẻ ngon lành của người ốm ăn giả bữa, và của tinh thần huynh đệ của những con người xích lại gần nhau trong cơn hoạn nạn, D Artagnan kể Aramis bị thương và buộc phải nằm ở lại Vỡ Tim thế nào, rồi D Artagnan phải bỏ Athos lại ở Amiêng mặc Athos chống chọi giữa bốn tên buộc tội chàng là tên làm bạc giả ra sao, và chính D Artagnan đã buộc phải đâm xuyên qua bụng Bá tước De Wardes để sang được nước Anh thế nào.

Nhưng đến đây, việc tâm sự của D Artagnan dừng lại, chàng chỉ thông báo ở nước Anh về, chàng mang theo bốn con ngựa đẹp lộng lẫy, một con cho chàng, và đồng đội mỗi người một con. Rồi chàng kết thúc bằng việc báo cho Porthos biết con ngựa dành cho Porthos đã được đưa vào chuồng ngựa của lữ quán.

Đúng lúc đó, Planchet vào và báo cho chủ biết rằng lũ ngựa đã được nghỉ ngơi đầy đủ và có thể đến ngủ ở Clécmông.

Vì D Artagnan đã gần yên tâm về Porthos và chàng thấy nóng lòng muốn có tin tức của hai người bạn kia, chàng đưa tay cho người bệnh và báo cho biết chàng sắp lên đường tiếp tục tìm kiếm. Vả lại, vì chàng dự tính sẽ trở về theo con đường này, nếu trong vòng bảy tám ngày nữa, Porthos vẫn còn ở lữ quán lớn Saint-Martin, chàng sẽ ghé qua đón bạn.

Porthos trả lời, cái chỗ xương bị trẹo hoàn toàn có thể không cho phép chàng rời khỏi lữ quán. Vả lại chàng phải ở lại ở Săngtily để đợi nữ Công tước của chàng trả lời.

D Artagnan chúc Porthos mau nhận được sự trả lời và một sự trả lời tốt đẹp. Và sau khi đã nhờ Mousqueton lần nữa trông nom Porthos, trả tiền các khoản cho chủ quán, chàng lại cùng Planchet lên đường, giảm bớt được một con ngựa dắt theo.

Chương 26

Luận văn của Aramis

D Artagnan không nói gì với Porthos về vết thương, cũng chẳng nói đến bà biện lý. Chàng Bearn dù còn rất trẻ nhưng lại rất khôn ngoan, để giả bộ tin hết mọi điều mà anh chàng ngự lâm quân hão huyền kể cho mình, vì tin chắc không có tình bạn nào trụ vững trước một bí mật bị lật tẩy, nhất là bí mật ấy lại quan thiết đến lòng kiêu hãnh, rồi thêm nữa người ta thường luôn nhìn xuống đối với những người mình biết rõ đời tư. Mà trong những dự định mưu toan sắp tới, D Artagnan đã quyết định sẽ biến ba người đồng đội thành công cụ cho hạnh vận của mình, và vui vẻ túm trước lấy những sợi dây vô hình mà nhờ chúng chàng tính chuyện điều khiển họ.

Tuy nhiên, suốt dọc đường, một nỗi buồn sâu sắc xiết lấy trái tim chàng, chàng nghĩ tới bà Bonacieux trẻ và xinh đẹp thật xứng đáng với lòng tận tụy của chàng. Nhưng phải nói ngay rằng nỗi buồn đó xuất phát từ niềm tiếc nuối hạnh phúc đã mất ở chàng ít hơn là nỗi sợ hãi chàng cảm thấy tai họa giáng xuống người phụ nữ đáng thương. Với chàng, không còn nghi ngờ gì nữa nàng là nạn nhân của sự báo thù của Giáo chủ và như đã biết, sự báo thù của Đức ông thì thật là khủng khiếp. Làm sao chàng có thể tin được sự tha thứ trước mắt ngài Thủ tướng, đó là điều chính bản thân chàng cũng không biết được, họa chăng chỉ có ông De Cavoa mới có thể tiết lộ cho chàng nếu viên đại úy cận vệ đó tìm thấy chàng ở nhà.

Không có gì khiến thời gian trôi mau, và rút ngắn bớt con đường bằng một ý nghĩ hút hết mọi khả năng suy nghĩ của người ta. Sự tồn tại bề ngoài lúc đó giống như một giấc ngủ mà ý nghĩ đó như là một cơn mơ. Do ảnh hưởng của nó, thời gian không đo được nữa, không gian không còn khoảng cách. Người ta đi từ một nơi và đến ở một nơi, có thế thôi. Từ chặng đường đi qua, chẳng còn gì hiện rõ trong ký ức ta ngoài một lớp sương mù mờ ảo, trong sương, hàng nghìn hình ảnh mơ hồ của cỏ cây, sông núi, cảnh vật tự xóa đi. Bị đàm chìm trong cái ảo giác đó mà D Artagnan cứ mặc cho ngựa chạy, chả mấy chốc đã vượt qua bẩy tám dặm đường từ Săngtily đến Vỡ Tim, và khi đến làng này chàng chẳng còn nhớ được điều gì mình đã gặp trên dọc đường.

Chỉ đến đây, trí nhớ mới trở lại, chàng làc đầu nhận ra cái quán mà chàng đã để lại Aramis, và thúc ngựa đi nước kiệu tới dừng ở trước cửa.

Lần này không phải ông chủ mà là bà chủ quán ra đón chàng. D Artagnan biết xem tướng nên chỉ nhìn qua bộ mặt đầy đặn tươi tỉnh của nữ chủ nhân, chàng đã hiểu không cần phải giấu giếm bà ta, và chả có gì đáng sợ đối với bộ mặt vui tươi đến thế.

- Bà chủ phúc hậu ơi - D Artagnan hỏi - bà có thể nói cho tôi biết một người bạn mà tôi buộc phải bỏ lại ở đây, cách đây khoảng mười hai ngày ra sao rồi không?

- Một người đàn ông trẻ đẹp, chừng hăm ba, hăm bốn tuổi, hiền lành, dễ mến, chững chạc?

- Đúng thế.

- Còn thêm bị thương ở vai?

- Đúng vậy.

- Ồ, thưa ông, ông ấy vẫn ở đây.

D Artagnan nhảy ngay xuống, ném dây cương vào tay Planchet nói:

- Chết thật! Bà chủ thân mến, bà cứu sống tôi rồi. Anh ấy ở đâu, anh Aramis yêu quý của tôi ấy, để tôi ôm hôn anh ấy, bởi vì tôi thú thực với bà, tôi phát sốt vì muốn gặp anh ấy đây.

- Nhưng tôi xin lỗi, thưa ông, tôi không tin ông ấy có thể gặp ông lúc này.

- Tại sao thế? Ông ấy đang ở với một người đàn bà ư?

- Jêsuma! Ông nói gì vậy, chàng trai tội nghiệp! Không, thưa ông, ông ấy không ở với một phụ nữ.

- Vậy thì với ai?

- Với ông mục sư Môđiđiê và ông giáo trưởng dòng Tên của Amiêng.

- Lạy Chúa? D Artagnan kêu lên - Bệnh tình anh ấy nậng hơn ư?

- Không đâu, trái lại ông ạ, nhưng sau trận ốm, được Chúa ban phúc, ông ấy đã quyết định thụ giới.

- Đúng thế - D Artagnan nói - tôi quên kuấy anh ấy chỉ là ngự lâm quân tạm thời.

- Vâng, ông vẫn muốn gặp ông ấy ư?

- Hơn bao giờ hết.

- Được thôi! ông cứ việc theo cầu thang bên phải ở ngoài sân, lên tầng hai, phòng số 5.

D Artagnan lao theo hướng đã chỉ, tìm thấy một chiếc cầu thang ngoài mà ngày nay ta còn thấy ngoài sân những quán trọ cổ lỗ. Nhưng không thể đi như thế đến chỗ ông tu viện trưởng tương lai, những lối đi ngoắt ngoéo đến phòng Aramis được canh giữ không hơn không kém những khu vườn của Aramis(1).

Bazin đóng chốt ở hành lang ngăn không cho chàng đi qua, càng táo tợn hơn sau những năm thử thách cuối cùng Bazin thấy mình sắp đi đến cái kết quả vẫn hằng hy vọng.

Thật vậy, mơ ước của Bazin tội nghiệp vẫn luôn là được phục vụ một nhà tu hành, và gã vẫn sốt ruột đợi chờ cái khoảnh khắc không ngừng hé mở trong tương lai Aramis, cuối cùng vứt bỏ chiếc áo đồng phục ra bụi rậm thay bằng chiếc áo thày tu. Lời hứa ông chủ trẻ tuổi hằng ngày nhắc lại rằng cái khoảnh khắc đó cũng không lâu nữa đâu là điều duy nhất đã giữ gã lại phục vụ một ngự lâm quân, thứ công việc theo như gã bảo nhỡ ra có thể làm gã mất linh hồn.

Vì vậy Bazin tràn trề vui sướng. Lần này, hoàn toàn có khả năng chủ gã không sai lời. Sự kết nối đau đớn thể xác với đau đớn tinh thần đã tạo ra hiệu quả vẫn hằng khao khát từ lâu Aramis vừa đau đớn thể xác lẫn tinh thần, cuối cùng đã dừng đôi mắt và ý nghĩ của mình lại ở nơi tôn giáo và chàng coi cái tai họa kép đã xảy đến với chàng, nghĩa là sự biến mất đột ngột của người lính và vết thương trên vai, như một sự cảnh tỉnh của trời cao.

Có thể hiểu được, trong tình thế hiện nay, không gì khó chịu cho Bazin bằng việc D Artagnan đã đến và lại có thể ném chủ gã vào trong xoáy lốc của những ý tưởng phàm thế đã từng lôi cuốn chủ gã quá lâu rồi. Vì vậy gã quyết định bảo vệ can trường chiếc cửa, và vì đã bị bà chủ quán phản bội rồi, gã không thể nói rằng Aramis đi vắng, gã cố tỏ ra cho kẻ mới đến biết thật là vô cùng bất nhã định đến quấy rầy chủ gã đang trong một cuộc hội thảo thành kính bắt đầu từ buổi sáng và theo Bazin nói không thể kết thúc trước buổi tối.

Nhưng D Artagnan chẳng buồn chú ý đến bài diễn văn hùng biện của thầy Bazin, và cũng chẳng hơi đâu đi lý sự với người hầu của bạn mình, chàng chỉ đơn giản lấy tay gạt gã ra và tay kia vận núm cửa phòng số 5.

Cửa mở, và D Artagnan vào trong phòng.

Aramis mặc áo ngoài đen, đầu đội một loại mũ tròn và bẹt khá giống loại mũ chỏm đầu, đang ngồi trước một cái bàn hình bầu dục phủ đầy những cuộn giấy và những cuốn sách khổ đôi khổng lồ, bên phải là ông giáo trưởng dòng Tên, và bên trái là ông mục sư Môngđiđiê. Những tấm rèm cửa chỉ vén ra một nửa để lọt vào một thứ ánh sáng huyền bí thích hợp với sự mơ màng mộ đạo. Mọi vật dụng thời lưu có thể đập vào mắt khi bưôc vào phòng chàng trai trẻ và nhất là chàng trai lại là ngự lâm quân đều biến mất như có phép mầu, và chắc sợ nhìn thấy những thứ ấy chủ mình lại hướng đến những ý nghĩ của thế giới trần tục, Bazin đã dọn sạch gươm súng, mũ cài lông, các đồ thêu, ren các kiểu các loại.

Nhưng thay vì thấy những thứ đó, D Artagnan tưởng như nhìn thấy ở một góc tối một thứ gì đó giống như chiếc roi hành xác treo trên một cái đinh ở trên tường.

Nghe tiếng D Artagnan mở cửa Aramis ngẩng đầu lên và nhận ra bạn mình. Nhưng điều làm D Artagnan hết sức ngạc nhiên là việc chàng xuất hiện hình như chẳng tạo nên một ấn tượng lớn nào đối với chàng lính ngự lâm này, chừng như đầu óc anh ta đã tách rời khỏi mọi vật nơi trần thế.

- Xin chào D Artagnan thân mến - Aramis nói - xin anh tin là tôi vui sướng được gặp anh.

- Tôi cũng vậy - D Artagnan nói - cho dù tôi còn chưa tin có phải tôi đang nói với anh Aramis không.

- Với hắn ta đấy, bạn ạ, với chính hắn đấy! Nhưng ai có thể làm cho anh nghi ngờ?...

- Tôi đã sợ là tôi nhầm phòng và lúc đầu tôi cứ tưởng là tôi vào phòng của một vị tu hành nào đó, rồi tôi lại mắc thêm một cái nhầm nữa khi thấy anh đang cùng với các vị đây.

Hai người mặc đồ đen kia hiểu rõ ý đồ của D Artagnan, liếc nhìn chàng có vẻ như hăm dọa, nhưng chàng không hề tỏ ra sợ

- Có thể tôi làm phiền anh, anh Aramis - D Artagnan tiếp tục - Bởi vì theo những gì tôi thấy, tôi đành phải tin rằng anh đang xưng tội với các vị đây.

Aramis thoáng đỏ mặt:

- Anh mà làm phiền tôi ư? Ồ, hoàn toàn trái lại, bạn thân mến ạ, tôi xin thề với anh đấy, và coi như bằng chứng điều tôi vừa nói là anh hãy cho phép tôi được vui mừng thấy anh được bình an vô sự.

"A, thế mới phải chứ?" D Artagnan nghĩ thầm "chưa đến nỗi nào?".

- Bởi vì ông đây là bạn tôi, vừa mới thoát khỏi một mối nguy khốc liệt - Aramis vừa tiếp tục nói giọng cảm động vừa trỏ D Artagnan giới thiệu với hai vị giáo chức kia.

- Xin ông hãy tạ ơn Chúa đi? - Hai người đồng thanh đáp và nghiêng mình.

D Artagnan về phần mình cũng nghiêng mình đáp lễ.

- Thưa các vị đáng kính, tôi đã không quên đâu.

- D Artagnan thân mến - Aramis nói - Anh đến thật đúng lúc, anh tham gia vào cuộc tranh luận đi, góp ý kiến làm sáng tỏ vấn đề. Ngài giáo trưởng xứ Amiêng, ngài mục sư Môngđiđiê và tôi, chúng tôi đang tranh luận một số vấn đề thần học mà chúng tôi đã quan tâm từ lâu, tôi sẽ rất vui được biết ý kiến của anh.

D Artagnan bắt đầu lo ngại trước sự đổi hướng của mọi chuyện, chàng trả lời:

- Ý kiến của một kẻ võ biền thì còn đâu ra trọng lượng, xin hãy tin tôi, anh có thể yên tâm về trình độ khoa học của các vị đây.

Hai người mặc áo đen lại đáp lễ.

- Trái lại - Aramis lại tiếp - ý kiến của anh sẽ rất quý với chúng tôi. Vấn đề là thế này, ông giáo trưởng tin rằng bản luận văn nhất thiết phải có tính giáo lý và giáo huấn.

- Bản luận văn! Vậy ra anh làm một luận văn?

- Hẳn rồi, - vị giáo sĩ dòng Tên trả lời - với kỳ sát hạch trước khi thụ phong, bản luận văn là nhất thiết phải có.

- Thụ phong? - D Artagnan kêu lên, chàng không thể tin nổi vào cái điều mà bà chủ quán và Bazin kế tiếp nhau nói với chàng - Lễ thụ phong.

Và chàng đưa mắt hoang mang nhìn ba nhân vật đang ngồi trước mặt chàng. Còn Aramis thì chễm chệ trên chiếc ghế bành ở tư thế duyên dáng như thể vẫn trong phố hẻm, ngắm nghía thỏa thích bàn tay trắng trẻo và mũm mĩm như bàn tay đàn bà của chàng rồi giơ tay lên cho khỏi bị dồn máu và nói:

- D Artagnan này, như anh đã nghe thấy đấy, ông giáo trưởng muốn bản luận văn của tôi có tính giáo lý, trong khi tôi lại muốn nó duy lý. Chính vì vậy mà tại sao ông giáo trưởng lại đề nghị với tôi cái chủ đề còn chưa hề được lý giải trong đó tôi nhận thấy có vấn đề cho những sự phát triển rực rỡ: Utraque manus in benedicendo clerieis inferioribus necessaria est.

D Artagnan mà chúng ta đã biết rõ sự uyên bác của chàng đến đâu, chả buồn chau mày trước câu trích dẫn này hơn câu ông Treville đã trích dẫn về các món quà mà ông cho là chàng đã nhận của ông De Buckingham.

Để D Artagnan hoàn toàn dễ hiểu, Aramis lại tiếp:

- Câu ấy có nghĩa: Hai bàn tay rất cần thiết cho các tu sĩ cấp thấp, khi họ ban phúc lành.

- Đề tài tuyệt vời! - vị tu sĩ dòng Tên kêu lên.

- Tuyệt vời và giáo lý nữa! - Ông mục sư nhắc lại, tiếng Latinh của ông ta chắc cũng đại khái như D Artagnan, cho nên ông theo dõi chăm chú ông giáo sĩ dòng Tên để bắt chước và lặp lại những lời ông này nói như một loại tiếng vọng mà thôi.

- Còn D Artagnan chàng hoàn toàn thờ ơ trước nhiệt tình của hai ông áo đen.

- Vâng tuyệt vời! Prorsù admirabile!(2) - Aramis tiếp tục - nhưng đòi hỏi một sự nghiên cứu uyên thâm của cha và Kinh thánh. Tôi đã thú nhận với các vị giáo sĩ thông thái này với tất cả sự kém cỏi của tôi rằng những đêm tuần canh của bộ đội vệ binh và việc phục vụ nhà Vua khiến tôi lơ là việc nghiên cứu: Vì vậy tôi thấy thoải mái hơn facilius natans(3) trong một đề tài do tôi lựa chọn, và sẽ là những vấn đề thần học hóc búa, giống như vấn đề đạo lý đối với siêu hình học trong triết học ấy.

D Artagnan chỉ thấy vô cùng chán ngán và ông mục sư cũng vậy.

- Đã thấy nhập đề tuyệt chưa! - Ông dòng Tên kêu lên.

- Exordium(4) ông mục sư lặp lại cho ra vẻ.

- Quem ad... modum inter coelorum imnrensitatem(5).

Aramis liếc nhìn D Artagnan và thấy bạn mình đang ngáp đến sái quai hàm, liền nói với ông giáo trưởng dòng Tên:

- Thưa cha, ta nói tiếng Pháp thôi, ông D Artagnan sẽ thưởng thức những ý kiến của chúng ta nhiệt tình hơn.

- Vâng tôi mệt mỏi khi đi đường - D Artagnan nói - và mọi thứ tiếng Latinh ấy tuột đi hết.

- Đồng ý - Ông dòng Tên hơi khó chịu nói, trong khi đó ông mục sư thấy dễ chịu hẳn lên, quay lại nhìn D Artagnan với đầy lòng biết ơn. - Đồng ý để xem cách giải thích ấy đi đến điều gì.

- Môixe(6) kể tôi đòi của Chúa... Ông ta chỉ là kẻ tôi đòi, các vị hiểu chứ? Môixe ban phúc bằng hai bàn tay, để mặc mọi người đỡ hai tay, trong khi người Hêbrơ đánh đuổi quân thù, vậy là ông ban phước bằng hai bàn tay. Vả lại kinh Phúc âm nói thế này, Imponite manus chứ không manum: Đánh lên hai bàn tay chứ không phải bàn tay.

- Với thánh Pie, mà kế vị ngài là các giáo hoàng, thì trái lại - ông giáo sĩ dòng Tên tiếp - Porrige digitas. Hãy chìa các ngón tay ra, bây giờ các vị đã hiểu chưa?

Aramis rất thoải mái trả lời:

- Nhất định thế rồi, nhưng vấn đề rất tinh tế.

- Những ngón tay! - Ông giáo sĩ tiếp - Thánh Pie ban phúc bằng những ngón tay. Vì vậy giáo hoàng cũng ban phúc bằng những ngón tay. Và ngài ban phúc bằng bao nhiêu ngón tay?

- Với ba ngón, một vị Cha, một vị con, một vị Thánh thần.

Mọi người đều làm dấu. D Artagnan cho là phải bắt chước theo.

Giáo hoàng là người kế vị Thánh Pie và đại diện cho ba quyền lực của cõi thiêng, còn lại ordines inferiores (những chức danh cấp thấp - ND) của đẳng cấp giáo chức, ban phúc nhân danh các thánh đại thiên sứ và thiên sứ. Những giáo chức tầm thường nhất, như các trợ tế, các người coi đồ thánh thì ban phúc bằng những vòi phun giả vờ như vô tận những ngón tay ban phúc. Thế là đề tài đã được đơn giản hóa Argumentum ommi denu datum ornamento(7)- Ông giáo sĩ dòng Tên tiếp - Tôi sẽ triển khai thành hai tập khổ như tập này.

Và trong lúc đang hứng khởi ông ta đấm tay lên cuốn Thánh Crixếtxtôn khổ to, làm võng cả mặt bàn dưới sức nặng của nó.

D Artagnan rùng người.

- Đúng vậy rồi, Aramis nói - Tôi xin trả lại sự đúng đắn cho những vẻ đẹp của luận thuyết đó, nhưng đồng thời tôi cũng nhận ra nó nặng nề đối với tôi. D Artagnan thân mến, tôi đã chọn cái tên bài này, anh cho biết liệu anh có thích không: Non inutile est desiderium in oblatone hoặc thế này thì hay hơn. Còn hơi luyến tiếc thì không hợp với lễ vật dâng lên Chúa.

- Dừng lại đi? - Giáo sĩ dòng Tên to tiếng - bởi cái luận đề ấy sa vào tà giáo. Có một đề thuyết gần giống như vậy trong cuốn Ôgúttinutx của tên dị giáo Jăngxêniuytx, mà sớm muộn gì cuốn sách đó cũng bị đốt bởi bàn tay đao phủ. Coi chừng, ông bạn trẻ, ông đang ngả về những tà thuyết đấy, ông có nguy cơ đấy!

- Ông có cơ nguy đấy! - Ông mục sư vừa nói vừa lắc đầu đau đớn. Ông đang đến sát cái quan điểm trứ danh của tự do ý chí nó là một mỏm đá ngầm đó. Ông đang đến gần kề những lối bóng gió của bọn Pêlagiêng và nửa Pêlagiêng(8).

- Nhưng thưa đức cha... - Aramis nói sau loạt lý sự đổ lên đầu mình như mưa đá.

Vị thầy tu dòng Tên không để chàng kịp nói tiếp:

- Làm sao ông có thể chứng minh được người ta lại luyến tiếc trần gian khi hiến thân dâng Chúa? Hãy nghe cái quan điểm hai mặt này: Chúa là chúa và trần gian là quỷ dữ, luyến tiếc trần gian là luyến tiếc quỷ dữ; đó là kết luận của tôi.

- Cũng là của tôi nữa - Ông mục sư nói.

- Nhưng làm ơn... - Aramis nói tiếp.

- Desideras diabolum(9) hơi con người bất hạnh! - Giáo sĩ dòng Tên kêu lên.

- Ông ta luyến tiếc quỹ dữ! Chà, ông bạn trẻ - Ông mục sư rên rỉ nói - đừng luyến tiếc quỷ dữ làm gì, tôi van ông đấy.

D Artagnan không buồn nghe thứ tiếng nhố nhăng ấy nữa. Chàng cảm thấy như đang trong một ngôi nhà của lũ điên, và chàng cũng sắp phát điên như họ. Có điều chàng buộc phải im miệng, vì chẳng hiểu gì về cái thứ tiếng đang nói trước mặt mình.

- Nhưng các vị hãy nghe tôi đã nào - Aramis nói tiếp với vẻ lễ độ nhưng đã bắt đầu lộ ra đôi chút bực bội. - Tôi không nói là tôi luyến tiếc - Không, tôi không bao giờ đọc lên cái câu không chính giáo ấy...

Giáo sĩ dòng Tên giơ hai tay lên trời, ông mục sư cũng làm theo:

- Không, nhưng ít nhất ông cũng phải công nhận rằng thật chẳng ra gì khi chỉ đem hiến dâng cho Chúa những gì mà mình đã hoàn toàn phát ngán. Tôi nói có đúng không, D Artagnan?

- Ừ, thì đúng! - D Artagnan nói to.

Ông mục sư và ông giáo sĩ bật người lên. Aramis nói:

- Tam đoạn luận là xuất phát điểm của tôi, thế gian không thiếu sức cám dỗ, tôi rời bỏ thế gian, vậy là tôi đã hy sinh. Thánh kinh nói một cách tích cực hơn: Hãy hy sinh cho Chúa.

- Điều đó đúng! - Những người đối lập nói.

- Và rồi - Aramis vừa tiếp tục - vừa bấm vào tai cho đỏ lên và vung vẩy hai tay cho trắng lên - Và rồi tôi đã làm một đoản khúc về vấn đề đó, năm ngoái tôi đã đưa cho ông Voatuya xem và ông ta đã hết lời khen ngợi.

- Một đoản khúc! - ông mục sư lắp lại như cái máy.

- Đọc đi! Đọc đi! D Artagnan nói to - May ra nó thay đổi không khí một chút.

- Không thay đổi gì đâu, bởi nó vẫn là tôn giáo - Aramis trả lời - Đó là thần học viết thành thơ.

- Chết cha người ta! - D Artagnan nói.

- Nó đây - Aramis nói với vẻ hơi khiêm tốn không ngoại trừ đượm màu đạo đức giả.

Anh khóc thương quá khứ đầy mê hoặc

Và gánh chịu những người bất hạnh kia

Mọi nỗi đau rồi cũng sẽ xa lìa

Khi dâng hiến lệ mình riêng cho Thượng đế

Ôi anh đang khóc thương như thế.

D Artagnan và ông mục sư tỏ vẻ khoái lỗ tai lắm. Còn giáo sĩ dòng Tên vẫn khăng khăng giữ ý kiến của mình.

- Ông hãy cẩn thận với các sở thích phàm tục trong văn phong thần học. Thật quả, thánh Augustin đã nói thế nào nhỉ? Severussti Clericsorum sermo.

- Vâng, phải để lời thuyết giáo được rõ ràng. - Ông mục sư nói.

Thấy người phụ tá của mình lạc đề, giáo sĩ dòng Tên vội ngắt lời:

- Những luận đề của ông sẽ làm đẹp lòng các quý bà, có thế thôi. Nó sẽ có được thành tích như một bài biện hộ của thầy cãi - Patru(10).

- Cầu trời, phù hộ! - Aramis tràn trề vui sướng reo lên.

- Ông thấy đấy nhé! - Tu sĩ dòng Tên nói to - Trần tục hãy còn cất cao tiếng nói trong ông. Altisima voce (tiếng Latinh: cao giọng) ông theo thế tục, ông bạn trẻ ạ, và tôi sợ rằng ơn cứu rỗi không có chút hiệu quả nào.

- Xin đức cha tôn kính yên tâm, tôi xin đảm bảo về tôi.

- Một giọng tự phụ phàm tục!

- Thưa cha, tôi hiểu mình chứ, quyết định của tôi là bất di bất dịch.

- Vậy ông vẫn bướng bỉnh theo đuổi luận đề đó?

- Tôi tự cảm thấy mình được kêu gọi xử lý luận đề đó chứ không bất kỳ luận đề nào khác, vậy tôi sẽ tiếp tục, và ngày mai, tôi hy vọng cha sẽ thỏa mãn về những điều tôi sẽ sửa lại theo ý kiến cha.

- Ông cứ làm từ từ thôi - Ông mục sư nói - chúng tôi sẽ để cho ông được chuẩn bị tốt nhất.

Giáo sĩ dòng Tên nói:

- Phải, đất đai đã được gieo hạt khắp rồi và chúng ta không có gì để sợ một phần hạt bị rơi xuống đá, một phần rơi vãi dọc đường và phần còn lại Chúa trời ăn nốt, aves coeli comederumt illam.

D Artagnan nói:

- Cho ôn dịch bóp chết cái tiếng Latinh của ngươi đi!

- Xin chào, con trai, hẹn đến mai - Ông mục sư nói.

- Hẹn đến mai, chàng trai táo tợn - tu sĩ dòng Tên nói - Ông hứa sẽ thành một trong những vầng sáng của nhà thờ, cầu trời cho vầng sáng ấy không thành một vầng lửa ngốn ngấu.

D Artagnan suốt một tiếng đồng hồ gặm móng tay sốt ruột bắt đầu gặm cả vào thịt.

Hai người mặc đồ đen đứng dậy chào Aramis và D Artagnan rồi tiến ra phía cửa. Bazin vẫn đứng đó lắng nghe cuộc cãi lý với vẻ hân hoan sùng kính, liền lao về phía họ đỡ lấy quyển kinh, đi trước để dẫn đường cho họ.

Aramis ra tiễn tới tận chân cầu thang rồi lên ngay với D Artagnan đang mơ màng.

- Còn lại mình họ, hai người bạn thoạt tiên vẫn giữ im lắng lúng túng nhưng rồi cũng phải có một trong hai người phá tan sự im lặng đó, và D Artagnan có vẻ muốn nhường vinh dự đó cho bạn mình:

- Anh thấy đấy, - Aramis nói - Anh thấy tôi trở về với những ý tưởng căn bản của mình.

- Phải, ơn cứu rỗi đã tiếp xúc với anh rồi, như các ông ấy vừa rồi đã nói đó.

- Ồ, kế hoạch rút lui đã hình thành từ lâu, và anh đã từng nghe tôi nói, có phải không, bạn tôi?

- Hẳn vậy, nhưng tôi xin thú thực tôi tưởng anh chỉ đùa thôi.

- Đùa với những loại chuyện như vậy ư? Ôi, anh D Artagnan!

- Mẹ kiếp! Đùa cả với cái chết ấy chứ?

- Và người ta đã nhầm, D Artagnan ạ, bởi cái chết chính là cửa ải, dẫn đến sự ngộ nan hoặc cứu rỗi.

- Đồng ý, nhưng làm ơn đi, đừng nói về thần học với nhau nữa, Aramis, anh chắc còn khối thì giờ để nghĩ đến chuyện đó, còn tôi, tôi xin thú thật, tôi gần như quên hết một tí vốn Latinh mà tôi chẳng bao giờ hiểu cả, tôi cũng xin thú thật với anh, từ mười giờ sáng nay, tôi chưa ăn uống gì cả và tôi đang đói chết cha đây.

- Chúng ta sẽ ăn trưa ngay thôi, bạn thân mến ạ, có điều mong anh nhớ cho, hôm nay thứ sáu, mà trong những ngày này, tôi không thể nhịn cũng không thể ăn thịt được. Nếu anh hài lòng ăn trưa với tôi, thì bữa ăn chỉ có rau tứ giác luộc với trái cây thôi.

- Rau tứ giác là loại gì vậy? - D Artagnan lo lắng hỏi.

- Là rau dền ấy mà - Aramis nói tiếp - nhưng với anh tôi sẽ thêm trứng và đấy là phạm luật nghiêm trọng rồi, vì trứng là thịt, vì trứng nở ra gà con.

- Bữa tiệc này chẳng ngon lành gì, nhưng cóc cần, để ở lại với anh, tôi chịu được hết.

- Tôi rất biết ơn anh về sự hy sinh ấy - Aramis nói - Nhưng nếu như nó không có lợi gì cho thể xác anh, nó sẽ có lợi cho tâm hồn anh, xin anh hãy tin chắc như vậy.

- Như thế, Aramis, tức là anh dứt khoát đi tu rồi. Bạn bè chúng ta sẽ nói sao, ông De Treville sẽ nói ra sao? Họ sẽ coi anh là kẻ đào ngũ tôi xin báo trước cho anh như vậy.

- Tôi không đi tu, tôi trở lại việc tu hành. Chính là vì trần thế mà tôi đã đào ngũ khỏi nhà thờ, bởi anh cũng biết rằng tôi đã tự ép buộc mình khoác áo ngự lâm quan.

- Tôi, tôi chẳng biết cái gì cả?

- Anh không biết tôi đã rời bỏ tu viện.

- Hoàn toàn không.

- Đây là chuyện của tôi. Vả lại Thánh kinh nói: "Các con hãy sám hối với nhau". Vậy tôi xin sám hối với anh, D Artagnan.

- Và tôi tôi xá tội cho anh trước, anh thấy tôi nhân từ chưa.

- Xin đừng đùa với những chuyện của thánh thần, bạn tôi ạ.

- Vậy anh nói đi tôi nghe đây:

"Tôi vào tu viện từ năm chín tuổi. Tới khi ba ngày nữa tôi tròn hai mươi tuổi, tôi sắp thành tu viện trưởng. Một việc đã được ấn định rồi. Một tối, theo thói quen tôi đi đến một ngôi nhà vẫn thích thú lui tới. Khi người ta trẻ, người ta thường yếu đuối, làm thế nào được. Một viên sĩ quan nhìn tôi bằng con mắt ghen tuông khi thấy tôi đang đọc cuốn "Những cuộc đời của Thánh nhân" cho nữ chủ nhân ngôi nhà nghe, liền bất thình lình xộc vào nhà không báo trước. Đúng buổi tối hôm ấy tôi đã dịch một mẩu chuyện của Juyđít và tôi cũng vừa đưa mấy câu thơ cho nữ chủ nhân xem, bà ta hết lời khen ngợi và ngả vào vai tôi để cùng đọc với tôi. Cái tư thế ấy có đôi chút hơi buông thả, tôi phải thú nhận như vậy và đã làm viên sĩ quan tổn thương, gã không nói gì nhưng khi tôi đi ra, hắn cũng ra theo và đuổi kịp tôi.

- Thưa ông tu viện trưởng - hắn nói - Ông có thích ăn đòn không?

- Tôi không thể nói điều ấy được, thưa ông - tôi đáp - vì không ai dám cho tôi bao giờ cả.

- Vậy nghe đây, ông tu viện trưởng, nếu ông còn trở lại ngôi nhà, mà tôi đã gặp ông tối nay, thì tôi dám đấy.

- Tôi tin là tôi cũng sợ, tôi tái hẳn người đi, cảm thấy như chân mình không còn nữa, tôi tìm một câu trả lời mà không được, tôi đành im.

Viên sĩ quan đợi câu trả lời đó và thấy mãi không có, hắn phá lên cười, quay lưng lại phía tôi và trở vào ngôi nhà. Tôi trở về tu viện.

Tôi là nhà quý tộc dòng dõi, và tôi có bầu máu nóng, như anh đã có thể nhận thấy, D Artagnan thân mến, sự lăng mạ thật là khủng khiếp mặc dầu chẳng ai biết chuyện đó, tôi vẫn cảm thấy nó sống động trong đáy tim tôi. Tôi tuyên bố với các bề trên của tôi rằng tôi cảm thấy chưa chuẩn bị đầy đủ cho việc thụ phong và theo yêu cầu của tôi, người ta lui lễ lại một năm.

Rồi tôi xin thày dạy gươm bậc nhất ở Paris, đặt điều kiện với ông mỗi ngày học một bài đấu gươm và cứ như thế tôi học trong vòng một năm. Rồi tới ngày kỷ niệm một năm tôi bị lăng nhục, tôi treo áo thày tu lên, mặc một bộ đồng phục kỵ sỹ, rồi tôi đến một vũ hội do một quý bà, bạn tôi tổ chức và tôi biết con người kia của tôi thế nào cũng có mặt. Vũ hội ở phố Những thị dân tự do cạnh ngay phố Sức mạnh.

Quả nhiên viên sĩ quan của tôi có mặt. Tôi lại gần hắn, lúc hắn đang vừa hát một ca khúc ngắn về tình yêu vừa trìu mến nhìn một phụ nữ và tôi ngắt lời hắn giữa điệp khúc thứ hai. Tôi bảo hắn:

- Thưa ông, ông vẫn không hài lòng khi tôi quay lại ngôi nhà ở phố Payen và ông không còn cho tôi xơi đòn nữa, nếu như tôi nảy ra ý nghĩ kỳ quặc không tuân lời ông đấy chứ?

Viên sĩ quan nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói:

- Ông muốn gì tôi thưa ông? Tôi không quen biết ông.

- Tôi là viên tu viện trưởng nhỏ đọc cuốn "Cuộc đời các Thánh nhân" và dịch Juyđít thành thơ ấy mà.

- À, à... Tôi nhớ ra rồi - Viên sĩ quan chớt nhả - Ông muốn gì tôi nào?

- Tôi muốn ông có chút thì giờ nhàn rỗi đi dạo một vòng với tôi.

- Sáng mai, nếu ông muốn, và sẽ không gì làm tôi vui bằng.

- Không sáng mai gì cả, yêu cầu ông ngay lập tức.

- Nếu ông dứt khoát đòi như vậy.

- Phải, tôi đòi thế đấy.

- Vậy, ra thôi; thưa các quý bà - Viên sĩ quan nói - xin cứ tự nhiên. Đủ thì giờ để giết ông đây thôi và tôi sẽ quay lại hoàn tất điệp khúc cuối hầu các quý bà.

Chúng tôi đi ra.

- Tôi dẫn hắn đến phố Payen, đúng địa điểm một năm trước, đúng đến cả giờ hắn đã chúc mừng tôi, mà tôi vừa kể đó. Trăng sáng tuyệt đẹp, chúng tôi cầm gươm và ngay miếng đầu tiên, tôi đâm hắn chết tươi.

- Khiếp nhỉ! - D Artagnan nhận xét.

Aramis tiếp tục:

- Thế rồi, vì các quý bà không thấy ca sĩ của mình trở lại, và người ta tìm thấy xác hắn ở phố Payen với một nhát gươm rất đậm xuyên qua người, người ta nghĩ chính tôi đã dính vào chuyện đó, và sự việc trở thành bê bối. Vì vậy tôi buộc phải cởi bỏ chiếc áo thày tu ít lâu. Athos mà tôi làm quen thời kỳ đó và Porthos là người đã dạy tôi thêm vài ngón gươm giang hồ ngoài những bài đấu gươm tôi đã học, cả hai quyết định tôi xin vào ngự lâm quân. Nhà Vua rất yêu quý cha tôi bị chết trong trận vây Arát nên đã ban chiếc áo ngự lâm quân cho tôi. Bây giờ, anh chắc hiểu đã đến lúc tôi phải trở lại trong sự nâng niu che chở của nhà thờ.

- Và tại sao hôm nay chứ không hôm qua hoặc ngày mai? Hôm nay cái gì đã xảy ra với anh, khiến anh có những ý nghĩ dữ tợn đến như vậy?

- D Artagnan thân mến ạ, vết thương này đã là một lời cảnh cáo của Thượng đế đối với tôi.

- Vết thương ư? Chết tiệt? Nó đã gần khỏi rồi. Tôi tin chắc không phải nó làm anh đau đớn nhất.

- Thế thì cái gì? - Aramis đỏ mặt hỏi.

- Nó ở trong tim anh cơ! Aramis, một vết thương sâu và đẫm máu hơn, một vết thương do một người đàn bà kia.

Mắt Aramis long lanh lên ngoài ý mình, chàng giấu xúc động của mình dưới vẻ giả vờ hững hờ và nói:

- Đùng nói về những chuyện ấy nữa! Tôi mà lại đi nghĩ đến những chuyện ấy ư? Lại có những sầu muộn tình yêu ư? Vanitas Vanitatum!(11) vậy theo ý anh, đầu óc tôi đã bị đảo lộn rồi ư? Và vì ai? Vì con bé lam lũ lẳng lơ nào, hay cô ả hầu phòng nào mà tôi đã tán tỉnh trong trại lính ư? Xì!

- Xin lỗi, Aramis thân mến, nhưng tôi tin anh hướng lên tầm cao hơn kia.

- Cao hơn? Và tôi là ai mà lại đi có tham vọng đến thế? Một gã ngự lâm quân khốn khổ vô cùng quẫn bách, và hết sức tối tăm, căm ghét sự quỵ lụy và cảm thấy quá ư lạc lõng trong thế giới thời lưu.

- Aramis ơi là Aramis ơi! - D Artagnan vừa kêu lên vừa nhìn bạn mình với vẻ nghi ngờ.

- Cát bụi, tôi trở về cát bụi. Cuộc đời là biển nhục, là bể khổ, chàng tiếp tục và sầm mặt lại - Mọi sợi dây gắn kết hạnh phúc với cuộc đời lần lượt bị đứt gãy trong bàn tay con người nhất là những sợi dây bằng vàng - Ôi, D Artagnan thân mến của tôi - Aramis vừa tiếp tục vừa đem đến một vẻ cay đắng nhẹ nhàng cho giọng nói của mình - hãy tin tôi, hãy giấu kín những vết thương, đi nếu anh có. Sự im lặng là niềm vui cuối cùng của những con người bất hạnh, hãy giữ đừng để bất kỳ ai biết được dấu tích của những đau khổ của anh, những kẻ tò mò sẽ bâu vào hút nước mắt anh như lũ ruồi bâu vào hút máu một con hoẵng bị thương vậy.

- Than ôi! Aramis thân mến! - D Artagnan đến lượt mình cũng thở dài nói - Chuyện anh nói cũng chính là chuyện của bản thân tôi đấy!

- Làm sao?

- Phải, một người đàn bà tôi yêu, tôi tôn thờ, vừa bị dùng bạo lực bắt cóc. Tôi không biết hiện giờ nàng ở đâu, người ta dẫn nàng tới đâu, nàng có thể là tù binh, cũng có thể nàng đã chết.

- Nhưng ít ra anh cũng có được niềm an ủi để tự bảo rằng nàng đã không tự nguyện rời bỏ anh, rằng nếu anh không có được chút tin tức nào của nàng, chính vì mọi thông tin với anh đều bị ngăn cấm, trong khi...

- Trong khi...

- Không - Aramis tiếp - không có gì.

- Như vậy, anh mãi mãi từ bỏ trần thế, một quyết định dứt khoát rồi chăng?

- Hoàn toàn mãi mãi. Hôm nay anh là bạn tôi. Ngày mai anh chỉ còn là một cái bóng với tôi mà thôi, hoặc hơn nữa, anh không tồn tại nữa. Còn thế gian, đó chính là một phần mộ chứ không phải cái gì khác.

- Quỷ sứ ơi! Điều anh nói với tôi thật quá thảm sầu!

- Anh còn muốn gì? Thiên hướng của tôi cuốn hút tôi, và bắt tôi đi!

D Artagnan mỉm cười và không trả lời. Aramis tiếp tục:

- Tuy nhiên, chừng nào tôi vẫn còn trên trái đất này, tôi vẫn muốn nghe nói về anh, về các bạn của chúng ta.

- Và tôi - D Artagnan nói - tôi lại muốn nói với anh về chính anh, nhưng tôi thấy anh đã quá tách mình ra khỏi tất cả. Những mối tình, anh không thèm nữa, bạn bè là những cái bóng, thế giới là một phần mộ.

Aramis thở dài:

- Than ôi! Rồi chính anh cũng sẽ thấy như vậy.

- Thôi không nói về những cái ấy nữa - D Artagnan nói - và ta đốt quách bức thư, chắc chắn, chỉ có thông báo cho anh biết một sự phụ bạc mới của một ả lẳng lơ hoặc một cô hầu phòng của anh mà thôi.

- Thư nào? - Aramis vội reo lên hỏi.

- Một bức thư gửi đến cho anh, anh vắng mặt, nên nhờ tôi chuyển cho anh.

- Nhưng bức thư của ai?

- À, của một hầu gái khóc lóc, một ả lam lũ lẳng lơ đang thất vọng nào đó, có thể là cô gái hầu phòng của bà De Chevreuse cũng nên, cô ta buộc phải trở lại thành Tours với nữ chủ nhân của mình, và để làm ra vẻ tao nhã đã dùng giấy thơm và đã niêm phong thư của mình bằng con dấu của nữ Công tước.

- Anh bảo sao cơ?

- Xem nào hay tôi đánh mất rồi! - D Artagnan tinh quái vừa nói vừa giả vờ tìm - May sao thế gian là một phần mộ, những người đàn ông, do đó cả những người đàn bà nữa đều là những cái bóng, và tình yêu là thứ tình cảm mà anh không thèm nữa!

- A, D Artagnan ơi là D Artagnan? - Aramis kêu lên - Cậu làm tớ chết mất thôi?

- A, nó đây rồi! - D Artagnan nói. Và chàng rút bức thư ra khỏi túi.

Aramis chồm đến giật lấy bức thư bóc ra đọc, đúng hơn là ngốn ngấu, mặt bừng sáng lên.

- Hình như ả hầu gái văn phong hay lắm! - Người đưa thư uể oải nói.

- Cám ơn D Artagnan! - Aramis sướng mê lên rối rít - Nàng buộc phải trở lại thành Tours. Nàng không phụ bạc mình. Lại đây, lại đây cho mình ôm hôn bạn. Mình đến ngất vì sung sướng mất!

Và hai người bạn ôm lấy nhau nhảy múa xung quanh cuốn kinh Thánh Critxtôm giẫm đạp một cách can trường lên những trang luận văn lăn lóc trên sàn nhà.

Đúng lúc đó, Bazin bước vào cùng với rau dền và trứng rán.

Aramis ném cái mũ chỏm thầy tu vào mặt gã hét lên:

- Tếch đi, đồ khốn kiếp? Từ đâu đến hãy xéo về đấy! Mang hết những thứ rau hãi hùng và món phụ ghê tởm này đi! Gọi một thỏ rừng nấu chua, một gà thiến béo, một đùi cừu ướp tỏi và bốn chai Buốcgô lâu năm cho ta.

Bazin ngơ ngác nhìn chủ chả hiểu gì về sự thay đổi ấy cả, rầu rĩ mặc cho trứng rớt xuống rau và rau rớt xuống sàn.

D Artagnan thấy vậy nói:

- Giờ đây là lúc cống hiến đời anh cho Đức Vua của các Nhà vua, nếu anh còn định giữ chút lễ nghĩa với người. Non inutile desderium in oblatione.

- Vứt mẹ nó thứ tiếng Latinh của cậu cho quỷ sứ đi!

- D Artagnan thân mến. Chúng ta hãy uống! Mẹ kiếp! Uống tươi uơng sống! Uống thật nhiều vào, và kể cho mình nghe người ta làm gì ở đó đi?

Chương 27

Người vợ của Athos

Sau khi đã kể cho chàng Aramis lanh lợi biết rõ mọi việc diễn ra ở kinh đô từ khi họ ra đi và một bữa trưa thịnh soạn làm cho người thì quên đi bản luận văn, người thì quên hẳn nỗi mệt nhọc, D Artagnan nói:

- Bây giờ việc còn lại là phải biết tin tức về Athos.

- Cậu tin anh ấy gặp bất hạnh ư? - Aramis hỏi - Anh Athos rất chi lạnh tính, rất can trường và là tay gươm rất giỏi kia mà.

- Hẳn thế rồi, và không ai biết rõ hơn tôi về lòng can đảm và tay gươm tuyệt vời của Athos. Nhưng tôi thích gươm tôi đấu với giáo hơn là với gậy. Tôi sợ rằng anh Athos sẽ bị bọn gia nhân quần cho tơi bời, mà lũ gia nhân thì chúng đánh dữ và dai lắm. Vì vậy mà tôi phải thú thật với anh, tôi muốn lại ra đi ngay càng sớm càng tốt.

- Mình sẽ cố đi cùng với cậu - Aramis nói - cho dù mình cảm thấy chưa đủ sức lên ngựa mấy. Hôm qua, mình đã thử dùng cái roi hành xác treo trên tường đó, và đau quá mình không thể tiếp tục được cái bài tập thành kính ấy.

- Chính thế đấy, bạn thân mến, chả ai bao giờ thấy việc thử chứa một phát đạn hỏa mai bằng vụt roi vào người cả. Nhưng anh còn ốm, và ốm đau làm cho đầu óc không tỉnh táo, tôi bỏ qua cho anh. Mai, sớm tinh mơ. Đêm nay anh cứ ngủ cho thật tốt vào, và ngày mai, nếu anh có thể, chúng ta sẽ cùng đi.

- Vậy để đến mai - Aramis nói - vì dù có xương đồng da sắt đi nữa, cậu cũng cần phải nghỉ ngơi.

Hôm sau, khi D Artagnan bước vào phòng Aramis, đã thấy Aramis ở cửa sổ, D Artagnan hỏi:

- Anh nhìn gì ở đó thế?

- Thú thật! Tôi đang chiêm ngưỡng ba con ngựa đẹp lộng lẫy mà bọn trai coi ngựa đang giữ cương. Cưỡi những con ngựa đó mà đi du hành thì sướng như ông hoàng.

- Thế thì anh Aramis thân mến của tôi ơi, anh hãy sướng đi bởi vì một trong mấy con ngựa đó là của anh.

- Thật không? Thế con nào?

- Con anh thích nhất trong ba con ấy, tôi thì con nào cũng thế thôi.

- Và cả tấm thảm đắt giá phủ lưng ngựa cũng là của tôi?

- Chắc chắn rồi.

- Cậu định giỡn tôi chắc, D Artagnan?

- Từ lúc anh nói tiếng Pháp, tôi không còn giỡn anh nữa.

- Cả những bao súng ngắn mạ vàng, tấm nhung phủ hông ngựa, bộ yên ghim đinh bạc cũng là của tôi?

- Của chính anh, cũng như con ngựa đang dậm chân là của tôi và cái con đang nhảy nhót kia là của Athos.

- Mẹ kiếp! Đúng là ba con ngựa tuyệt luân?

- Tôi rất mừng vì chúng hợp với sở thích của anh.

- Vậy là nhà Vua đã ban tặng cậu món quà đó ư?

- Chắc chắn không phải của Giáo chủ rồi. Nhưng anh đừng bận tâm chúng từ đâu đến, hãy nghĩ một trong ba con thuộc của anh thôi.

- Mình lấy cái con thằng hầu tóc hung đang giữ ấy.

- Cừ lắm!

- Thượng đế muôn năm! - Aramis reo lên - Thế này thì còn đau ở đâu cũng sẽ hết. Ba mươi phát đạn vào người, mình vẫn sẽ phi nó cho mà xem. Ôi, thề trên linh hồn mình đó, những cái bàn đạp mới đẹp tuyệt chứ! Ê, nào, Bazin đâu, đến đây ngay tức khắc đi!

Bazin rầu rĩ và héo úa người đi, hiện ra trước cửa.

- Lau chuốt thanh gươm của ta, nắn lại mũ, chải lại áo khoác và nạp đạn thuốc vào mấy súng ngắn cho ta.

D Artagnan ngắt lời:

- Không cần lời dặn cuối đâu. Đã có sẵn súng ngắn nạp thuốc rồi trong các bao súng.

Bazin thở dài.

- Thôi nào, thầy Bazin, yên tâm đi - D Artagnan nói - - Người ta có thể đến được vương quốc cái thiên thần trong mọi hoàn cảnh mà.

- Ông chủ đã từng là một nhà thần học tài ba! - Bazin nói mà rưng rưng nước mắt - Ông ấy có thể trở thành giám mục hoặc hồng y Giáo chủ ấy chứ.

- Thôi nào! Bazin khốn khổ của ta ơi, đừng nghĩ ngợi làm gì. Là người tu hành thì làm được cái gì, ta xin anh đấy. Mà tu hành thì có tránh ra trận được đâu. Anh thừa biết Giáo chủ ra trận lần đầu với cái mũ bình thiên và ngọn giáo trong tay. Còn ông Nôgarê đờ la Valét, anh nói thế nào? Ông ta cũng là Giáo chủ đấy. Thử hỏi lính hầu của ông ta xem bao nhiêu lần phải băng bó cho ông ta?

- Ôi! Bazin thở dài - tôi cũng biết thế, thưa ông, ngày nay mọi chuyện trong thế giới đều lộn tùng phèo hết.

Trong khi đó, hai chàng trai trẻ và gã người hầu khốn khổ cùng đi xuống. Rồi Aramis nói:

- Giữ bàn đạp cho ra, Bazin.

Rồi Aramis nhẹ nhàng, duyên dáng nhảy tót lên yên ngựa như mọi khi, nhưng chỉ sau mấy lần con ngựa quý nhảy cỡn và chồm lên, chàng kỵ sĩ của nó cảm thấy đau không chịu nổi, tái người đi và lảo đảo. D Artagnan đã tiên liệu tai nạn đó, nên vẫn không rời mắt, liền chạy băng tới, đỡ xuơng và dẫn bạn mình về phòng rồi bảo:

- Tốt rồi, Aramis thân mến, anh cứ chữa trị đi, tôi sẽ đi một mình tìm Athos.

- Cậu đúng là một con người thép - Aramis nói.

- Không, tôi may hơn, có thế thôi. Nhưng trong khi đợi tôi, anh sẽ sống ra sao? Không còn những lời chú giải về số ngón tay ban phúc và những lời ban phúc nữa chứ, hả?

Aramis mỉm cười, nói:

- Mình sẽ làm thơ.

- Phải đấy, những vần thơ thơm nức mùi nước hoa bức thư ngắn của ả hầu bà De Chevreuse. Anh hãy dạy âm vận thơ cho Bazin đi, cái đó sẽ an ủi gã. Còn con ngựa, hàng ngày cưỡi nó một chút để điều khiển nó cho quen đi.

- Ồ về chuyện đó, cậu cứ yên tâm - Aramis nói - Khi trở lại cậu sẽ thấy mình đã sẵn sàng theo cậu rồi.

Họ chào tạm biệt nhau, và sau khi đã ủy thác bạn mình cho Bazin và bà chủ quán, D Artagnan cho ngựa đi nước kiệu về phía Amiêng.

Chàng sẽ tìm Athos thế nào đây và liệu có tìm thấy không? Chàng đã để bạn mình lại trong tình thế hiểm nghèo. Người bạn thở dài khiến chàng buông khẽ những lời thề báo hận.

Trong tất cả số bạn bè, Athos là người nhiều tuổi nhất, và bề ngoài ít gần với sở thích và tình cảm của chàng nhất. Tuy nhiên, chàng lại ưa thích con người quý tộc ấy rõ rệt nhất. Phong thái cao quý và thanh lịch của anh ấy, tầm lớn lao của anh thỉnh thoảng lại lóe sáng từ vùng bóng tối mà anh tự nguyện giấu mình vào, tính tình điềm tĩnh không suy suyển khiến anh là người bạn dễ dãi nhất trên đời, niềm vui bất đắc dĩ và cay đắng, sự can trường có thể gọi là mù quáng nếu không phải là kết quả của sự bình tĩnh hiếm hoi nhất, bấy nhiêu phẩm chất ấy của anh khiến chàng hết lòng ngưỡng mộ và còn hơn cả chỉ là quý trọng và bạn bè thân thiết với anh.

Quả thật, đem so sánh ngay với ông De Treville, một triều thần tao nhã và cao quý, Athos trong những ngày anh vui vẻ, anh còn có phần hơn. Vóc người tầm thước, nhưng thân hình lại quá ư cân đối, và tuyệt đẹp, mà, nhiều lần trong những cuộc đấu sức anh đã quật đổ Porthos, gã khổng lồ mà sức mạnh thể xác đã trở thành huyền thoại trong ngự lâm quân. Khuôn mặt với đôi mắt sắc, mũi thẳng, với chiếc cằm như tượng tạc kiểu cằm của Brutus(1); một tính cách cao thượng và duyên dáng khó xác định; đôi bàn tay không hề chăm chút nhưng vẫn làm cho Aramis phải thất vọng mặc dầu chàng ra sức chăm sóc tay mình bằng kem hạnh nhân và dầu thơm; giọng nói của anh nghe thấm thía lại du dương, và rồi, cái khó xác định trong người Athos, người luôn luôn tỏ ra thấp kém và lu mờ, cái đó chính là cái khoa học về thời lưu và về những lề thói của cái xã hội sáng giá nhất, cái thói quen của một nhà dòng dõi tự lộ ra mà không hề hay biết trong những hành động nhỏ nhặt nhất của mình.

Về mặt ăn uống, Athos đặt ăn giỏi hơn bất kỳ ai, xếp khách ăn đúng chỗ và đúng ngôi thứ mà tổ tiên hoặc chính bản thân họ đã tạo ra cho mình. Về khoa huân huy chương, Athos thông thạo mọi gia tộc quý phái trong vương quốc, phả hệ của họ, sự liên minh giữa các dòng họ, gia huy và nguồn gốc gia huy. Về nghi thức anh biết đến từng chi tiết. Anh biết rõ quyền lợi của các đại điền chủ là thế nào. Anh biết sâu sắc cách săn bắn bằng chó và chim ưng, và một hôm nhân đàm đạo về cái nghệ thuật lớn này, anh làm Vua Louis XIII phải ngạc nhiên, trong khi đó, bản thân nhà Vua thuộc lại bậc thầy.

Cũng như các đại lãnh chúa thời ấy, anh cưỡi ngựa và sử dụng vũ khí thuộc loại thiện nghệ. Thêm nữa việc học hành của anh không một chút xao lãng, ngay cả trong lĩnh vực kinh viện học rất hiếm thấy trong giới quý tộc, anh chỉ mỉm cười khi Aramis phun ra mấy câu Latinh cụt ngủn, còn Porthos thì ra vẻ hiểu. Vài ba lần khi Aramis để lộ ra một sai lầm sơ đẳng nào đó, đặt động từ không đúng thời, một danh từ không đúng cách, Athos đã sửa lại trước sự ngạc nhiên vô cùng của các bạn. Ngoài ra, tính chính trực của anh là không thể lay chuyển được trong cái thế kỷ mà các quân nhân quá dễ dàng coi nhẹ tôn giáo và lương tâm của mình, các tình nhân quá dễ dàng coi nhẹ sự tế nhị nghiêm ngặt của thời đại chúng ta, và những người nghèo coi nhẹ dễ dàng đối với điều răn thứ bẩy của Chúa. Vì vậy, Athos quả là một con người rất phi thường.

Và tuy vậy cái bản tính quá ưu việt, cái sinh linh quá tốt đẹp cái khí chất quá tinh tế ấy quay lại một cách vô cảm với cuộc sống vật chất, cũng như các cụ già quay lại với sự ngây ngô về thể xác và tinh thần. Athos trong những giờ phút thiếu thốn đó, mà những giờ phút đó lại khá thường xuyên đã tự tắt trong cái phần tỏa sáng của mình và cái mặt ngời ngời của anh bị biến mất trong đêm trường sâu thẳm.

Thế là phần bán thần tàn lụi, anh chỉ còn gần như một con người. Đầu gằm xuống, mắt lơ mơ, lời nói nặng nề và khó khăn. Athos nhìn hàng mấy giờ liền hoặc cái chai và chiếc cốc, hoặc Grimaud, kẻ đã quen vâng lời bằng tín hiệu và đọc được trong con mắt vô sắc của chủ mình cả tới những ước muốn tầm thường nhất để thỏa mãn chủ ngay tức khắc. Giá như bốn người bạn tụ hội vào nước lúc như thế, hết sức cố gắng thất ra được một lời để góp vui vào câu chuyện cũng là hết mức đối với Athos rồi. Đổi lại, Athos một mình uống bằng bốn người và tuy uống như thế, nhưng anh tựa như không có gì thay đổi ngoài sự cau mày lộ liễu hơn và nỗi buồn sâu sắc hơn.

D Artagnan như ta đã biết, vốn có óc xét đoán và sắc sảo, dù có đôi chút quan tâm để thỏa mãn tính hiếu kỳ của mình về chuyện đó, cũng vẫn không thể gán cho nó bất kỳ nguyên nhân nào, hoặc xác định được do hoàn cảnh nào đã dẫn đến tình trạng suy sụp đó của Athos. Không bao giờ Athos nhận được thư từ, cũng chẳng bao giờ tiến hành một việc gì mà các bạn không biết.

Không thể nói rượu đem lại cho anh nỗi sầu muộn đó, trái lại anh chỉ uống để dẹp nỗi buồn sầu mà phương thuốc đó càng làm thêm u uất hơn. Cũng không thể gán cho cái vẻ u sầu thái quá ấy do thua bạc vì trái hẳn với Porthos tùy theo lúc đỏ đen thường hát ca hay chửi rủa, Athos dù thua dù được vẫn bình thản như không. Người ta đã từng thấy anh tại câu lạc bộ ngự lâm quân một tối được một nghìn đồng vàng, rồi lại thua hết, và mất cả chiếc đai lưng thêu sợi vàng dùng trong ngày hội, rồi lại được tất cả cộng thêm một trăm đồng vàng louis nữa, mà đôi lông mày đẹp và đen nhánh của anh không hề dướn lên hay cúp xuống, mà đôi bàn tay anh không hề mất đi vẻ ngà ngọc, và việc chuyện trò vui vẻ tối đó không vì thế mà không bình tĩnh và thoải mái.

Càng không phải, như những người láng giềng Anh quốc do ảnh hưởng của khí hậu mà sầm tối mặt mày, bởi nỗi sầu muộn đó càng thấm đậm hơn vào những ngày đẹp trời trong năm.

Tháng sáu và tháng bảy là những tháng khủng khiếp của Athos. Đối với cuộc sống hiện tại, anh không có gì buồn phiền, anh nhún vai khi người ta nói với anh về tương lai. Bí mật của anh đã thuộc về quá khứ, như người ta đã nói một cách mơ hồ với D Artagnan.

Cái sắc dạng bí ẩn nhuốm màu trên khắp người anh, khiến cái con người trong lúc say sưa túy lúy nhất, đôi mắt và cái miệng cũng không bao giờ hé ra điều gì dù những câu hỏi dò xét được đưa ra khéo léo nhất, càng được người ta mến mộ hơn.

D Artagnan lẩm bẩm giờ này Athos tội nghiệp có khi đã chết rồi, mà chết do lỗi của ta, bởi chính ta đã lôi anh vào việc này, mà anh lại không biết gốc gác, chẳng rõ kết quả, và cũng chẳng được lợi lộc gì.

- Chưa kể, thưa ông - Planchet trả lời - Chúng ta sống có lẽ là nhờ ông Athos. Ông có nhớ ông ấy đã kêu lên: "Chạy đi, D Artagnan, tôi bị tóm rồi". Và sau khi đã nổ hai phát súng ngắn, tiếng gươm vun vút của ông ấy mới khủng khiếp làm sao!

- Có thể nói đến hai chục người, đúng hơn là hai chục quỷ dữ đang điên dại!

Những lời nói ấy làm tăng gấp bội bầu máu nóng của D Artagnan, chàng thúc ngựa, mà con ngựa thì chẳng cần phải thúc cũng đã mang người kỵ sỹ của mình phi nước đại rồi.

Khoảng mười một giờ sáng thì trông thấy Amiêng, và mười một rưỡi, hai người đã tới trước cửa cái quán trọ đáng nguyền rủa.

D Artagnan vẫn thường luôn suy tính đến một cuộc trả thù thích đáng tên chủ quán điên đảo này họa chăng mới thỏa lòng chàng. Chàng kéo mũ dạ sụp xuống che mắt, tay trái giữ chuôi gươm tay phải quất roi ngựa vun vút bước vào quán trọ.

- Ông còn nhớ tôi chứ? - chàng nói với chủ quán đang tiến ra để chào khách.

- Thưa quý ông, tôi không có được cái vinh dự ấy - gã trả lời, mắt còn đang lóa lên vì đoàn người ngựa quý giá xuất hiện cùng với chàng.

- Chà, ông lại không biết ta ư?

- Không, thưa quý ông.

- Thôi được! Chỉ mấy câu hỏi là làm ông nhớ hết thôi. Ông đã làm gì nhà quý tộc cách đây khoảng mười lăm ngày, đã bị ông cả gan buộc tội làm bạc giả?

Chủ quán xanh mặt, bởi D Artagnan tỏ thái độ hăm đọa dữ tợn nhất, và Planchet cũng làm y như chủ mình.

- Ôi thưa Đức ông, xin đừng nói với tôi về chuyện ấy, - tên chủ quán kêu lên bằng một giọng muốn khóc - Ôi! Thưa đại nhân, tôi đã phải trả giá đắt chừng nào về cái lỗi lầm này. Ôi, khốn nạn cái thân tôi!

- Nhà quý tộc, ta hỏi ông, bây giờ ra sao?

- Xin Đức ông nghe tôi nói, và xin đại lượng từ bi, xin làm phúc hãy ngồi xuống đã nào.

D Artagnan giận và lo không nói được ra lời, ngồi xuống, hầm hầm như một quan tòa. Planchet ngạo nghễ tựa lưng vào ghế bành của mình.

- Thưa Đức ông, chuyện là như thế này - chủ quán run như cầy sấy nói tiếp - vì lúc này tôi đã nhận ra ngài rồi, ngài là người đã đi mất khi tôi mắc vào cái chuyện rắc rối khốn khổ với nhà quý tộc mà ngài nói.

- Phải, chính ta, như vậy, ông thừa biết, ông đừng mong ta tha tội, nếu ông không nói toàn bộ sự thật cho ta!

- Vậy mong hãy nghe tôi, và ngài sẽ rõ tất cả.

- Ta nghe đây.

- Tôi đã được nhà đương cục báo trước một tên làm bạc giả trứ danh sẽ đến quán trọ tôi với mấy tên đồng bọn tất cả đều cải trang dưới trang phục cận vệ hoặc ngự lâm quân. Ngựa, người hầu và hình dạng các vị đều được miêu tả cho tôi rõ.

D Artagnan nhận ra ngay do đâu có sự chỉ điểm chính xác đến như thế. Chàng hỏi:

- Rồi sao nữa? Sao nữa?

- Vậy là được nhà đương cục phái đến sáu người tiếp viện, và ra lệnh cho tôi, tôi đã sử dụng những biện pháp mà tôi cho là khẩn cấp để bắt giữ kỳ được mấy người bị mạo danh làm bạc gia.

Nghe mấy tiếng làm bạc giả. D Artagnan nóng rực tai lên:

- Lại vẫn nói thế hả?

- Xin Đức ông tha thứ, vì đã chót nói ra những điều như vậy, nhưng đây thật ra chỉ là cái cớ của tôi thôi. Nhà cầm quyền làm tôi sợ và ngài cũng biết một chủ quán thì phải biết làm theo nhà cầm quyền.

- Nhưng một lần nữa ta hỏi đây, nhà quý tộc ấy ở đâu? Ông ấy ra sao? Còn sống hay đã chết?

- Thưa Đức ông, xin hãy kiên nhẫn một chút, tôi nói ngay bây giờ đây. Vậy là xảy đến cái điều ngài đã biết, mà việc ra đi đột ngột của ngài - chủ quán nói thêm với vẻ ranh ma không lọt khỏi con mắt của D Artagnan - việc ra đi ấy dường như đã cho phép có lối thoát. Nhà quý tộc, bạn ngài chống cự tuyệt vọng.

- Người hầu của ông ấy chẳng may vô tình gây sự với các nhân viên của nhà chức trách cải trang làm bồi coi chuồng ngựa.

- Chà, quân khốn kiếp! - D Artagnan hét lên - tất cả bọn ngươi đã đồng lõa với nhau, ta không hiểu vì cái gì mà chưa giết sạch lũ ngươi!

- Ôi, không, thưa Đức ông, chúng tôi không đồng lõa cả lũ với nhau đâu, rồi Đức ông sẽ thấy ngay thôi. Ngài bạn của Đức ông (tôi xin lỗi vì không biết tên) sau khi đã loại khỏi vòng chiến hai người bằng hai phát súng ngắn, vừa đánh chống đỡ để rút lui bằng lưỡi gươm của mình, rồi đâm què thêm một người nữa của tôi và dùng mặt gươm quật tôi bất tỉnh.

- Nhưng, tên đao phủ kia, mi có chấm dứt đi không? - D Artagnan nói - Athos, ông Athos ra sao kia?

- Vừa đánh vừa lùi, như tôi đã nói với ngài, ông ấy thấy phía sau mình cầu thang của hầm rượu và vì cửa đang mở, ông ấy rút chìa khóa cất đi và chặn lại từ bên trong, vì người ta tin chắc có thể tìm lại ông ấy, họ để mặc cho ông ấy tự do.

- Phải - D Artagnan nói - người ta chưa định giết ông ấy nên mới chỉ tìm cách cầm tù ông ấy thôi.

- Trời ơi. Cầm tù ông ấy ư, thưa Đức ông? Ông ấy tự cầm tù thì có, tôi xin thề đấy. Lúc đầu ông ấy đã làm một việc khốc liệt: một người bị chết tươi và hai bị thương nặng. Người chết và hai người bị thương được đồng đội khênh đi và tôi chẳng còn nghe thấy nói năng gì về người này, người khác trong bọn họ nữa. Bản thân tôi khi tỉnh lại, tôi đến gặp ông trấn thủ kể lại mọi chuyện và hỏi tôi phải làm gì với người tù. Nhưng ông trấn thủ như rơi từ trên mây xuống, ông nói hoàn toàn chẳng hay biết gì điều tôi muốn nói, và những mệnh lệnh đến với tôi không phải do ông ban ra, và nếu tôi vô phúc nói ra với bất kỳ ai là ông có chút dính dáng đến cuộc xung đột này. Ông sẽ cho treo cổ tôi.

- Thưa ông, có vẻ như tôi đã bắt giữ nhầm người này thay cho người khác và người đáng ra phải bị bắt đã trốn thoát.

Thấy nói nhà cầm quyền bỏ mặc câu chuyện, D Artagnan càng sốt ruột gấp bội và hét lên:

- Nhưng còn Athos? Athos ra sao?

- Tôi vội sửa chữa ngay những sai lầm của tôi đối với người tù - chủ quán tiếp - tôi đến hầm rượu và định thả ông ra. Ôi! Thưa ông, không phải một con người nữa mà là một con quỷ. Về việc đề nghị thả, ông tuyên bố đấy là một cái bẫy giăng ra bắt ông và trước khi ra, ông buộc phải tuân theo các điều kiện của ông. Tôi hạ mình hết mức nói với ông rằng tôi sẵn sàng tuân chịu những điều kiện của ông, bởi tôi chẳng giấu cái tình cảnh tồi tệ tôi tự chuốc lấy vì đã dám ra tay với một ngự lâm quân của Hoàng thượng. Thế rồi ông bảo tôi: "Trước hết, ta muốn trả người hầu được trang bị vũ khí cho ta".

Chúng tôi vội tuân lệnh ngay, bởi vì ngài thừa hiểu, chúng tôi bị đặt vào tình thế phải làm tất cả những gì bạn ngài muốn.

Ông Grimaud, ông ấy đã nói tên ra, và chỉ thế thôi, được đưa xuống hầm, vẫn đầy mình thương tích. Thế rồi, ông chủ nhận người hầu xong lại chặn cửa lại và ra lệnh cho chúng tôi cứ ở trong cửa hàng.

- Nhưng rốt cuộc - D Artagnan lại hét lên - Ông ấy ở đâu? Athos ở đâu rồi?

- Trong hầm rượu, thưa ông.

- Sao, đồ khốn kiếp, mi giữ ông ấy trong hầm rượu từ bấy đến nay ư?

- Trời đất quỷ thần ơi! Đâu có, thưa ngài. Chúng tôi mà lại giữ được ông ấy trong hầm! Vậy ngài không biết ông ấy làm gì trong hầm ư? Ôi, nếu ngài có thể làm ông ấy chịu ra, tôi sẽ suốt đời biết ơn ngài, tôi xin thờ ngài như vị thánh tổ của tôi.

- Nghĩa là ông ta vẫn ở đó? Ta sẽ tìm lại được ông ta ở đó?

- Chắc chắn rồi, thưa ngài, ông ấy cứ khăng khăng ở lại. Hàng ngày, phải đưa bánh và thịt bằng một cái xỉa qua lỗ thông hơi khi ông yêu cầu. Nhưng than ôi! Không phải bánh và thịt là khoản tiêu thụ lớn nhất của ông. Một bữa, tôi cùng hai gã hầu bàn định thử xuống hầm nhưng ông liền nổi giận khủng khiếp.

- Tôi nghe thấy tiếng ông ấy nạp đạn vào súng ngắn và Grimaud nạp đạn vào súng trường. Rồi vì là chúng tôi hỏi các ông có ý định gì, ông chủ trả lời rằng thầy trò ông ấy có bốn chục viên đạn và sẽ bắn đến phát cuối cùng còn hơn cho phép bất kỳ ai trong chúng tôi đặt chân xuống hầm. Thưa ông, thế là tôi lại đến kêu với ông trấn thủ, ông trả lời rằng thế mới đáng kiếp cho tôi, và việc đó sẽ dạy cho tôi biết thế nào là lăng nhục các vị đại nhân đáng kính đến trọ ở quán tôi.

- Thành ra từ lúc đó... - D Artagnan không thể nhịn cười trước bộ mặt thiểu não của chủ quán, liền hỏi.

- Từ lúc đó, thưa ngài, đời sống chúng tôi trở nên cực kỳ bi đát, bởi vì ngài phải biết rằng tất cả nguồn thực phẩm của chúng tôi đều ở dưới hầm, nào là vang chai, vang thùng, bia, dầu, gia vị, mỡ, và xúc xích, và vì bị cấm được xuống, chúng tôi buộc phải từ chối lữ khách tới trọ gọi uống, gọi ăn đến nỗi ngày nào lữ quán chúng tôi cũng mất khách. Bạn ngài chỉ ở thêm một tuần lễ nữa dưới hầm là chúng tôi phá sản.

- Thế mới công bằng, đồ vô lại ạ? Nhìn dáng bộ chúng ta lại không biết chúng tôi là những con người danh giá chứ không phải đồ giả mạo hay sao?

- Vâng, thưa ông, ông nói đúng - chủ quán nói - Nhưng, xem nào, xem nào, ông ấy lại nổi giận đấy.

- Chắc hẳn lại quấy rầy ông ấy chứ gì? - D Artagnan nói.

- Nhưng đành phải quấy rầy ông ấy thôi. - Chủ quán nói - vì mới có hai vị quý tộc người Anh đến quán chúng tôi.

- Thì sao?

- Thì thế đấy! Bọn người Anh thích vang ngon như ông biết đấy. Bọn họ đòi loại thượng hạng. Vợ tôi chắc có lẽ đến van xin ngài Athos cho phép xuống hầm để thỏa mãn các vị kia. Và ông ấy chắc đã từ chối như thường lệ, ôi trời đất ơi, tiếng la hét, mắng nhiếc lại tăng lên gấp bội.

Quả nhiên, D Artagnan cũng nghe thấy tiếng ầm ầm cạnh hầm rượu. Chàng liền đứng dậy, đi trước là chủ quán vừa đi vừa vặn vẹo hai tay, và theo sau là Planchet cầm theo súng trường đã nạp đạn, đến gần chỗ xảy ra cảnh náo loạn.

Hai nhà quý tộc Anh đang nổi cáu, họ đã đi một đoạn đường dài và đang sắp chết đói và chết khát.

- Nhưng như thế là bạo hành quá đáng! - Bọn họ hét lên bằng tiếng Pháp rất chuẩn, tuy có hơi lơ lớ giọng nước ngoài - Cái lão điên này lại không cho những con người tốt này sử dụng rượu vang của họ. Đã thế thì chúng tôi sẽ phá cửa mà vào và nếu hắn điên quá, chúng tôi giết béng hắn đi thế là xong.

- Đứng lại các vị! - D Artagnan vừa nói vừa rút hai khẩu súng ngắn ở đai lưng ra. Các vị sẽ không giết ai hết, xin vui lòng vậy - Tốt thôi, tốt thôi! - Tiếng của Athos bên sau cánh cửa bình tĩnh phát ra - cứ để bọn ăn thịt trẻ con ấy vào thử một chút xem sao nào.

Có vẻ rất can trường thế đấy, nhưng hai nhà quý tộc người Anh nhìn nhau ngại ngùng. Người ta đồn trong hầm rượu có một con quỷ đói, gã khổng lồ trong huyền thoại dân gian mà không ai vào trong hang của nó mà không bị trừng phạt. Lặng đi một lúc, cuối cùng người Anh sợ lùi sẽ xấu hổ, và gã bẳn tính hơn bằng hai bước đã xuống năm sáu bậc thang và đập mạnh vào cửa tưởng đến vỡ cả tường.

- Planchet - D Artagnan vừa nói vừa lên đạn hai khẩu súng ngắn - ta đảm nhiệm tên đứng trên, còn anh thằng phía dưới.

- Này các vị, các vị muốn giao chiến! Thế thì người ta đến để giao chiến với các vị!

- Trời ơi! - Giọng trầm sâu của Athos hét toáng lên - Hình như ta nghe thấy tiếng D Artagnan.

- Đúng đấy - D Artagnan cũng cao giọng nói vọng vào - chính tôi đây, bạn ạ.

- A, tốt lắm, - Athos nói - Ta quần cho cái bọn phá cửa này một trận chứ.

Mấy người quý tộc kia đã lăm lăm tay gươm, nhưng họ thấy mình giữa hai làn đạn nên lừng chừng thêm một lát, nhưng cũng như lần trước lòng kiêu hãnh đã thắng và thêm một cái đạp chân làm vỡ cánh cửa suốt từ trên xuống.

Athos kêu lên:

- Tránh ra, D Artagnan, tránh ra đi, tôi bắn đấy.

- Các vị! - D Artagnan nói, - hãy kiên nhẫn đã các vị tự nhiên đâm đầu vào một chuyện tồi tệ, và chỉ tổ nát người. Tôi và người hầu của tôi đây sẽ nã vào các vị ba phát và cũng ngần ấy phát từ trong hầm rượu tương ra các vị. Rồi chúng tôi lại còn gươm nữa chứ, mà tôi xin đảm bảo với các vị tôi và bạn tôi sử dụng cũng kha khá. Vậy hãy để tôi thu xếp việc của các vị với việc của tôi. Tôi xin hứa danh dự chỉ chốc nữa các vị sẽ được uống ngay thôi.

- Nếu như còn rượu - giọng Athos làu bàu giễu cợt.

Gã chủ quán cảm thấy một dòng mồ hôi lạnh chạy dọc xương sống.

- Sao, nếu như còn rượu ư? - Gã lẩm bẩm.

- Con khỉ ạ? Sẽ còn tôi - D Artagnan tiếp - cứ bình tĩnh nào, có hai người làm sao uống hết cả hầm rượu, còn các vị, tra gươm vào vỏ đi. Thế thì ông cũng cài súng vào đai lưng đi!

- Xin sẵn sàng.

Và D Artagnan làm gương trước. Rồi quay lại phía Planchet, chàng ra hiệu tháo đạn súng trường.

Bọn người Anh đã tin chắc, làu bàu tra gươm vào vỏ. Người ta kể lại cho họ chuyện Athos bị cầm tù. Và vì họ là những nhà quý tộc đứng đắn nên họ cho lỗi là ở tại chủ quán.

- Bây giờ thưa các vị - D Artagnan nói - xin mời các vị trở về phòng mình, và trong mười phút, tôi đảm bảo người ta sẽ mang tới cho các vị tất cả những gì các vị muốn.

Bọn người Anh chào và đi ra.

- Bây giờ còn lại có mình tôi - D Artagnan nói - Anh Athos thân mến ạ, mở cửa cho tôi đi, tôi xin anh đấy.

- Mở ngay đây - Athos nói.

- Thế là người ta nghe thấy tiếng rầm rầm của những thanh gỗ đập vào nhau và của những dầm nhà kêu kẽo kẹt. Đó là những ụ chống và pháo đài của Athos, mà bản thân kẻ bị vây hãm đang phá hủy.

Một lát sau cái cửa rùng rùng chuyển động, bộ mặt xanh xao của Athos hiện ra và đảo mắt rất nhanh dò xét xung quanh.

D Artagnan nhảy lên bá cổ và ôm hôn trìu mến Athos. Rồi khi chàng định lôi anh ra khỏi nơi trú ngụ ẩm thấp, thì chỉ đến lúc đó chàng mói thấy anh đang lảo đảo:

- Anh bị thương ư? - Chàng hỏi.

- Tôi ư? Không đời nào. Chỉ bí tỉ, thế thôi. Và chả có ai bao giờ lại có thể say hơn như thế. Chúa trời muôn năm, chủ quán ơi! Riêng phần tôi, ít nhất cũng phải uống đến một trăm năm chục chai đấy.

- Khốn nạn thân tôi! - chủ quán kêu lên - Nếu người hầu của ông chỉ uống bằng phân nửa chủ mình thì tôi cũng đến phá sản mất.

- Grimaud là một người hầu dòng dõi thế gia, không cho phép mình tầm thường như tôi đâu. Hắn chỉ uống ở thùng thôi. Xem nào, tôi tin là hắn quên đóng nắp lỗ thùng. Các ông nghe thấy không? Nó đang chảy đấy.

D Artagnan cười phá lên làm cho cơn run rẩy của chủ quán thành cơn sốt nóng.

Cùng lúc đó Grimaud đến lượt mình cũng hiện ra sau ông chủ, súng trường trên vai, đầu lắc lư như những kẻ dâm đãng say sưa trong những tranh của Rubens(2). Người hắn cả đằng trước lẫn đằng sau ướt đẫm một thứ nước nhờn mà chủ quán nhận ra đó là loại dầu ô-liu hảo hạng.

Đoàn người trịnh trọng đi xuyên qua đại sảnh và đến trụ tại một phòng sang nhất lữ quán mà D Artagnan đàng hoàng chiếm lấy.

Trong khi đó, vợ chồng chủ quán cầm đèn nhảy bổ xuống căn hầm đã khá lâu bị cấm và một cảnh tượng đáng sợ đang chờ họ ở đó.

Phía sau những thành lũy mà Athos đã phá hủy để đi ra, bao gồm đòn, ván, bó que, thùng rỗng đã được chất xếp hoàn toàn theo những quy tắc chiến thuật phòng thủ, người ta thấy đây đó xương thừa của đùi lợn muối đã ăn rồi như đang bơi trong những vũng dầu và rượu vang, trong khi một đống vỏ chai vỡ ngổn ngang ở góc trái căn hầm và một thùng lớn, vòi không đóng, đang chảy nốt những giọt máu cuối cùng của nó. Hình ảnh của tàn phá và chết chóc nói như nhà thơ cổ đang ngự trị trên bãi chiến trường.

Năm mươi xâu xúc xích treo trên dầm nhà còn lại chưa đầy mười xâu.

Thế là tiếng kêu khóc của vợ chồng chủ quán như thể chọc thủng cả vòm hầm khiến chính D Artagnan cũng phải mủi lòng. Còn Athos thì không cả ngoảnh đầu lại.

Nhưng cơn điên dại kế tiếp nỗi đau. Chủ quán vũ trang một cái đinh ba, trong cơn tuyệt vọng, lao vào căn phòng mà đôi bạn đã lui về đấy.

- Rượu ư!- Athos thấy chủ quán liền nói.

- Rượu đấy! - Chủ quán la lên rụng rời - Rượu đấy! Ông đã uống của tôi mất hơn một trăm đồng vàng rồi, ông làm tôi phá sản, nguy khốn, tiêu vong rồi!

- Thế à? = Athos nói - Nhưng chúng tôi đã lúc nào hết khát đâu.

- Nhưng giá các ông chỉ chịu uống thôi đã đỡ, lại còn đập hết các vỏ chai.

- Tại ông đẩy tôi vào cái đống ấy nó mới đổ vỡ đấy chứ. Đấy là lỗi của ông.

- Dầu ăn của tôi mất hết!

- Dầu là loại cao bôi thần diệu chửa trị các vết thương cho nên gã Grimaud tội nghiệp phải lấy để xoa bôi những vết thương ông gây ra cho gã chứ.

- Mọi xâu xúc xích của tôi bị gặm hết.

- Trong hầm rượu có vô số chuột cống.

Chủ quán nổi khùng kêu lên:

- Ông sẽ phải trả tiền tôi tất cả những thứ đó.

- Quân ba đời vô lại! - Athos vừa nói vừa đứng dậy. Nhưng chàng liền ngã xuống. Chàng đã kiệt sức rồi.

D Artagnan chạy lại đỡ chàng, và vung roi ngựa lên.

Chủ quán lùi lại một bước và òa lên khóc. D Artagnan nói:

- Điều đó sẽ dạy cho ông biết cách đối xử lịch sự hơn với những khách trọ mà Chúa đã gửi tới cho ông.

- Chúa ư? Quỷ sứ thì có.

- Ông bạn thân mến - D Artagnan nói - Nếu ông còn làm rách màng nhĩ chúng tôi, cả bốn chúng tôi lại tự nhốt vào hầm và chúng tôi sẽ coi xem sự thiệt hại có thật sự to lớn như ông nói không.

- Thôi được! Vâng, thưa các ngài tôi xin thú nhận tôi sai - Chủ quán nói - Nhưng tội nào cũng phải được lòng nhân đức xá cho và các ngài đều là các bậc quyền quý, còn tôi chỉ là gã chủ quán khốn khổ, xin các ngài rủ lòng thương.

- A, nếu nhà ngươi nói như thế - Athos nói - ngươi làm ta đến tan nát trái tim mất, rồi nước mắt ta cũng lại chảy như rượu chảy từ thùng ra. Cũng không đến nỗi là quỷ như cái vẻ bề ngoài đấy nhỉ. Nào, lại đây ta nói chuyện.

Chủ quán lại gần vẻ lo lắng:

- Lại đây, ta bảo rồi, đừng sợ - Athos tiếp tục - Lúc định trả tiền ngươi, ta có đặt túi tiền của ta lên bàn.

- Vâng, thưa Đức ông.

- Trong túi có sáu mươi đồng vàng. Đâu cả rồi?

- Chuyển lên phòng lục sự, thưa Đức ông. Họ bảo đó là tiền giả.

- Thế à, vậy đi mà đòi lại và giữ lấy sáu chục đồng vàng.

- Nhưng Đức ông biết thừa là phòng lục sự chẳng nhả ra cái gì họ giữ đâu. Nếu đó là tiền giả, may ra còn đòi được, nhưng khốn nỗi lại là tiền thật cả.

- Vậy ngươi đi mà thu xếp với họ, con người tử tế ạ, chuyện đó chẳng liên quan gì đến ta, mà ta cũng có còn xu nào đâu.

- Này - D Artagnan nói - Con ngựa cũ của Athos ở đâu?

- Ở chuồng.

- Đáng giá bao nhiêu?

- Năm mươi đồng vàng là hết nước.

- Nó đáng giá tám mươi đấy - Hãy giữ lấy con ngựa. Coi như xong.

- Sao, cậu bán ngựa của mình - Athos nói - cậu bán con Badadê của tôi ư? Tôi sẽ cưỡi gì để ra trận? Cưỡi lên thằng Grimaud ư?

D Artagnan nói:

- Tôi mang đến cho anh một con khác rồi.

- Con khác?

- Và tuyệt đẹp? - Chủ quán tấm tắc.

- Thế thôi, nếu quả có một con ngựa khác đẹp hơn, ít tuổi hơn, thì ngươi cứ giữ lấy con ngựa cũ đi và cho uống đi thôi.

- Loại nào ạ? Chủ quán hỏi, mặt mũi đã tươi tỉnh lên.

- Loại ở cuối hầm gần đống ván mỏng ấy. Chỗ ấy vẫn còn hai nhăm chai đấy, những chai khác bị vỡ hết lúc ta bị ngã rồi. Đem sáu chai lên đây.

- Loại người này đúng là lưu linh tái thế đấy! - Chủ quán nói với riêng mình - Chỉ cần hắn ở lại đây mười lăm ngày nữa, và uống đến đâu trả đến đấy, ta sẽ phục hồi lại được công việc làm ăn.

- Và đừng quên - D Artagnan nói tiếp - mang bốn chai cùng loại cho mấy vị người Anh.

- Giờ thì - Athos nói - trong khi chờ đợi họ mang rượu lên.

- D Artagnan cậu hãy kể cho mình những người kia thế nào.

D Artagnan kể lại mình đã tìm thấy Porthos nằm liệt giường vì bị trẹo đầu gối như thế nào, và Aramis trước cái bàn giữa hai nhà thần học. Chàng vừa kể xong cũng là lúc chủ quán quay lại với những chai rượu đã gọi và một cái đùi lợn may sao cho hắn lại ở ngoài hầm.

Athos rót đầy cốc mình và cốc bạn rồi nói:

- Về Porthos và Aramis thế là ổn rồi, còn cậu, cậu thế nào, có chuyện gì xảy ra với riêng cậu không? Tôi thấy cậu có vẻ gặp tai ương thì phải.

- Than ôi! - D Artagnan nói - Chính tôi mới là kẻ khốn khổ nhất trong mấy người chúng ta.

- Cậu khốn khổ ư, D Artagnan! - Athos nói - Thế cậu khốn khổ ra sao nào? Nói tôi nghe đi.

- Để sau đã, - D Artagnan nói.

- Để sau đã! Tại sao phải để sau? Vì cậu tưởng tôi say ư, D Artagnan? Hãy nhớ lấy điều này: tôi không bao giờ có được những ý tưởng minh bạch hơn trong rượu nhé. Vậy hãy nói đi, tôi chú ý nghe đấy.

D Artagnan kể lại cuộc phiêu lưu tình ái của mình với bà Bonacieux.

Athos lắng nghe không cau mày, khi chàng kể xong, Athos nói:

- Đau khổ cả mà thôi - Athos nói - Chỉ đau khổ thôi!

Đó là từ Athos ưa dùng.

- Anh luôn luôn nói đau khổ, anh Athos thân mến của tôi? - D Artagnan nói - Điều đó không hợp với anh, người không bao giờ yêu cả.

Con mắt lạc hồn của Athos bỗng rực sáng lên, nhưng chỉ như một tia chớp, nó lại trở lại mờ đục và mơ hồ như trước.

- Đúng thế - Chàng bình tĩnh nói - tôi chưa bao giờ yêu cả.

- Vậy anh hẳn thấy, trái tim sắt đá ơi - D Artagnan nói - Anh đã sai khi tỏ ra cứng rắn với những trái tim mềm yếu như chúng tôi chứ.

- Trái tim mềm yếu - Athos nói - là trái tim bị đâm xuyên.

- Anh nói sao?

- Tôi nói, tình yêu chỉ là trò xổ số, mà kẻ nào trúng, trúng luôn cái chết. Cậu không trúng thế là phúc đấy. Tin tôi đi, D Artagnan thân mến, và nếu tôi có lời khuyên cậu thì là khuyên luôn luôn không trúng.

- Nàng có vẻ quá chi là yêu tôi?

- Nàng mới có vẻ thôi.

- Ô, nàng yêu tôi.

- Trẻ con! Chẳng có người đàn ông nào lại không tin như cậu rằng người tình của mình yêu mình, và chẳng có người đàn ông nào lại không bị người tình của mình lừa dối.

- Trừ anh chứ, Athos, vì anh đã bao giờ có đâu.

- Đúng vậy - Athos nói sau một lúc lặng đi - tôi chưa bao giờ có cả, đúng vậy. Ta uống thôi!

- Vậy thì là một triết gia - D Artagnan nói - Anh hãy dạy tôi, nâng đỡ tôi. Tôi cần hiểu biết và cần được an ủi.

- An ủi cái gì?

- Nỗi đau khổ của tôi.

- Nỗi đau khổ của cậu làm tôi buồn cười - Athos nhún vai nói - Tôi tò mò muốn biết cậu sẽ nói thế nào nếu tôi kể cho cậu nghe một chuyện tình.

- Xảy ra với anh?

- Hoặc với một người bạn tôi, thì đã sao!

- Nói đi, Athos, anh nói đi.

- Uống đã, sẽ thú vị hơn.

- Vậy anh uống và kể đi.

Athos uống cạn một cốc, rót đầy cốc nữa rồi nói:

- Được thôi, vừa uống vừa kể là hay nhất.

- Tôi nghe đây - D Artagnan nói.

Athos như đang nhớ lại, và càng nhớ lại, D Artagnan thấy Athos càng tái đi. Anh đang nhớ tới cái giai đoạn trong cơn say mà những kẻ uống tầm thường, thường gục ngã và ngủ thiếp đi, còn anh, anh vẫn mơ màng, lớn tiếng mà không ngủ. Cái trạng huống mộng du say sưa ấy có một cái gì đó thật hãi hùng.

- Cậu muốn nghe thật chứ! - Athos hỏi.

- Tôi xin anh đấy - D Artagnan nói.

- Vì vậy đã muốn thì phải kể thôi. Một người bạn tôi, một trong số những bạn tôi, cậu hiểu chứ, chứ không phải tôi - Athos ngừng lại một lát với một nụ cười u tối. Một trong những Bá tước ở tỉnh tôi, nghĩa là ở Bery, dòng dõi cao quý như một Đăngđôlô(3) hoặc một Môngmôrăngxi(4) năm hăm nhăm tuổi si mê một thiếu nữ mười sáu tuổi, xinh đẹp như bản thân tình yêu.

Một tâm hồn nồng cháy biểu hiện trong vẻ ngây thơ của tuổi trẻ, không phải một tâm hồn phụ nữ, mà là tâm hồn của nhà thơ.

Nàng không làm người ta thích mà làm người ta si mê. Nàng sống ở một thị trấn nhỏ cạnh người anh là một mục sư. Cả hai đều là người nơi khác đến đấy sinh sống. Không ai biết họ từ đâu đến. Nhưng thấy nàng quá xinh đẹp và anh nàng quá sùng đạo người ta cũng chẳng nghĩ đến việc hỏi họ từ đâu tới. Hơn nữa, người ta nói họ xuất thân từ gia đình tử tế, bạn tôi lúc ấy là lãnh chúa xứ này lẽ ra có thể quyến rũ nàng hoặc cưỡng đoạt nàng theo sở thích, vì chàng là chúa tể ở đây. Ai sẽ đến bảo vệ hai kẻ xa lạ, hai kẻ vô danh? Khốn nỗi chàng là một người lương thiện, chàng cưới nàng hẳn hoi - Một kẻ dại dột, ngớ ngẩn, ngu đần?

- Nhưng tại sao lại thế, vì chàng yêu nàng cơ mà? - D Artagnan hỏi.

- Khoan đã nào - Athos nói - chàng đưa nàng về lâu đài của mình và đưa nàng lên hàng đệ nhất phu nhân của tỉnh. Nhưng công bằng mà nói, nàng tỏ ra xứng đáng với địa vị ấy.

- Rồi sao nữa? - D Artagnan hỏi.

- Rồi một hôm nàng đi săn với chồng - Athos tiếp tục giọng nhỏ hơn và nói rất nhanh - nàng bị ngã ngựa và ngất đi. Bá tước lao đến cứu, do nàng bị ngột ngạt trong bộ quần áo đi săn, chàng bèn lấy dao găm rạch áo nàng ra để hở vai nàng. D Artagnan cậu thử đoán xem nàng có cái gì trên vai nào? - Athos nói và cười phá lên.

- Tôi có thể biết là cái gì không? - D Artagnan hỏi.

- Một bông huệ - Athos nói - Nàng bị đóng dấu sắt nung phạm tội.

Và Athos uống một hơi cạn cốc rượu trên tay.

- Khủng khiếp quá! - D Artagnan kêu lên - Anh nói gì với tôi thế?

- Sự thật. Bạn thân mến, thiên thần là quỷ dữ. Cô thiếu nữ tội nghiệp đó đã ăn cắp.

- Và Bá tước tính sao?

- Bá tước là một đại lãnh chúa, chàng có quyền xét xử các vụ án cấp thấp và cấp cao. Chàng xé nốt quần áo của nữ Bá tước, trói quật tay ra sau lưng và treo cổ nàng trên cây.

- Trời ơi, Athos! Một vụ sát nhân! - D Artagnan la lên.

- Đúng, một vụ giết người, không hơn không kém - Athos tái người đi như một cái xác không hồn - Nhưng hình như thiếu rượu cho tôi rồi đấy.

Và Athos túm lấy cổ chai rượu cuối cùng còn lại, đưa vào tận miệng và tu thẳng một hơi cạn chai rượu, như bình thường cạn một cốc rượu.

Rồi chàng gục đầu lên hai bàn tay, D Artagnan ngồi trước mặt chàng rùng mình kinh hoảng.

- Chuyện đó đã chữa khỏi bệnh đàn bà đẹp, thơ mộng và đa tình cho tôi - Athos vừa nói vừa đứng lên không nghĩ tới việc tiếp tục câu chuyện có tính chất ngụ ngôn về ông Bá tước - Cầu chúa cho cậu cũng được khỏi bệnh như vậy - Thôi ta uống đi!

- Thế là nàng đã chết? - D Artagnan ấp úng.

- Cho chết! - Athos nói - Nhưng nâng cốc lên chứ. Đùi lợn đâu, quân đê tiện - Athos hét lên - chúng ta không thể uống được nữa!

- Thế còn anh nàng? - D Artagnan rụt rè hỏi thêm.

- Anh nàng ư? - Athos lặp lại.

- Ừ, ông linh mục ấy?

- À, tôi đã cho dò tìm để đem treo cổ cả hắn, nhưng hắn đã phòng xa, bỏ chức mục sư từ đêm trước.

- Ít nhất cũng phải biết tên khốn khiếp ấy là ai chứ?

- Chắc chắn đó là người tình đầu tiên và kẻ đồng lõa của người đẹp, một người danh giá đã đóng giả mục sư để cưới người tình của mình và đảm bảo thân phận của nàng. Rồi cũng sẽ bị xé xác ra thôi, tôi cho là như vậy.

- Ôi! Lạy Chúa? Lạy Chúa! - D Artagnan kêu lên và choáng váng hết cả người vì câu chuyện hãi hùng đó.

- Ăn miếng đùi lợn này đi, D Artagnan, tuyệt vời đấy, - Athos vừa nói vừa xẻo một lát đặt vào đĩa của bạn - Thật không may trong hầm lại không có bốn cái đùi lợn này, chỉ cần có thế, có lẽ tôi đã uống thêm năm mươi chai rượu nữa.

D Artagnan không thể chịu nổi cuộc trò chuyện này nữa, vì nó có thể khiến chàng phát điên. Chàng để gục đầu lên hai bàn tay và giả vờ ngủ thiếp đi.

Athos nhìn chàng thương hại nói:

- Bọn trẻ không biết uống nữa rồi. Tuy nhiên, cậu này vẫn cứ là loại cừ nhất!

Chương 28

Trở về.

D Artagnan vẫn choáng váng về câu chuyện tâm tình của Athos, tuy nhiên còn khá nhiều điều hình như vẫn còn mập mờ trong sự bộc lộ nửa vời đó. Trước hết là chuyện do một người hoàn toàn say túy lúy kể cho một người nửa tỉnh nửa say, và mặc dầu hơi men của vài ba chai rượu Buốcgônhơ làm mịt mù cả đầu óc D Artagnan, sáng hôm sau khi thức dậy, vẫn thấy mỗi lời Athos nói còn in trong ký ức như thể ra khỏi miệng bạn đến đâu, là in vào tâm trí chàng đến đấy. Tất cả nỗi nghi ngờ ấy chỉ khiến chàng càng khao khát mạnh hơn đi đến một sự tường tận, và chàng sang phòng bạn với ý đồ quyết tâm nối lại cuộc trò chuyện đêm qua, nhưng chàng thấy Athos thần trí hoàn toàn ổn định, nghĩa là con người tinh tế và bí hiểm nhất.

Hơn nữa, người lính ngự lâm đó sau khi bắt tay chàng, đã đón trước được ý nghĩ của chàng.

- Hôm qua tôi say quá, D Artagnan thân mến ạ - Athos nói - Sáng nay tôi vẫn còn cảm thấy cơn say ở đầu lưỡi tôi, nó vẫn cứ bì bì, và mạch tôi vẫn còn đập mạnh lắm. Tôi cược rằng tôi đã nói muôn vàn điều bậy bạ lăng nhăng.

Vừa nói, Athos vừa nhìn bạn mình chằm chằm khiến D Artagnan bối rối.

- Nhưng không phải thế đâu - D Artagnan cãi lại - và nếu như tôi nhớ không nhầm thì anh chẳng nói gì ngoài những chuyện thường tình.

- Ồ, cậu làm tôi ngạc nhiên đấy, tôi nghĩ tôi đã kể cho cậu nghe một chuyện thương tâm nhất.

Và anh nhìn chàng trai trẻ như muốn đọc thấu tâm can của bạn mình. D Artagnan nói:

- Thật tình, hình như tôi còn say hơn cả anh, vì tôi chẳng nhớ được điều gì hết.

Athos chẳng thèm để ý đến câu nói ấy, và anh tiếp tục:

- Cậu không phải là không nhận thấy, bạn thân mến ạ, mỗi người có một kiểu say, buồn hay vui. Tôi say kiểu buồn, mà một khi tôi đã say, tôi có cái thói kể ra mọi chuyện tang thương mà bà vú nuôi ngớ ngẩn của tôi đã khắc vào trí não tôi. Đó là tật xấu của tôi, tật xấu cơ bản, tôi đồng ý như vậy. Nhưng ngoài tật đó, tôi là tay uống cừ.

Athos nói ra điều đó, quá tự nhiên, khiến cho niềm tin của D Artagnan bị lung lay. Chàng cố nắm bắt lại sự thật và nói:

- Ồ, thì ra là như thế, quả thật tôi cũng nhớ ra là như thế, vả lại nó giống như ta nhớ lại một giấc mơ ấy mà, tôi nhớ chúng ta đã nói về những người bị treo cổ.

- À cậu biết đấy - Athos vừa nói vừa tái người đi tuy nhiên vẫn cố cười - Tôi cam đoan những người bị treo cổ là cơn ác mộng của tôi, của chính tôi.

- Phải phải, - D Artagnan nói tiếp - tôi nhớ ra rồi - Phải, chuyện đề cập đến... khoan đã nào... đề cập đến một phụ nữ...

- À, đấy là một chuyện hay nhất của tôi - Athos trả lời, mặt xanh đi - về một người đàn bà tóc hoe vàng và khi tôi kể chuyện đó là lúc tôi đang say muốn chết.

- Phải, chính thế - D Artagnan nói - chuyện về một phụ nữ tóc vàng hoe, cao lớn và đẹp, có đôi mắt xanh.

- Phải, và bị treo cổ.

- Bởi người chồng là một vị lãnh chúa quen biết anh - D Artagnan vừa tiếp tục nói vừa nhìn thẳng vào mặt Athos.

- Ồ, cậu thấy đấy, trong khi người ta không còn biết mình đang nói gì nữa, thì người ta có thể làm tổn hại đến phẩm giá một con người lắm chứ - Athos vừa nói vừa nhún vai như thể mình đang thương hại chính bản thân mình - Nhất định là tôi không muốn say nữa, D Artagnan? Đó là một thói quen quá xấu.

D Artagnan im lặng không nói gì.

Rồi Athos chuyển phắt sang đề tài khác, và nói:

- Nhân tiện, xin cảm ơn cậu về con ngựa mà cậu đã mang đến cho tôi.

- Có hợp với anh không? - D Artagnan hỏi.

- Hợp, nhưng đó không phải là một con ngựa dai sức.

- Anh nhầm rồi. Tôi đã cưỡi nó chạy mười dặm trong một tiếng rưỡi đồng hồ mà cứ như thể mới chạy vòng quanh quảng trường Saint-Sulpice ấy.

- Thế à? Thế thì cậu làm cho tôi tiếc mất rồi.

- Tiếc cái gì?

- Tiếc vì tôi bán nó mất rồi.

- Thế là thế nào?

- Là thế này. Sáng nay tôi thức dậy lúc sáu giờ, cậu vẫn ngủ như chết, tôi chả biết làm gì, tôi vẫn còn ngẩn ngơ về việc quá chén của chúng ta hôm qua, tôi bèn đi xuống đại sảnh và thấy một trong hai người Anh đang mặc cả mua một con ngựa với người lái ngựa, ngựa của hắn bị chết hôm qua vì bị trúng gió.

- Tôi lại gần hắn và vì thấy hắn đang trả một trăm đồng vàng con tuấn mã màu tía. Tôi bảo hắn: "Này nhà quý tộc, tôi cũng có một con muốn bán".

- Và còn rất đẹp nữa - hắn nói - tôi thấy hôm qua rồi, người hầu của bạn ông đang dắt nó.

- Ông thấy nó đáng một trăm chứ?

- Vâng và ông muốn bán cho tôi với giá ấy à?

- Không, tôi chơi bạc nó với ông.

- Ông chơi bạc với tôi?

- Đúng.

- Chơi loại gì?

- Xúc xắc. Nói sao làm vậy, và tôi mất con ngựa, à nhưng mà, - Athos tiếp tục tôi đã gỡ lại được bộ đồ trang sức trên mình ngựa.

D Artagnan tỏ ra rất bực.

- Trái ý cậu lắm à? - Athos nói.

- Chứ sao, tôi thú thật với anh - D Artagnan nói tiếp - Con ngựa đó là để chúng ta nhận ra nhau khi xung trận, đó là một tín vật, một kỷ niệm. Athos, anh sai rồi.

- Ôi, bạn thân mến, cậu hãy ở vào địa vị tôi - người lính ngự lâm nói tiếp - tôi buồn muốn chết, thêm nữa, tôi thề danh dự đấy, tôi không thích ngựa Anh. Mà nếu chỉ để nhận ra nhau thôi thì cái yên là đủ, nó có thể nhận ra lắm chứ. Còn con ngựa, ta sẽ tìm một cớ gì đó để biện giải cho việc nó biến mất. Mà đếch gì! Nó chết, ngựa nào mà chả chết, cứ coi như con của tôi bị chết vì xổ mũi hoặc lở loét.

D Artagnan vẫn cau có.

- Điều đó làm tôi áy náy lắm - Athos tiếp tục - vì cậu quan tâm đến những con vật ấy đến thế, vì tôi đã kể hết chuyện đâu.

- Thế anh còn làm những gì nữa?

- Sau khi đã mất con ngựa của tôi, chín điểm thua mười, cậu thấy ức không, tôi bèn nảy ra ý nghĩ chơi con của cậu.

- Ờ, nhưng tôi mong mới chỉ dừng lại ở ý nghĩ của anh thôi.

- Không đâu, tôi thực hiện ngay lúc ấy.

- À! Hay thật đấy! - D Artagnan kêu lên lo lắng.

- Tôi chơi và thua.

- Thua con ngựa của tôi?

- Con của cậu, bẩy chọi tám, thua có một điểm... Cậu biết câu ngạn ngữ ...

- Athos, tôi xin thề là anh không tỉnh rồi!

- Bạn thân mến, đấy là hôm qua, khi tôi kể cho cậu nghe những chuyện vớ vẩn, tôi phải nói như vậy, chứ không phải sáng nay. Tôi thua hết cả ngựa lẫn yên cương.

- Thế thì ghê tởm quá?

- Khoan đã nào cậu đã nghe hết đâu. Tôi sẽ là một tay chơi sành sỏi nếu tôi không cay cú, nhưng tôi lại cay cú, giống như khi tôi uống ấy, tôi cũng cay cú...

- Nhưng làm sao anh còn chơi nổi nữa, anh có còn cái gì đâu?

- Có chứ? Có quá đi chứ, anh bạn ạ! Chúng ta vẫn còn cái nhẫn kim cương lấp lánh trên ngón tay cậu mà tôi đã thấy hôm qua.

- Cái nhẫn kim cương này ư? - D Artagnan kêu lên và đưa tay giữ chặt lấy cái nhẫn.

- Và vì tôi là kẻ sành chơi, và cũng đã từng có mấy chiếc trong tài sản riêng, tôi ước lượng nó phải có giá một nghìn đồng vàng.

D Artagnan chết điếng người vì kinh hãi nghiêm nghị nói:

- Tôi hy vọng anh chưa động gì đến chiếc nhẫn kim cương của tôi đấy chứ?

- Trái lại đấy, bạn ơi. Chiếc nhẫn kim cương là tài sản duy nhất của chúng ta. Với nó, tôi có thể gỡ lại được yên cương, ngựa, và thêm nữa, tiền lộ phí.

- Athos, anh làm tôi run lên đây này? - D Artagnan kêu lên.

- Vậy là tôi nói về cái nhẫn kim cương với con bạc của tôi. Hắn cũng đã để ý thấy cái nhẫn. Mà quỷ ạ, cậu đeo ở ngón tay cậu một ngôi sao trên trời lại muốn người ta không chú ý ư? Không thể được?

- Nói nốt đi, ông bạn quý, nói nốt đi! - D Artagnan nói- Bởi vì thề danh dự đấy! Với sự bình tĩnh của anh, anh làm tôi chết mất đấy?

- Thế là chúng tôi chia cái nhẫn kim cương ra làm mười phần, mỗi phần một trăm đồng vàng.

- À anh định đùa và thử tôi đấy à? - D Artagnan nói, mà cơn giận bắt đầu túm lấy tóc chàng giống như thần Minéc túm lấy Akin trong Iliát(1).

- Không, tôi không đùa đâu, mẹ kiếp! Tôi chỉ muốn biết cậu sẽ ra sao trong tình cảnh ấy thôi? Đã mười lăm ngày tôi không được giáp mặt ai và cứ ở đó đàm đạo với những chai rượu cho đến trì độn người đi.

- Đó không phải là lý do đem nhẫn kim cương của tôi ra chơi bạc, thế đó! - D Artagnan vừa trả lời vừa nắm chặt tay lại, thần kinh co giật bắn người lên.

- Vậy cậu, nghe nốt đã. Mười phần, mỗi phần một trăm đồng vàng, mỗi phần chơi làm mười ván, không chơi gấp thiếc để gỡ, mười ba ván tôi thua tất. Mười ba ván, con số 13 luôn luôn xúi quẩy với tôi, đó là ngày mười ba tháng bẩy mà...

- Mẹ kiếp! - D Artagnan la lên và đứng lên khỏi bàn, chuyện lúc này khiến chàng quên cả chuyện đêm qua.

- Kiên nhẫn nào - Athos nói - tôi có một kế hoạch. Tên người Anh là một tay độc đáo, sáng nay tôi thấy hắn trò chuyện Grimaud, và Grimaud báo với tôi là hắn đề nghị với Grimaud phục vụ hắn. Tôi đánh luôn với hắn bằng Grimaud và cũng chia Grimaud ra làm mười phần.

- Trời, lại còn thế nữa? - D Artagnan không giữ nổi phá lên cười.

- Chính bản thân gã Grimaud, cậu hiểu không nào? Và với mười phần của Grimaud mà tất cả cũng chưa đáng một đucatông vàng tôi gỡ lại cái nhẫn kim cương. Giờ thì cậu thử nói xem lòng kiên nhẫn có phải là một đức hạnh không?

- Thật tình, tôi chỉ thấy quái gở! - D Artagnan đã khuây khỏa, vừa nói vừa ôm bụng cười.

- Cậu hiểu chứ, thấy mình đang vận đỏ, tôi lại chơi tiếp ngay bằng nhẫn kim cương.

- Ôi quỷ sứ! - D Artagnan nói và lại sa sầm mặt lại.

- Tôi đã gỡ lại được yên cương của cậu, rồi ngựa của cậu rồi yên cương của tôi, ngựa của tôi, rồi lại thua. Tóm lại tôi lấy lại được yên cương của cậu, rồi của tôi. Đó, bây giờ chúng ta chỉ có thế. Đó là một ván chơi tuyệt đẹp, vì vậy tôi dừng ở đó thôi.

D Artagnan thở phào như thể người ta vừa cất bỏ cả cái lữ quán này đè lên ngực chàng.

- Rốt cuộc, tôi vẫn còn nhẫn kim cương chứ? - D Artagnan rụt rè hỏi.

- Nguyên si! Bạn thân mến ạ. Thêm nữa là những bộ yên cương của con chiến mã của cậu và của tôi.

- Nhưng chúng ta sẽ làm gì với những yên cương mà không có ngựa?

- Tôi đã có ý kiến về chúng đây.

- Athos, anh làm tôi run đấy.

- Nghe đây, D Artagnan, đã lâu rồi cậu không chơi có phải không?

- Nhưng tôi không thèm chơi chút nào cả.

- Đừng có vội tuyên bố như thế - Từ lâu rồi, cậu không chơi, cậu chắc chắn sẽ gặp may cho mà xem.

- Thế thì sao?

- Thế thì tên người Anh và bạn hắn vẫn còn ở đây. Tôi nhận thấy hắn tiếc mấy bộ yên cương lắm. Còn cậu, cậu có vẻ tiếc con ngựa của cậu. Ở địa vị cậu tôi sẽ chơi bộ yên cương lấy con ngựa.

- Nhưng hắn sẽ không muốn một bộ thôi đâu.

- Thì chơi cả hai, mẹ kiếp! Tôi không phải là người ích kỷ như cậu đâu.

- Anh chơi thật chứ? - D Artagnan ngần ngừ nói, sự tin tưởng của Athos đã bắt đầu làm chàng xiêu lòng.

- Chơi một ván thôi, thề danh dự đấy.

- Nhưng chính vì đã mất mấy con ngựa, tôi lại càng muốn giữ lấy mấy bộ yên cương.

- Thế thì chơi bằng nhẫn kim cương vậy.

- Ồ, cái đó lại là chuyện khác, không bao giờ, không bao giờ cả.

- Mẹ kiếp! - Athos nói - Tôi muốn đề nghị cậu chơi bằng thằng Planchet lắm, nhưng cách đó đã làm rồi, thằng người Anh có lẽ không muốn nữa đâu.

- Này Athos thân mến - D Artagnan nói - tôi thích tốt nhất là đừng có liều nữa làm gì.

- Đáng tiếc đấy! - Athos lạnh lùng nói - Thằng người Anh đó có rất nhiều tiền vàng. Trời ơi! Cứ thử một cái. Một ván thôi mà!

- Và nếu tôi thua?

- Cậu sẽ thắng.

- Nhưng nếu tôi thua?

- À thì... Coi như cậu cho nó mấy bộ yên cương.

- Thì làm một ván - D Artagnan nói.

Athos liền đi tìm gã người Anh và thấy hắn ở chuồng ngựa đang ngắm nghía mấy bộ yên cương bằng con mắt thèm khát.

- Thật đúng dịp. Athos đặt điều kiện: Hai bộ yên ăn một con ngựa hay một trăm đồng vàng, tùy ý chọn. Tên người Anh tính toán rất nhanh: hai bộ yên cương đáng giá ba trăm đồng vàng, hắn bằng lòng ngay.

D Artagnan vừa run vừa ném mấy con xúc xắc và đạt ba điểm. Chàng tái người đi khiến Athos đâm sợ lây, đành vui vẻ nói:

- Một ván xúi quẩy rồi, ông bạn. Ông đến có lũ ngựa yên cương đầy đủ mất thôi.

Tên người Anh đắc chí, chẳng bỏ công xóc quân xúc xắc, ném luôn ra bàn không thèm nhìn, tin chắc phần thắng thuộc về mình. D Artagnan quay mặt đi để giấu vẻ bực tức.

- Khoan, khoan, khoan đã. - Athos nói bằng một giọng điềm tĩnh - một ván xúc xắc cực kỳ lạ lùng, và tôi chỉ thấy bốn lần trong đời đấy: hai con một!

Tên người Anh nhìn vô cùng kinh ngạc, D Artagnan cũng nhìn và rất đỗi vui mừng.

- Phải, - Athos tiếp tục - chỉ bốn lần thôi: một lần ở nhà ông De Crêquy, một lần ở nhà tôi, ở vùng thôn quê, tại lâu đài... khi tôi còn chiếc lâu đài, lần thứ ba ở nhà ông De Treville, làm cả lũ chúng ta phải ngạc nhiên, cuối cùng lần thứ tư ở một quán rượu, lần này giã đúng vào tôi, khiến tôi thua một trăm đồng louis vàng và một bữa nhậu tối.

- Thế là ông gỡ lại được con ngựa của mình rồi - gã người Anh nói.

- Hẳn rồi - D Artagnan nói.

- Không chơi gỡ ư?

- Chúng ta đã giao hẹn là không chơi gỡ. Ông nhớ chứ?

- Đúng vậy, con ngựa sẽ trả lại cho người hầu của ông.

- Khoan chút đã - Athos nói, - xin phép cho tôi nói với bạn tôi một câu.

- Ông cứ tự nhiên.

Athos kéo D Artagnan ra một chỗ. D Artagnan nói:

- Thế nào! Anh muốn gì nữa ở tôi, hỡi tên cò mồi, anh muốn tôi chơi nữa, có phải không?

- Không, tôi muốn cậu suy nghĩ thôi.

- Về cái gì?

- Cậu định lấy lại con ngựa có phải không?

- Hẳn rồi.

- Cậu nhầm rồi, tôi lấy một trăm đồng vàng cơ.

- Thôi đi, tôi lấy con ngựa.

- Và cậu nhầm rồi, tôi xin nhắc lại như vậy. Làm gì được với một con ngựa cho hai người chúng ta, tôi không thể cưỡi lên mông ngựa và chúng ta có vẻ như hai con trai nhà Âymông (2) bị chết. Cậu cũng không thể đang tâm cưỡi tuấn mã để tôi đi bộ bên cạnh được. Tôi, không cân nhắc lôi thôi gì cả, tôi lấy một trăm đồng vàng, chúng ta đang cần tiền để trở về Paris.

- Athos, tôi vẫn muốn lấy ngựa.

- Ôi cậu nhầm rồi, bạn ơi. Một con ngựa đi vòng kiềng, một con ngựa vấp chân, trẹo gối, một con ngựa ăn chung máng với con ngựa sổ mũi, đó một con ngựa như thế chỉ có mất toi một trăm đồng vàng. Rồi lại còn chủ thì phải nuôi ngựa, đằng này trái lại, một trăm đồng vàng nó nuôi chủ.

- Nhưng chúng ta trở về thế nào?

- Trên lũ ngựa của bọn người hầu của chúng ta. Mẹ kiếp!

- Người ta nhìn hình dạng chúng ta sẽ thấy ngay chúng ta là những người gặp phải hoàn cảnh không may.

- Cái bộ dạng đẹp đẽ của chúng ta trên lưng hai con nghẽo, còn Porthos và Aramis thì tưng tưng trên hai con ngựa chứ!

- Aramis, Porthos ư! - Athos la lên và bật cười.

- Cười gì? - D Artagnan hỏi, chàng chẳng hiểu tại sao bạn mình lại hô hố cười.

- Không có gì đâu, ta tiếp tục thôi - Athos nói.

- Như thế, ý kiến của anh?...

- Là lấy một trăm đồng vàng, D Artagnan ạ, với một trăm đồng vàng, chúng ta sẽ phè phỡn cho đến cuối tháng, chúng ta đã trải qua bao nhiêu gian lao vất vả, cậu thấy không, nghỉ ngơi một chút sẽ tốt chứ.

- Tôi nghỉ ngơi ư? Ồ, không, Athos, đến Paris một cái là tôi lập tức đi tìm người đàn bà tội nghiệp ấy ngay.

- Được rồi! Thế cậu tưởng con ngựa của cậu sẽ có ích cho cậu trong việc đó hơn là những đồng vàng quý giá ư? Cậu hãy lấy một trăm đồng vàng ấy đi! bạn ạ, hãy lấy một trăm đồng vàng.

D Artagnan chỉ cần một lý do để đầu hàng. Lý lẽ này có vẻ xuất sắc Vả lại chống chọi mãi, chàng sợ mình có vẻ ích kỷ trong con mắt Athos. Chàng gật đầu, và chọn một trăm đồng vàng gã người Anh đếm ngay tại chỗ.

Rồi họ chỉ còn nghĩ tới việc ra đi. Hòa ước đã ký ngoài con ngựa già của Athos phải trả thêm sáu đồng vàng cho chủ quán.

D Artagnan và Athos chiếm lấy ngựa của Planchet và Grimaud, hai người hầu đội hai bộ yên lên đầu và đi bộ theo.

Dù cưỡi ngựa tồi, đôi bạn vẫn vượt trước hai người hầu và đến Vỡ Tim. Từ xa họ đã gặp Aramis đang âu sầu tựa cửa sổ, và giống như chị Anne tôi, nhìn bụi rắc phía chân trời(3).

Đôi bạn hô vang lên:

- Ê này! Aramis, cậu đang làm cái quái gì thế?

- À, cậu đấy ư, D Artagnan, và anh nữa, Athos - chàng trai trẻ nói - Tôi đang nghĩ của cải trên đời sao nó ra đi nhanh đến thế và con ngựa Anh của tôi cũng đi xa và vừa biến mất trong lốc bụi, đối với tôi là một hình ảnh sinh động về sự mong manh của mọi vật trên đời. Cuộc đời cũng vậy, có thể quy lại bằng ba từ "Erat, est, fuit"(4).

- Thật ra thế nghĩa là thế nào? - D Artagnan hỏi và bắt đầu nghi ngờ sự thật.

- Nghĩa là tôi vừa bị lừa một quả sáu mươi đồng louis vàng lấy một con ngựa mà chỉ nhìn cách nó di chuyển thôi cũng đoán ra nó phi nước kiệu năm dặm một giờ.

D Artagnan và Athos phá lên cười.

- D Artagnan thân mến - Aramis nói - đừng giận tôi quá nhé, tôi xin cậu đấy, vì nhu cầu thì bất chấp luật lệ. Vả lại, trước hết tôi đã bị trừng phạt rồi, vì cái tên lái ngựa bất lương ấy đã xoáy mất của tôi ít nhất năm mươi louis vàng. Mà các vị cũng là những người điều hành giỏi đấy chứ, các vị đến đây bằng ngựa của bọn hầu và bắt bọn hầu dắt tay những con ngựa quý của các vị, nhẹ nhàng, từng quãng một.

Cũng vào lúc ấy một xe chở hàng từ phía Amiêng đã hiện ra được một lúc bây giờ đã tới nơi và dừng lại, rồi Planchet và Grimaud ra khỏi xe với bộ yên cương đội trên đầu.

Chiếc xe chở hàng đi không về Paris, và hai chàng hầu ta đã điều đình cho đi nhờ xe và sẽ đãi người đánh xe giải khát suốt dọc đường.

- Thế là thế nào? - Aramis thấy cung cảnh vừa diễn ra liền hỏi - Sao lại chỉ có mỗi yên thôi?

- Bây giờ cậu hiểu rồi chứ? - Athos nói.

- Các bạn tôi ơi, thế thì đúng như tôi rồi. Tôi cũng giữ lại yên cương, theo linh tính thôi. Ê này, Bazin! Mang bộ yên cương mới của ta xếp cạnh những bộ của mấy ông đây.

- Và anh làm thế nào với mấy vị mục sư của anh? - D Artagnan hỏi.

- À, hôm sau tôi mời họ ăn trưa - Aramis nói - Ở đây có loại vàng hảo hạng, đại khái như thế. Tôi cho họ uống say khướt cò lả. Thế là lão mục sư liền chống lại tôi rời bỏ đồng phục ngự lâm, còn ông giáo sĩ dòng Tên thì lại yêu cầu tôi xin giúp ông ta vào ngự lâm quân.

- Súp món luận văn đi! - D Artagnan hô lên - Súp luận văn đi? Tôi yêu cầu bãi bỏ luận văn đấy.

- Từ khi ấy - Aramis tiếp tục - tôi sống thoải mái. Tôi bắt đầu làm một thi khúc một vần. Cũng khó khăn đấy. Nhưng giá trị của mọi thứ là trong sự khó khăn. Tính cách bài thơ có đôi chút khuynh nữ. Tôi sẽ đọc khổ đầu cho các bạn nghe, có tất cả bốn trăm câu và chỉ kéo dài một phút.

D Artagnan ghét thi ca hầu như ngang với tiếng Latinh liền bảo:

- Thật tình, anh Aramis thân mến ạ, hãy thêm giá trị của sự ngắn gọn vào cái giá trị của sự khó khăn, anh sẽ tin chắc ít nhất thơ anh sẽ có hai giá trị.

- Rồi các bạn sẽ thấy. - Aramis tiếp tục - Nó toát ra những niềm đắm say chân thực - Ơ kìa, các bạn, chúng ta quay về đến Paris rồi ư? Hoan hô, mong mãi đây. Thếlà chúng ta lại sắp gặp Porthos rồi. Thế mới tuyệt. Các bạn không thể tưởng được tôi nhớ cái tay đại ngô nghê này thế nào đâu. Hắn có nhẽ không bán ngựa như cánh ta đâu cho dù giá một vương quốc. Tôi những muốn thấy hắn đang ngồi trên yên ngựa. Tôi tin chắc sẽ giống như Đại đế Môgôn(5).

Họ dừng lại một tiếng đồng hồ cho ngựa nghỉ. Aramis thanh toán tiền cho Bazin lên ngồi xe hàng cùng với các bạn rồi lại tiếp tục lên đường để gặp lại Porthos.

Mọi người thấy chàng đang đứng, đỡ xanh xao hơn D Artagnan gặp lần trước, rồi thấy ngồi vào bàn ăn dù dọn cho một mình chàng, cũng có thể hình dung ra một bữa trưa cho cả bốn người, một bữa trưa gồm thịt nấu nướng rất ngon, rượu nho kén chọn và quả cây tuyệt ngon.

- À, mẹ kiếp! - Chàng vừa đứng lên vừa nói - Các bác đến thật tuyệt, tôi mới chỉ đụng đến món xúp, ăn trưa với tôi thôi.

- Ồ, ồ, - D Artagnan nhận xét - Không phải Mousqueton dùng thòng lọng quăng những chai rượu này chứ - Lại còn thịt bọc mỡ nướng và thăn bò nữa...

- Tôi đang ăn trả bữa mà - Porthos nói - tôi ăn trả bữa.

- Không gì làm suy yếu bằng cái món trẹo xương chết tiệt đó, anh đã bị trẹo xương bao giờ chưa, Athos?

- Chưa bao giờ. Chỉ có tôi nhớ trong cuộc hỗn chiến ở phố Fréjus ngày nào, tôi bị một nhát gươm, cũng phải mất mười lăm mười tám ngày gì đó, khiến tôi bị ốm yếu hệt như cậu ấy.

- Nhưng bữa trưa này không phải dọn cho một mình anh đấy chứ Porthos? - Aramis nói.

- Không - Porthos đáp - Tôi đợi mấy nhà quý tộc quanh đây nhưng họ vừa đến bảo là không đến được, các bác thay họ vậy, vẫn thế cả thôi mà. Ê này, Mousqueton? Ghế đâu, và mang gấp đôi rượu ra đây.

- Các cậu có biết chúng ta ăn gì ở đây không? Chừng mươi phút sau, Athos hỏi mọi người.

- Mẹ kiếp! - D Artagnan trả lời - tôi ăn thịt bê nấu chua với tủy và rau cácđông.

- Và tôi thăn cừu non - Porthos nói.

- Còn tôi lườn gà - Aramis nói.

- Các vị nhầm tất - Athos nghiêm nghị nói - các vị ăn ngựa đấy.

- Ngựa thì ngựa! - D Artagnan nói.

- Thịt ngựa ư! - Aramis cau mặt lợm giọng nói.

Porthos ngồi im không trả lời.

- Phải, ăn ngựa? Có phải không, Porthos chúng ta đang ăn ngựa? Có khi ăn cả yên cương cũng nên!

- Không đâu, các bác ạ, yên cương thì tôi giữ lại - Porthos nói.

- Thì ra chúng ta kẻ tám lạng, người nửa cân cả. - Aramis nói - Cứ như ta bàn trước với nhau ấy.

- Biết làm thế nào - Porthos nói - con ngựa ấy làm cho mấy vị khách của tôi phải xấu hổ, mà tôi thì lại không muốn làm họ xấu hổ!

- Rồi lại thêm cái bà nữ Công tước của anh vẫn cứ ở vùng suối nóng, có phải không? - D Artagnan nói tiếp.

- Vẫn thế - Porthos trả lời - Mà thật tình cái lão trấn thủ tỉnh này, một trong những vị quý tộc tôi mời ăn trưa hôm nay ấy cứ thèm con ngựa quá cơ, cho nên tôi đã cho lão ta.

- Cho ư? - D Artagnan kêu lên.

- Ồ, trời ơi, phải cho lão! Đấy là cách nói thôi! - Porthos nói - bởi giá con ngựa phải đến một trăm năm mươi louis vàng và cái tên bủn xỉn ấy chỉ muốn trả tôi có tám mươi.

- Không yên chứ? - Aramis nói.

- Ừ, không yên.

- Các vị nhận thấy chưa - Athos nói - Hóa ra Porthos lại bán được giá hơn tất cả chúng ta.

- Thế là tất cả phá lên cười hô hố làm cho Porthos cứ ngây người ra. Nhưng mọi người giải thích cho chàng ngay lý do mọi người cười, khiến chàng ầm ĩ chia sẻ ngay theo thói quen của mình.

- Thành thử mọi người chúng ta đều sẵn vốn cả? - D Artagnan hỏi.

- Mình thì không - Athos nói - Mình thấy món rượu nho Tây Ban Nha của Aramis ngon quá, thế là mình cho chất sáu mươi chai lên chiếc xe hàng của bọn người hầu, thành ra nhẵn túi rồi.

- Còn tôi - Aramis nói - các bạn thử tưởng tượng xem tôi đã cúng đến đồng xu cuối cùng cho nhà thờ Môngđiđiơ và cho các giáo sĩ dòng Tên ở Amiêng, ngoài ra tôi có những cam kết buộc phải giữ những lễ misa cho tôi và cho các vị mà tôi tin chắc nhờ thế, chúng ta mạnh khỏe may mắn hơn.

- Và tôi, - Porthos nói - cái chỗ trẹo gối của tôi, các anh tưởng không tốn kém hay sao? Không kể thương tích của Mousqueton mà tôi buộc phải mời thầy giải phẫu đến mỗi người hai lần, lão ta bắt tôi phải trả tiền thăm khám gấp đôi viện cớ cái tên Mousqueton ngu ngốc ấy đã để cho một viên đạn bắn trúng vào chỗ mà người ta thường chỉ cho thầy thuốc xem thôi. Cho nên tôi đã phải căn dặn nó kỹ càng lần sau đừng để bị thương ở chỗ ấy nữa.

Athos cười nháy với D Artagnan và Aramis rồi nói:

- Chà, chà, tôi thấy cậu xử sự với gã hầu tội nghiệp quá hào phóng đấy. Đúng là một ông chủ tốt.

- Tóm lại - Porthos tiếp tục - trả hết mọi khoản chi tiêu, chắc chắn tôi chỉ còn ba mươi êqui vàng.

- Và tôi chừng mươi đồng - Aramis nói.

- Xem nào, - Athos nói - hình như chúng ta đều là những vua Crésus cả(6) Một trăm đồng pítxtôn vàng của cậu còn bao nhiêu hở D Artagnan?

- Một trăm của tôi ư? Trước hết, tôi đã cho anh năm chục rồi.

- Cậu tin vậy ư?

- Mẹ kiếp!

- À đúng, tôi nhớ ra rồi.

- Rồi tôi trả sáu đồng cho chủ quán.

- Cái tên chủ quán chó má ấy ư! Tại sao cậu lại cho nó sáu đồng.

- Thì chính anh bảo tôi cho nó còn gì.

- Đúng là tôi quá tốt với nó. Tóm lại, còn bao nhiêu?

- Còn hai nhăm đồng - D Artagnan nói.

- Và tôi Athos vừa nói vừa móc túi ra mấy xu lẻ - tôi...

- Anh, sạch sành sanh.

- Thú thực, ít quá, chẳng bõ góp vào của chung.

- Bây giờ, ta tính thử xem còn bao nhiêu tất cả nào?

- Porthos?

- Ba mươi đồng êqui.

- Aramis?

- Mười đồng pítxtôn.

- Còn cậu D Artagnan?

- Hai mươi lăm.

- Tất cả là bao nhiêu? - Athos nói.

- Bốn trăm bẩy nhăm đồng livrơ! - D Artagnan, tính toán giỏi như Acsimét nói.

- Đến Paris, có lẽ chúng ta còn chừng bốn trăm, lại còn yên cương nữa - Porthos nói.

- Nhưng những con ngựa kỵ binh của chúng ta thì sao đây? - Aramis nói.

- Thế này nhé! bốn con ngựa của bọn người hầu, ta sẽ lấy hai con cho chủ bằng cách gắp thăm. Số bốn trăm livrơ ta sẽ lấy một nửa mua một con cho một cậu chưa có ngựa, rồi còn bao nhiêu ta sẽ vét túi đưa cho D Artagnan, cậu ấy mát tay, để chơi luôn ngay ở sòng bạc ta gặp. Thế đó.

- Thôi ăn đã, - Porthos nói - Nguội hết cả rồi.

Bốn người bạn từ lúc đó tạm yên tâm về những ngày sắp tới, liền ăn uống thỏa thuê, chỗ còn thừa dành cho các vị Mousqueton, Bazin, Planchet và Grimaud.

Đến Paris, D Artagnan thấy một bức thư của ông De Treville báo cho chàng biết, thể theo lời cầu xin của ông, nhà Vua vừa mới gia ân cho chàng được xung vào ngự lâm quân.

Vì đó là tất cả những gì D Artagnan mong ước ở trên đời, đã đành chưa kể sự khao khát được gặp lại bà Bonacieux, chàng sướng run người chạy đến nhà các bạn vừa mới chia tay nhau được nửa tiếng đồng hồ, và chàng thấy họ đều rất buồn và rất ưu tư. Họ họp bàn ở nhà Athos, điều đó luôn luôn chỉ rõ những tình thế nghiêm trọng nào đó đang xảy ra.

- Ông De Treville cũng vừa báo cho họ biết quyết định dứt khoát của Hoàng thượng là mở chiến dịch vào ngày một tháng năm. Họ phải lập tức chuẩn bị quân trang.

Bốn triết gia sửng sốt nhìn nhau, ông De Treville không đùa về mặt quân kỳ.

- Các anh thử tính xem những bộ quân trang ấy mất bao nhiêu tiền? - D Artagnan nói.

- Ồ, chẳng có gì để nói cả - Aramis trả lời - chúng ta vừa mới tính toán chi ly chặt chẽ rồi, và mỗi người chúng ta phải có một nghìn năm trăm đồng livrơ.

- Bốn lần mươi lăm là sáu mươi, tức sáu nghìn livrơ - Athos nói.

- Tôi thấy hình như chỉ với một nghìn livrơ mỗi một người...

D Artagnan nói - Đúng là tôi không nói theo kiểu chặt chẽ mà theo kiểu biện lý(7)

Cái tiếng biện lý làm thức tỉnh Porthos. Chàng nói:

- Thôi được, tôi sực nghĩ ra một điều.

- Hẳn là một điều hay ho rồi, còn như tôi, thậm chí một nửa điều cũng không xong - Athos lạnh lùng nói - còn như D Artagnan thưa các vị, hạnh phúc từ nay được là dân ngự lâm như chúng ta làm cho hắn phát điên. Một nghìn livrơ ư! Tôi tuyên bố riêng tôi thôi, tôi cần phải hai nghìn.

Aramis liền nói tiếp:

- Bốn lần hai thành tám. Vậy cần phải tám nghìn livrơ cho chúng ta để mua sắm quân trang. Đúng là chúng ta mới chỉ có yên cương.

- Thêm nữa - Athos vừa nói vừa chờ D Artagnan đi cám ơn ông De Treville, rồi đóng cửa lại - Thêm nữa, cái nhẫn kim cương tuyệt đẹp lấp lánh ở ngón tay anh bạn chúng ta. Mẹ kiếp D Artagnan là người bạn quá tốt không thể để anh em trong cơn túng quẫn khi hắn đeo ở ngón giữa một món tiền có thể chuộc được cả một ông vua.

Chương 29

Săn tìm quân trang.

Người băn khoăn lo lắng nhất trong số bốn người bạn chắc chắn phải là D Artagnan, cho dù với tư cách cận vệ quân(1) chàng dễ trang bị hơn là mấy tướng ngự lâm quân, đều là các lãnh chúa nhưng chàng thực tập sinh cận vệ Gátxcông vốn tính lo xa đến mức keo cú đồng thời lại huênh hoang chẳng thua gì Porthos. Cùng với mối bận tâm xuất phát từ tính phù phiếm, lúc này còn có cả một sự lo âu ít vị kỷ hơn. Chàng đã hết sức đi thăm dò tin tức bà Bonacieux mà vẫn biệt tăm hơi. Ông De Treville đã nói chuyện này với Hoàng hậu. Hoàng hậu cũng không biết bà vợ trẻ ông hàng xén ở đâu và hứa sẽ cho tìm.

Nhưng lời hứa thật mơ hồ và chẳng làm D Artagnan yên tâm mấy.

Athos không ra khỏi phòng mình. Chàng kiên quyết chả tội gì phải đi đâu để trang bị cho mình. Chàng nói với bạn bè:

- Chúng ta còn mười lăm ngày nữa phải không? Nếu trong mười lăm ngày ấy, tôi không tìm thấy gì hoặc đúng hơn là không có gì đến tìm tôi, vì tôi vốn rất ngoan đạo, không thể dùng súng ngắn tự bắn vỡ đầu mình, tôi sẽ tìm cách gây sự khéo với bốn tay cận vệ của Đức Giáo chủ hoặc tám thằng người Anh, đánh nhau cho đến khi có một đứa giết chết tôi, chúng đông thế, điều đó chắc không tránh khỏi. Lúc đó người ta sẽ nói tôi chết vì nhà Vua, thành ra tôi vẫn phục vụ mà không cần trang bị gì.

Porthos, hai tay sau lưng, tiếp tục đi đi lại lại và gật gù nói:

- Ta sẽ làm theo cái cách của ta.

Aramis thì lo lắng, đầu tóc rối bù và chẳng nói gì.

Qua những chi tiết thảm hại ấy, có thể thấy được một cảnh não nề đang ngự trị cái cộng đồng này.

Những người hầu về phía mình, giống như những con chiến mã của Hypôlít(2) cũng chia sẻ nỗi buồn phiền của chủ.

Mousqueton làm lương khô. Bazin vẫn luôn luôn mộ đạo không rời khỏi các nhà thờ. Planchet nhìn ruồi bay và Grimaud mà sự quẫn bách nói chung không thể quyết định gã phá vỡ sự yên tĩnh mà chủ gã đã thiết lập, chỉ thốt lên những tiếng thở dài khiến đá cũng phải mềm ra.

Ba người bạn, vì Athos đã thề không rời một bước chân để trang bị cho mình, một buổi sớm đã ra khỏi nhà và trở về rất muộn. Họ lang thang trên các đường phố, nhìn từng viên đá lát đường xem liệu ai đó khi đi qua có đánh rơi túi tiền nào không.

Đi đến đâu họ cũng chăm chăm chú chú như thể đang bám theo dấu chân ai vậy. Khi gặp nhau, họ nhìn nhau thất vọng như muốn nói: đằng ấy có vớ được cái gì không?

Tuy nhiên, vì Porthos đã tìm cho mình một ý tưởng riêng và vì chàng kiên trì theo đuổi nó, chàng là người đầu tiên bắt tay hành động. Một hôm D Artagnan bắt gặp chàng đi về phía nhà thờ Thánh Lơ, theo bản năng liền bám theo chàng. Chàng bước vào đất Thánh sau khi đã vuốt ria mép vểnh lên và vuốt mượt râu cằm, điều đó luôn luôn báo hiệu chàng đang có những ý đồ chinh phục rõ rệt nhất. Vì D Artagnan đã có ý phòng ngừa khỏi bị lộ mặt, nên Porthos tin rằng không ai thấy mình, D Artagnan vào theo sau. Porthos đến tựa lưng vào một chiếc cột. D Artagnan vẫn không để bị bắt gặp, tựa lưng vào chiếc cột khác.

Đúng lúc đang có một bài thuyết giáo, khiến trong nhà thờ có rất đông người. Porthos lợi dụng tình thế ấy để liếc nhìn phụ nữ. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của Mousqueton, mã ngoài của chàng cách xa sự cùng quẫn bên trong. Mũ dạ tuy có hơi sởn thật, lông mũ có đôi chút bạc màu, các đường thêu đã hơi mở, những tua ren đã rạn, nhưng ở nơi tranh tối tranh sáng, mọi thứ lặt vặt ấy đều tiêu biến, và Porthos vẫn cứ là chàng Porthos bảnh bao.

D Artagnan nhận thấy trên chiếc ghế dài kê gần chỗ Porthos và chàng tựa cột nhất, một thứ sắc đẹp đã chín nẫu hơi ngả vàng, hơi khô héo, nhưng giương giương kiêu kỳ dưới những lớp khăn mũ đen. Đôi mắt của Porthos lén lút nhìn xuống người đàn bà đó, rồi chập chờn liệng dần ra xa tới gian giữa của giáo đường.

Về phần mình, vị phu nhân đó thỉnh thoảng lại đỏ mặt lên, liếc nhanh như ánh chớp về phía chàng Porthos chấp chới, và ngay tức khắc đôi mắt của Porthos càng lượn lờ giận dữ. Rõ ràng đây là một trò ma mãnh cốt chọc tức phát điên bà trùm đồ đen, bởi vì bà ta cắn môi đến bật máu, gãi sống mũi và cứ loay hoay một cách tuyệt vọng trên chỗ ngồi của mình.

Thấy thế, Porthos lại vê ngược ria mép, và vuốt râu cằm và bắt đầu ra hiệu với một người đàn bà đẹp ngồi cạnh dàn đồng ca, không những là một phu nhân kiều diễm, mà còn chắc chắn là một bậc mệnh phụ, bởi vì bà ta có một thằng bé da đen bưng theo một chiếc nệm gối để mình quỳ và một thị nữ cầm một chiếc túi thêu gia huy đựng sách lễ để đọc kinh.

Bà đội khăn mũ đen theo dõi cái nhìn đảo đi đảo lại của Porthos và nhận thấy con mắt chàng dừng lại ở vị phu nhân có nệm gối nhung, có thị đồng, thị nữ theo hầu.

Trong khi ấy, Porthos chơi riết hơn, thôi thì đủ thứ, mắt chấp cha chấp chới, ngón tay để lên môi, những nụ cười nửa miệng sát nhân và thực tế đang sát hại người đẹp bị khinh miệt.

Vì vậy dưới danh nghĩa mêâ culpâ(3) bà ta đấm ngực thốt lên một tiếng "hừm" to đến nỗi mọi người kể cả người đàn bà có nệm gối đỏ đều quay lại phía bà ta Porthos vẫn trơ trơ. Tuy chàng thừa hiểu. Nhưng chàng làm như điếc.

Người đàn bà có nệm gối đỏ vì quá đẹp nên đã tác động mạnh đến bà đội khăn mũ đen khi thấy ở con người kia một mối cừu địch thực sự đáng sợ, cũng tác động mạnh đến Porthos khi thấy nàng xinh đẹp hơn bà đội khăn mũ đen rất nhiều, còn tác động mạnh đến cả D Artagnan khi nhận ra đó là người đàn bà Măng, ở Cale và ở Đuvrơ mà kẻ ngược đãi chàng, có sẹo mặt, đã chào bằng cái tên Milady.

D Artagnan không rời mắt khỏi người đàn bà có đệm gối đỏ, vẫn tiếp tục theo dõi trò ma của Porthos khiến chàng rất thích thú. Chàng đoán chắc người đàn bà đội khăn mũ đen chính là bà biện lý ở phố Lũ Gấu, mà nhất định như thế vì nhà thờ Thánh Lơ không xa phố ấy lắm.

Bằng suy luận D Artagnan đoán Porthos đang tìm cách trả thù cho lần thất bại ở Săngtily, lúc đó bà biện lý đã tỏ ra quá cứng rắn về túi tiền.

Nhưng giữa tất cả đám người đó, D Artagnan cũng nhận thấy không có một gương mặt nào tương xứng với những lối bướm hoa của Porthos, chỉ là những quái tượng và ảo tưởng mà thôi. Nhưng đối với một tình yêu đích thực, một sự ghen tuông thật sự, liệu có hiện thực nào khác với những ảo tưởng và những quái tượng không?

Bài thuyết giáo kết thúc. Bà biện lý tiến lại chậu nước phép.

Porthos đã đến trước và đáng lẽ chỉ nhúng một ngón tay, lại nhúng cả bàn tay. Bà biện lý mỉm cười tưởng rằng vì bà mà Porthos trở nên quá bối rối nhưng bà ta đã nhận ra ngay mình đã nhầm một cách tai hại. Khi bà ta chỉ còn cách chàng không quá ba bước chân, chàng đã quay mặt nhìn không chớp vào người đàn bà có nệm gối đỏ cũng đã đứng lên và tiến gần lại, theo sau là thằng bé da đen và cô gái hầu phòng.

Khi người đàn bà này đến sát Porthos, chàng liền rút bàn tay ướt đẫm nước thánh ra. Người đẹp mộ đạo chấm bàn tay thon thả của mình vào bàn tay to lớn của Porthos, rồi vừa mỉm cười vừa làm dấu thánh và ra khỏi nhà thờ.

- Thật là quá quắt đối với bà biện lý. Bà ta không nghi ngờ gì nữa là người đàn bà kia và Porthos đã tống tình nhau. Nếu bà ta là một mệnh phụ thì bà sẽ ngất mất. Nhưng vì bà chỉ là một bà biện lý(4), bà đành nén giận nói với chàng lính ngự lâm:

- Này, ông Porthos, ông không biếu tôi nước thành à?

Nghe giọng nói ấy, Porthos làm như giật nảy mình, như thể một người vừa thức dậy sau một giấc ngủ trăm năm.

- B...à... bà đấy à! - Chàng kêu lên - Đúng là bà đấy ư? - Ông chồng bà, ông Cơkơna yêu quý ấy có được khỏe không? Ông ấy vẫn cứ keo cú như xưa đấy chứ? Không biết mắt tôi để đâu mà suốt hai tiếng đồng hồ thuyết pháp tôi lại không nhìn thấy bà đấy nhỉ?

- Thưa ông, tôi ở cách ông hai bước chân thôi - người đàn bà trả lời - nhưng ông không thấy được tôi vì ông chỉ để mắt ông đến người đàn bà đẹp mà ông vừa cho nước thánh ấy.

Porthos giả vờ bối rối:

- À, ra bà cũng để ý...

- Có mà mù mới không trông thấy.

- Vâng - Porthos hờ hững nói - đó là một nữ công tước trong số các bà bạn tôi mà tôi phải vất vả lắm mới gặp được vì thói ghen tuông của ông chồng, và bà ấy đã báo trước cho tôi hôm nay sẽ tới đây, chỉ cốt để gặp tôi trong cái nhà thờ nhỏ bé ở cái khu phố khuất vắng này.

- Ông Porthos này - bà biện lý nói - liệu ông có lòng tốt cho tôi được khoác tay trong dăm phút không? Tôi sẵn sàng trò chuyện với ông đây.

- Sao lại thế được thưa bà - Porthos vừa nói vừa nháy mắt với chính mình như một tay chơi bạc đang cười vì nước bạc bịp mình sắp đánh.

Trong khi đó, D Artagnan đang bám theo Milady. Chàng liếc nhìn về phía Porthos và thấy cái nháy mắt đắc thắng ấy.

"Ề, ề, - chàng vừa tự nhủ vừa lý giải theo hướng của thứ đạo lý dễ dãi lạ lùng của cái thời đại bướm ong ấy - cứ kiểu này thì sẽ có một tên có thể trang bị đúng thời hạn được đây".

Porthos đành chịu cho cánh tay của bà biện lý níu xuống như một con thuyền chịu theo tay lái, đi đến nhà tu kín Thánh Magloa, một lối đi ít người qua lại, hai đầu khép lại bằng hai cửa quay, ở đây, ban ngày chỉ thấy ăn mày đang ăn hoặc trẻ con đang chơi đùa.

Bà biện lý thấy yên tâm vì không có bất cứ người xa lạ nào ngoài đám dân thông thường của địa phương có thể trông thấy hoặc nghe thấy, liền kêu lên:

- Ôi, ông Porthos! Có vẻ như ông là một tay đại thắng rồi!

- Tôi ư, thưa bà! - Porthos vừa nói vừa vênh váo - Mà tại sao lại thế được?

- Thì chốc chốc lại ra hiệu, và nước thánh ấy? Nhưng ít nhất cũng phải là một Quận chúa, cái bà với thằng bé da đen và cô gái hầu phòng ấy!

- Bà nhầm rồi, lạy Chúa, không- Porthos trả lời - chỉ là một nữ Công tước thôi mà.

- Thế còn tên hầu chạy theo đợi ngoài cửa và cỗ xe với tên đánh xe mặc quần áo xà ích ngồi đợi trên ghế đánh xe?

Porthos chẳng hề nhìn thấy tên hầu chạy theo xe cũng chẳng nhìn thấy cỗ xe, nhưng cứ nhìn người đàn bà đang ghen tuông này, chàng biết bà Coquenard đã nhìn thấy hết.

Porthos đâm tiếc ngay lúc đầu đã không tâng người đàn bà có đệm gối đỏ lên hàng Quận chúa.

- À, thế là ông thành con cưng của các người đẹp rồi, ông Porthos! - Bà biện lý thở dài nói tiếp.

- Nhưng - Porthos trả lời - Bà cũng hiểu với cái tướng mạo tạo hóa phú cho tôi, tôi thường hay gặp vận may mà.

- Lạy Chúa! Sao cái giống đàn ông họ chóng quên đến thế! - Bà biện lý vừa than vừa ngước mắt nhìn lên trời.

- Tôi lại thấy, còn không chóng bằng đàn bà đâu - Porthos trả lời - bởi thưa bà, rất cuộc, tôi có thể nói chính tôi từng là nạn nhân của bà, khi bị tử thương, bị bọn thầy phẫu thuật bỏ rơi, tôi, hậu duệ của một dòng họ danh tiếng, kẻ đã từng tin cậy vào tình bạn của bà, thế mà tôi suýt chết trước hết vì thương tích, tiếp đến vì đói, trong một quán trọ tồi tàn ở Săngtily, đã thế lại còn chẳng thèm trả lời những bức thư cháy bỏng tôi viết cho bà.

- Nhưng ông Porthos ơi - Bà biện lý thầm thì và cảm thấy nếu phán xét theo cách xử sự của các bậc mệnh phụ thời bấy giờ thì bà quả đã sai.

- Tôi, người đã vì bà mà hy sinh cả nữ Nam tước...

- Tôi biết quá chứ.

- Rồi nữ Bá tước...

- Ông Porthos, đừng trách cứ tôi thêm nữa.

- Và nữ Công tước...

- Ông Porthos, hãy đại lượng nào?

- Bà nói đúng, thưa bà, và tôi sẽ không nói nốt ra đâu.

- Nhưng vì ông chồng tôi ông ấy không muốn nghe nói đến chuyện vay, mượn...

- Bà Coquenard - Porthos nói - bà có nhớ bức thư đầu tiên bà đã viết cho tôi mà tôi vẫn ghi khắc trong ký ức không?

Bà biện lý thốt ra một tiếng kêu rên. Bà nói:

- Nhưng cũng vì món tiền ông hỏi mượn hơi quá lớn.

- Bà Coquenard ạ, tôi đã thích hỏi bà hơn. Chứ tôi chỉ việc biên thư cho bà nữ Công tước... Tôi không muốn nói tên bà ấy ra, bởi tôi không biết làm tổn hại đến danh giá một phụ nữ nghĩa là thế nào. Nhưng điều tôi biết là tôi chỉ việc viết cho bà ấy mấy chữ là bà ấy gửi ngay cho tôi một nghìn năm trăm đồng.

Bà biện lý rơi một giọt nước mắt. Bà nói:

- Ông Porthos ạ, tôi xin thề là ông đã trừng phạt tôi nặng lắm rồi và nếu như mai sau ông gặp phải cảnh ngộ tương tự, ông cứ việc nói cho tôi biết.

- Thôi đi, thưa bà? - Porthos làm ra vẻ bực bội nói - Thôi đừng nói đến chuyện tiền bạc nữa, tôi xin bà, nhục nhã lắm.

- Như thế là ông không yêu tôi nữa rồi! - Bà biện lý chậm rãi và buồn rầu nói.

Porthos im lặng một cách oai vệ.

- Ông trả lời tôi như thế ư? Than ôi! Tôi hiểu rồi.

- Bà hãy nghĩ đến việc bà đã xúc phạm tôi, nó vẫn còn ở đây này - Porthos vừa nói vừa để tay lên trái tim mình và vừa ấn thật mạnh.

- Tôi sẽ sửa chữa. Thôi nào, ông Porthos thân mến của tôi!

- Vả lại, nào tôi đòi hỏi bà gì nào. - Porthos đai lại bằng một động tác đầy vẻ chất phác - chỉ vậy thôi chứ có gì khác đâu. Dẫu sao, tôi đâu phải một kẻ cố cùng. Tôi biết bà không giầu, bà Coquenard ạ, và tôi biết là chồng bà phải hút máu(5) của dân khiếu kiện đáng thương để bòn rút lấy mấy đồng êqui quèn. Ôi, nếu như bà là nữ Bá tước, Hầu tước hay Công tước thì lại là chuyện khác và sẽ không thể tha thứ được.

Bà biện lý tự ái, nói:

- Ông phải biết rằng, ông Porthos ạ, cái két sắt của tôi, cứ cho là két sắt của bà biện lý đi, có khi còn chứa nhiều hơn két sắt của mọi mụ đàn bà õng ẹo hư hỏng của ông đấy.

- Thế là bà lại xúc phạm gấp đôi tôi rồi - Porthos vừa nói vừa gỡ cánh tay của bà biện lý dưới cánh tay mình ra - Bởi vì bà giầu, bà Coquenard, thế thì việc bà chối từ tôi là không thể tha thứ nữa.

- Khi tôi nói giầu - bà biện lý nói chữa lại vì thấy chót đã đi quá xa - không nên hiểu theo nghĩa đen của từ ấy - Tôi rõ ràng là không giàu. Tôi chỉ dễ chịu thôi.

- Thôi nào bà - Porthos nói - ta không nói về việc ấy nữa, tôi xin bà đấy. Bà không hiểu tôi rồi. Mọi tình cảm giữa chúng ta đã tắt!

- Ông là đồ bội bạc!

- A, tôi khuyên bà cứ việc oán trách đi! - Porthos nói.

- Vậy thì ông đi luôn với cái bà nữ Công tước xinh đẹp của ông đi! Tôi không giữ ông nữa đâu.

- Này, tôi tin bà ta chưa đáng bị giày vò thế đâu!

- Thế thì, thưa ông Porthos, một lần nữa, cũng là lần cuối cùng, ông có còn yêu tôi nữa không?

- Than ôi! Thưa bà - Porthos nói bằng một giọng bi ai nhất mà chàng có thể tạo được - khi chúng tôi sắp bước vào chiến dịch, trong một chiến dịch mà những linh cảm của tôi bảo tôi rằng tôi sẽ bị giết.

- Ôi, xin ông đừng nói những chuyện như thế - Bà biện lý òa lên nức nở.

- Một điều gì đó nói với tôi - Porthos tiếp tục mỗi lúc càng bi ai hơn.

- Thà ông cứ nói ông có một mối tình mới còn hơn.

- Không đâu. Tôi thành thực nói với bà đấy. Không có một đối tượng nào khiến tôi động lòng và tôi vẫn còn cảm thấy ở đây, trong đáy lòng tôi, một cái gì đó nói cho bà. Nhưng chỉ trong mười lăm ngày nữa như bà đã biết hoặc có khi bà không biết cũng nên, cái chiến dịch tàn khốc vẫn cứ mở ra! Tôi sắp phải lo lắng ghê gớm về món quân trang của tôi. Rồi, tôi sắp phải khởi hành về gia đình tôi ở mãi cuối vùng Brơtanhơ để thực hiện món tiền cần thiết cho việc tòng chinh.

Porthos nhận thấy trận chiến cuối cùng giữa tình yêu và tình keo kiệt đang diễn ra.

- Và vì - chàng tiếp tục - nữ công tước mà bà vừa thấy ở nhà thờ, có những đất đai cạnh đất đai của nhà tôi, chúng tôi sẽ cùng khởi hành. Những cuộc hành trình, bà biết đấy, khi ta đi có đôi, hình như nó cũng đỡ dài hơn.

- Vậy ông không có ai là bạn bè ở Paris ư, ông Porthos? - bà biện lý hỏi.

- Tôi cứ tưởng là mình cũng có - Porthos vừa nói vừa làm ra vẻ sầu não - nhưng tôi thấy rõ tôi đã lầm.

- Ông có đấy, ông Porthos, ông có đấy - Bà biện lý lắp lại trong cơn bốc đồng khiến chính bà ta cũng phải ngạc nhiên - Ngày mai ông cứ đến nhà - Ông sẽ là con trai của cô tôi do đó là anh họ tôi. Ông từ Noayông đến Picađy. Ông có nhiều việc kiện tụng ở Paris mà lại không có biện lý. Ông nhớ tất cả những điều đó chứ?

- Rất nhớ, thưa bà.

- Ông đến vào giờ ăn trưa.

- Rất tốt.

- Và phải vững trước chồng tôi, mặc dầu đã bẩy sáu tuổi, nhưng vẫn tinh quái lắm.

- Bẩy mươi sáu! Chết tiệt! Tuổi vàng đấy!

- Ông Porthos, ông muốn nói tuổi cao chứ gì. Cho nên, con người tội nghiệp thân yêu đó bất cứ lúc nào cũng có thể để tôi góa bụa - bà biện lý vừa ném cái nhìn đầy ý nghĩa về phía Porthos vừa nói tiếp - May sao hôn ước của chúng tôi là chuyên hết của cải cho người còn sống.

- Chuyển tất cả? - Porthos hỏi.

- Tất cả?

- Bà đúng là loại đàn bà biết lo xa, tôi thấy ngay mà, bà Coquenard thân mến của tôi ạ - Porthos vừa nói vừa trìu mến siết tay bà biện lý.

- Thế là chúng ta lại giải hòa với nhau xong rồi, có phải không ông Porthos? - bà biện lý vừa nói vừa õng ẹo.

- Đến trọn đời - Porthos đáp lại cũng với dáng điệu ấy.

- Vậy tạm biệt, kẻ phản bội của tôi.

- Tạm biệt, nàng dễ quên của tôi.

- Mai nhé, thiên thần của em.

Mai nhé, ngọn lừa của đời anh.

Chương 30

Milady

D Artagnan vẫn bám theo Milady mà không để cho nàng biết được. Chàng thấy nàng lên xe và nghe thấy tiếng ra lệnh cho tên đánh xe đi về cửa ô Saint-Germain.

Nhưng thật là vô ích khi cố chạy bộ bám theo một chiếc xe chạy nước kiệu do hai con ngựa lực lưỡng kéo, D Artagnan đành trở về phố Fréjus.

- Ở phố Sông Sein chàng gặp Planchet đang dừng chân trước cửa hàng bánh ngọt và có vẻ còn đang đê mê với một ổ bánh mì sữa hình dáng rất ngon lành.

Chàng ra lệnh cho gã đóng yên hai con ngựa trong chuồng ngựa của ông De Treville, một con cho chàng, một con cho gã rồi đến gặp chàng ở nhà Athos. Ông De Treville đã cho phép chàng muốn dùng ngựa của ông lúc nào cũng được.

Planchet đi về phía phố Chuồng chim câu, và D Artagnan về phố Fréjus. Athos vẫn ở nhà, đang ngồi buồn uống cạn những chai rượu nho Tây Ban Nha nổi tiếng chàng mang về trong chuyến đi tới Picađi. Chàng ra hiệu cho Grimaud mang một cốc cho D Artagnan và Grimaud vâng lời theo thường lệ.

D Artagnan kể lại cho Athos nghe tất cả những gì đã diễn ra ở nhà thờ giữa Porthos và bà biện lý, và có thể, lúc này, người bạn của họ đang đi sắm quân trang như thế nào.

Nghe hết chuyện, Athos trả lời:

- Còn tôi, tôi hoàn toàn yên trí sẽ không phải là đàn bà bỏ ra trả tiền yên cương cho tôi đâu.

- Nhưng tuy nhiên, đẹp trai, lịch thiệp, đại lãnh chúa như anh, thì sẽ chẳng công chúa, hoàng hậu nào thoát khỏi những mũi tên tình ái của anh đâu.

- Ôi cái cậu D Artagnan trẻ người non dạ này! - Athos vừa nói vừa nhún vai.

Và chàng ra hiệu cho Grimaud mang chai rượu thứ hai đến.

Cùng lúc đó, Planchet thập thò qua chiếc cửa hé mở báo cho chủ mình biết hai con ngựa đã tới đây.

- Ngựa nào vậy? - Athos hỏi.

- Hai con ông De Treville cho tôi mượn để đi dạo và với lũ ngựa này tôi sẽ làm một chuyến đến Saint-Germain.

- Và cậu định làm gì ở chỗ Saint-Germain? - Athos lại hỏi thêm.

- Thế là D Artagnan liền kể cuộc gặp gỡ trong nhà thờ, và chàng đã gặp lại cái người đàn bà đi cùng vị lãnh chúa mặc áo choàng đen và có sẹo ở thái dương như thế nào, người đàn bà đó là mối bận tâm vĩnh viễn của chàng.

- Có nghĩa là cậu đã phải lòng người đàn bà này cũng như đối với bà Bonacieux chứ gì - Athos vừa nói vừa nhún vai khinh thị như thể chàng lấy làm thương hại cho sự yếu đuối của con người.

- Tôi hả, không đời nào! - D Artagnan hét lên - Tôi chỉ tò mò muốn làm sáng tỏ cái bí mật mà bà ta gắn kết với nó. Tôi không biết tại sao tôi cứ hình dung ra người đàn bà tôi hoàn toàn không quen biết đó và con người mặc áo choàng đen cũng hoàn toàn không quen biết tôi lại có ảnh hưởng đến đời tôi.

- Thật ra, cậu có lý đấy - Athos nói - tôi không biết một người đàn bà nào đang để bõ công đi tìm khi nàng đã mất tăm mất tích. Bà Bonacieux đã mất tăm, thì mặc kệ bà ta, rồi bà ta sẽ tìm được đường về.

- Không, Athos, anh nhầm rồi! - D Artagnan nói - Tôi yêu nàng Constance đáng thương của tôi hơn bao giờ hết và nếu tôi biết nàng ở nơi đâu, dù ở tận cùng thế giới tôi cũng sẽ đi ngay để cứu thoát nàng khỏi bàn tay kẻ thù của nàng. Nhưng tôi không biết ở đâu, mọi sự tìm kiếm của tôi đều vô ích. Anh còn muốn gì nào? Thì cũng phải giải khuây đã chứ.

- Vậy thì đi mà giải khuây với Milady, D Artagnan thân mến ạ, nếu việc đó làm cậu thích thú, thì tôi xin hết lòng mong cho cậu đấy.

- Nghe đây, anh Athos - D Artagnan nói - vì anh cứ tự nhốt kín mình ở đây như là bị cầm tù ấy, hãy lên ngựa cùng đi dạo với tôi đến Saint-Germain có hơn không.

- Bạn thân mến - Athos đáp - Tôi lên ngựa khi nào tôi có ngựa, nếu không tôi cuốc bộ.

- Thôi đi! - D Artagnan vừa trả lời vừa mỉm cười về cái giọng chán đời của Athos, mà nếu là của một người khác chắc hẳn đã làm chàng bị tổn thương - Tôi không kiêu hãnh như anh đâu, tôi cưới bất cứ con ngựa nào tôi gặp. Thôi thế, đành tạm biệt vậy, anh Athos thân mến.

- Tạm biệt, - chàng ngự lâm quân vừa nói vừa ra hiệu cho Grimaud mở nút chai rượu gã vừa mang tới.

D Artagnan và Planchet cùng nhảy lên yên vừa thẳng đường tới Saint-Germain.

Suốt dọc đường, những gì mà Athos nói về bà Bonacieux lại trở lại trong tâm trí chàng. Cho dù D Artagnan tính tình không đa cảm mấy, cô hàng xén xinh đẹp vẫn để lại một ấn tượng thật sự trong trái tim chàng. Và như chàng đã nói, chàng sẵn sàng đi đến tận cùng thế giới để tìm nàng. Nhưng thế giới lại có nhiều chỗ tận cùng, sở dĩ như vậy vì nó tròn, thành thử chàng không biết quay về phương nào mà tìm.

Trong khi chờ đợi, chàng đang muốn cố hiểu xem Milady kia là người thế nào. Milady đã nói với người mặc áo choàng đen.

Vậy là nàng quen biết hắn. Thế mà trong tâm trí D Artagnan, chính tên mặc áo choàng đen đã bắt cóc bà Bonacieux lần thứ hai, cũng như hắn đã từng bắt cóc nàng lần thứ nhất. Như vậy là D Artagnan chỉ nói dối một nửa, tức chẳng nói dối bao nhiêu khi chàng nói đi tìm kiếm Milady cũng là đồng thời tìm kiếm nàng Constance.

Vừa đi vừa nghĩ như thế, vừa thỉnh thoảng thúc ngựa, D Artagnan đi hết đoạn đường và đã đến Saint-Germain.

Chàng đi men theo tòa nhà mà mười năm sau Louis XIV ra đời ở đó Rồi chàng đi xuyên qua một phố vắng, nhìn trái, nhìn phải xem có nhận ra dấu vết gì của mỹ nhân người Anh không, thì ở tầng trệt một ngôi nhà xinh đẹp, theo thói quen thời buổi đó không có cửa sổ trông ra đường phố, chàng thấy xuất hiện một gương mặt quen quen. Gương mặt quen đó đang đi dạo trên một loại thềm cây đang nở hoa. Planchet nhận ra hắn trước liền nói với D Artagnan:

- Này ông chủ, ông không nhớ ra bộ mặt đang ngơ ngơ ngác ngác kia ư?

- Không - D Artagnan nói - Tuy nhiên ta tin chắc đây không phải là lần đầu ta nhìn thấy gương mặt ấy.

- Mẹ kiếp, tôi thì tôi tin chắc - Planchet nói - đấy chính là tên Luybanh tội nghiệp, người hầu của Bá tước De Wardes mà cách đây một tháng, ông đã sắp xếp cho ông ta rất là chu đáo ở Cale, trên đường tới dã thự của ông trấn thủ ấy.

- À, phải rồi - D Artagnan nói - giờ thì ta nhận ra hắn rồi.

- Anh có tin hắn cũng nhận ra anh không?

- Ông chủ ạ, lúc đó nó đang rối tinh, rối mù, tôi ngờ nó khó có thể nhớ được một điều gì rõ ràng về tôi.

- Này, thế thì đến gạ chuyện với hắn đi - D Artagnan nói - và thăm dò xem liệu chủ hắn có ngoẻo không.

Planchet xuống ngựa, đi thẳng đến chỗ Luybanh. Quả nhiên hắn không nhận ra gã, và hai chàng hầu trò chuyện với nhau với tình hữu hảo nhất trên đời. Trong khi đó, D Artagnan xua hai con ngựa vào trong một ngõ hẻm rồi đi vòng theo một ngôi nhà để trở lại đứng sau hàng rào cây phỉ tham dự cuộc chuyện trò của hai người kia.

Quan sát sau hàng rào được một lúc, chàng nghe thấy tiếng xe ngựa và thấy chiếc xe của Milady đỗ lại ngay trước mặt chàng. Không còn nhầm vào đâu được, Milady đang ngồi trong xe, D Artagnan cúi người xuống nấp sau cổ ngựa để trông thấy hết mà không bị lộ diện.

Milady thò đầu tóc vàng hoe ra khỏi cửa xe ra lệnh cho cô gái hầu phòng của mình.

Cô gái xinh đẹp khoảng hai mươi đến hăm hai tuổi, hoạt bát, lanh lợi, xứng đáng là người hầu gái của bậc mệnh phụ, đang ngồi ở chỗ bậc lên xe theo tục lệ thời đó, liền nhảy xuống đi về phía cái thềm cây hoa nơi D Artagnan bắt gặp Luybanh.

D Artagnan đưa mắt nhìn theo cô người hầu và thấy cô đi về phía cái thềm. Nhưng vô tình trong nhà có lệnh gọi Luybanh, thành thử còn trơ lại Planchet đang nhìn quanh bốn phía xem chủ mình biến đi đằng nào.

Cô gái hầu phòng đến gần Planchet mà cô tưởng nhầm là Luybanh và đưa cho gã một thư ngắn:

- Gửi cho chủ anh đấy - Cô nói.

- Cho chủ tôi? - Planchet ngạc nhiên hỏi lại.

- Vâng và rất vội đấy. Vậy cầm lấy mau lên.

- Thế rồi, nàng như chạy trốn về phía cỗ xe lúc này đã quay đầu lại về phía đã đến. Cô gái nhảy lên bậc xe và cái xe đi mất.

Planchet lật đi lật lại mẩu giấy, rồi theo thói quen vâng lời một cách thụ động, gã nhảy từ bậc thềm xuống luồn vào ngõ hẻm, và được độ hai mươi bước chân thì gặp D Artagnan đã chứng kiến hết và đang đến trước mặt gã.

- Ông chủ, gửi cho ông đây - Planchet nói và giơ bức thư ra.

- Cho ta? - D Artagnan nói. - Anh có chắc không?

- Mẹ kiếp! Tôi chắc quá đi chứ, con hầu gái nó bảo: "Gửi cho chủ anh đấy!". Tôi có chủ nào khác ngoài ông nào? Thế đấy... Cái con gái hầu ấy, quả tình, nó xinh và thanh mảnh quá đi mất.

D Artagnan mở thư ra đọc những hàng chữ sau:

"Một người quan tâm đên ông hơn cả những gì người ấy có thể nói ra, muốn biêt ngày nào ông sẽ thích dạo chơi trong rừng. Ngày mai, ở khách sạn Cánh đồng tấm thảm vàng, một tên hầu mặc áo đỏ quần đen sẽ đợi thư trả lời của ông".

- Ồ, ồ! - D Artagnan tự nhủ - thế là hơi rõ rồi đây. Hình như Milady và ta đều nhọc lòng vì sức khỏe của cùng một con người thì phải.

- Này Planchet, cái ông De Wardes quý hóa ấy ra sao rồi? Ông ta không ngoẻo đấy chứ?

- Không, thưa ông, ông ta khỏe như một người có thể chịu nổi bốn nhát gươm đâm vào người, bởi ông đã xỉa bốn nhát miễn chê cho vị quý tộc thân mến ấy và ông ấy vẫn còn yếu vì mất nhiều máu quá. Như tôi đã nói với ông chủ đấy. Luybanh không nhận ra tôi, nên đã kể cho tôi nghe từ đầu đến cuối cuộc mạo hiểm của chúng ta.

- Tốt lắm, Planchet, anh đúng là vua của những người hầu đó, bây giờ lên ngựa thôi và đuổi kịp cỗ xe.

Cũng không lấy gì làm lâu lắm, chỉ độ dăm phút họ đã bắt gặp chiếc xe dừng lại bên trái vệ đường. Một kỵ sĩ ăn mặc sang trọng đứng ở cửa xe.

Câu chuyện giữa Milady và người kỵ sĩ đó rất sôi nổi đến nỗi D Artagnan dừng ngựa phía bên kia cỗ xe mà không ai ngoài cô hầu gái xinh đẹp biết chàng có mặt.

Cuộc nói chuyện được diễn ra bằng tiếng Anh, thứ tiếng D Artagnan chẳng hiểu gì, nhưng cứ theo giọng điệu, chàng tin là mình đoán được mỹ nhân người Anh đang rất tức giận. Nàng dứt chuyện bằng một điệu bộ khiến chàng chẳng còn nghi ngờ gì nữa về bản chất của cuộc chuyện trò: đó chính là cú đập quạt mạnh đến nỗi cái đồ mỹ nghệ nhỏ bé của phụ nữ ấy bay lên thành nghìn mảnh.

Người kỵ sĩ phá lên cười chừng như càng làm Milady thêm tức tối D Artagnan nghĩ đây là lúc nên can thiệp. Chàng lại gần cửa xe bên kia, lễ phép ngả mũ chào:

- Thưa bà, bà cho phép tôi được phục vụ bà chứ? Tôi thấy hình như ông kỵ sĩ đây làm bà tức giận. Thưa bà, bà chỉ cần nói một tiếng, tôi xin đảm nhiệm trừng phạt ông ta về tội thiếu lịch sự với bà.

Mới nghe, Milady đã quay lại ngạc nhiên nhìn chàng trai trẻ và khi chàng vừa nói dứt thì nàng nói bằng một thứ tiếng Pháp rất sõi:

- Thưa ông, tôi sẽ rất cảm động được đặt mình dưới sự che chở của ông nếu người cãi nhau với tôi không phải là em tôi.

- À, vậy xin thứ lỗi cho tôi - D Artagnan nói - thưa bà, bà cũng hiểu là tôi không rõ chuyện đó.

- Người kỵ sỹ mà Milady đã chỉ ra là họ hàng đó cúi xuống ngang tầm cửa xe hét lên:

- Cái tên bố nhắng ấy làm sao lại xen chuyện vào; tại sao nó không xéo đi theo đường của nó.

D Artagnan về phía mình, cũng cúi xuống cổ ngựa trả lời chõ vào cửa xe.

- Có ông mới là đồ bố nhắng ấy. Ta không đi đường của ta vì ta thích dừng lại ở đây.

Người kỵ sỹ nói một câu tiếng Anh với chị gái.

- Ta nói với ông bằng tiếng Pháp - D Artagnan nói - Ta yêu cầu ông vui lòng trả lời ta bằng thứ tiếng ấy. Ông là em của bà ấy thì mặc ông, nhưng may thay ông lại không phải là em của ta.

Người ta đã tưởng rằng Milady cũng sợ sệt như phụ nữ thường tình, sẽ xen vào ngay từ lúc bắt đầu có chuyện khích bác để ngăn không cho nàng nhảy tọt vào mãi tít trong cuối xe và lạnh lùng bảo tên đánh xe:

- Về ngay khách sạn.

Cô hầu gái xinh đẹp liếc mắt nhìn lo lắng về phía D Artagnan mà dáng vẻ khôi ngô của chàng hình như đã ảnh hưởng đến cô.

Cỗ xe phóng đi để lại hai người đàn ông đối mặt nhau không còn trở ngại vật chất nào ngăn cách họ nữa.

- Người kỵ sĩ định quay người đi theo chiếc xe, nhưng D Artagnan, cơn giận đã sôi lên và càng tăng thêm nữa khi nhận ra ở hắn là tên người Anh ở Amiêng đã thắng chàng con ngựa và suýt nữa đã thắng Athos cả chiếc nhẫn kim cương của chàng liền nhảy tới nắm lấy cương ngựa ngăn hắn lại.

- Này, ông ơi - chàng nói - Ông hình như còn bố nhắng hơn ta bởi ông làm ra vẻ đã quên giữa chúng ta đã có một cuộc cãi nhau nho nhỏ.

- À, à! - Tên người Anh nói - Chính là ông, thầy cờ bạc. Vậy là ông cứ luôn luôn phải chơi hoặc trò này hoặc trò khác hay sao?

- Phải, và việc đó khiến ta nhớ ra là ta phải gỡ lại. Rồi chúng ta sẽ thấy mà, ông bạn thân mến, ông chơi gươm cũng khéo như chơi hộp xúc xắc đấy chứ?

- Ông thấy rõ là tôi không mang theo gươm - Tên người Anh nói - Ông định tỏ ra can trường để chống lại một người không vũ khí chăng?

- Ta hy vọng ông để nó ở nhà - D Artagnan đáp lại - Dẫu sao ta cũng có hai thanh và nếu ông muốn, ta sẽ chơi với ông bằng một trong hai thanh.

- Vô ích thôi. Tôi cũng mang theo đủ mọi dụng cụ đó.

- Vậy thì? Ông quý tộc danh giá của ta ơi - D Artagnan nói tiếp ông hãy chọn thanh dài nhất ấy và tối nay hãy mang đến cho ta xem...

- Ông thích ở đâu?

- Đằng sau vườn Luýchxămbua, đó là một khu rất đẹp cho những cuộc dạo chơi thuộc loại mà ta đề nghị với ông.

- Được, sẽ có mặt!

- Ông thích mấy giờ?

- Sáu giờ.

- Nhân thể, ông cũng có thể có một vài người bạn chứ?

- Ồ, tôi có những ba đều sẽ rất vinh dự được chơi cùng bên với tôi.

- Ba à? Càng tốt! Thế là tương ngộ rồi! - D Artagnan nói - Cũng đúng số bên này.

- Bây giờ ông là ai? - Tên người Anh hỏi.

- Ta là D Artagnan, quý tộc Gascogne, phục vụ trong cận vệ đội, đại đội ông des Essarts. Còn ông?

- Ta là Huân tước De Winter, nam tước vùng Sépfin(1).

- Vậy thì thưa ông Nam tước, ta sẽ xin hầu ông - D Artagnan nói - cho dù ông có những cái tên rất khó nhớ.

Rồi chàng thúc ngựa phi nước đại, theo con đường phóng về Paris.

D Artagnan xuống ngựa ngay tại nhà Athos như chàng vẫn thường làm trong những trường hợp tương tự.

Chàng thấy Athos đang nằm trên một chiếc ghế dài để đợi quân trang tự nó phải tìtn đến mình như anh đã nói.

Chàng liền kể hết cho anh chuyện vừa xảy ra chỉ trừ có bức thư của ông De Wardes.

Athos rất vui thích khi biết mình sắp được đánh nhau với một tên người Anh. Có thể nói đó là giấc mơ của anh.

Họ cho người hầu đi tìm ngay Porthos và Aramis và cho mấy người này biết rõ tình hình.

Porthos rút gươm ra khỏi vỏ và đâm chém bức tường, thỉnh thoảng lại lùi lại, nhún nhảy như một vũ công, Aramis vẫn luôn làm thơ, chui vào thư phòng của Athos và yêu cầu đừng quấy rầy mình nữa cho đến lúc phải tuốt gươm khỏi vỏ.

Athos ra hiệu cho Grimaud bê một chai rượu ra. Còn D Artagnan thì đang tự mình vạch một kế hoạch nhỏ sau đây sẽ thực hiện, một kế hoạch hứa hẹn một chuyến phiêu lưu thú vị biểu hiện bằng những nụ cười chốc chốc lại hiện lên làm rạng rỡ bộ mặt mơ màng.

Chương 31

Người Anh và người Pháp

Đến giờ hẹn, bọn họ cùng với bốn người hầu đi đến một mảnh đất rào kín thả dê, phía sau vườn Luychxămbua, Athos cho người chăn dê một đồng tiền để y lánh ra nơi khác. Bọn người hầu được giao việc canh phòng.

Một lúc sau, một toán cũng lặng lẽ đến gần, vào đó, gặp mấy người lính ngự lâm, rồi theo những thủ tục nước ngoài, hai bên giới thiệu nhau.

Bọn Anh đều là những người thuộc phẩm trật cao, nên những cái tên kỳ quái của địch thủ không những làm họ ngạc thiên, mà còn lo ngại nữa.

Nghe ba người xưng tên, Huân tước De Winter nói:

- Những tên như thế thì chúng tôi biết các ông là ai, và chúng tôi sẽ không giao chiến với những cái tên như thế đâu. Đó là tên của lũ chăn cừu.

- Huân tước, ông đoán đúng đấy, đấy là những tên giả cả thôi - Athos nói.

- Như thế chỉ càng khiến chúng tôi muốn biết những tên thật? - Gã người Anh nói.

- Các ông đã đánh bạc với chúng tôi mà có biết tên chúng tôi tâu Athos nói - với danh hiệu gì các ông thắng của chúng tôi hai con ngựa nào?

- Đúng vậy, nhưng lúc ấy chúng tôi chỉ liều những đồng vàng thôi. Lần này chúng tôi đem máu ra liều. Người ta chơi bạc với cả thiên hạ, nhưng người ta chỉ giao chiến với những người cùng đẳng cấp.

- Đúng lắm! - Athos nói. - Và chàng túm lấy một kẻ trong bốn người Anh sẽ phải đấu với chàng rồi nói nhỏ tên mình cho gã.

Porthos và Aramis cùng làm như thế.

- Như thế đã thỏa mãn ông chưa? - Athos nói với đấu thủ - Và ông thấy ta đã là một đại lãnh chúa để cho phép ta được so gươm với ông chứ?

- Phải, thưa ông - Tên người Anh vừa nói vừa nghiêng mình đáp lễ

- Vậy thì, bây giờ, ông có muốn ta nói cho ông một điều không? - Athos lạnh lùng nói tiếp.

- Điều gì? - Gã người Anh hỏi.

- Là điều nhẽ ra ông đừng đòi ta cho biết tên thì tốt hơn.

- Tại sao vậy.

- Bởi người ta tưởng ta đã chết, vì ta có những lý do để mong muốn người ta không biết ta còn đang sống và ta sẽ buộc lòng phải giết ông để bí mật của ta khỏi tung tóe ra.

Gã người Anh nhìn Athos tưởng chàng đùa, nhưng Athos không đùa một chút nào.

- Các vị! - Athos vừa nói với đồng đội vừa tới phía các địch thủ - Chúng ta sẵn sàng cả rồi chứ?

- Rồi - Cả người Anh và người Pháp đồng thanh trả lời.

- Vậy, hãy phòng thủ - Athos nói, và lập tức tám thanh gươm lóe sáng trong ánh trời tà và cuộc giao chiến bắt đầu với một sự ác liệt hoàn toàn đương nhiên giữa những kẻ từng hai lần thù địch.

Athos xỉa gươm đúng phép và bình tĩnh như trong phòng luyện.

Porthos chắc chắn đã sửa chữa được cái bệnh quá chủ quan trong cuộc phiêu lưu ở Săngtily, chơi những đường kiếm rất hiểm và rất thận trọng.

Aramis còn phải làm cho xong đoạn ba thi khúc của mình nên tỏ ra rất vội, muốn xong chóng vánh.

Athos là người đầu tiên giết chết địch thủ: chàng chỉ đâm hắn có một mũi, nhưng như chàng đã báo trước, đó là một mũi tử thương, mũi gươm xuyên qua tim.

Porthos là người thứ hai hạ đối thủ của mình lăn xuống cỏ.

Chàng đã đâm thủng đùi hắn. Vì gã người Anh này không tiếp tục kháng cự nữa, gã đã trao gươm cho chàng nên Porthos hai tay dìu gã và đưa gã lên xe.

Aramis dồn ép đối thủ mãnh liệt, và sau khi đã bị vỡ thế trận năm chục bước, cuối cùng hắn co cẳng chạy và biến mất trước những tiếng hò reo chế giễu của bọn người hầu. Còn D Artagnan, chàng chỉ hoàn toàn đánh phòng thủ, rồi khi thấy đối thủ đã quá mệt, bằng một cú đánh tạt cực mạnh chàng làm bay gươm đối thủ. Gã nam tước, thấy bị mất gươm nhảy lùi hai ba bước về phía sau, nhưng trượt chân, ngã lộn ngửa.

D Artagnan nhảy phọt tới tì mũi gươm vào họng gã.

- Ta có thể giết ông - Chàng nói với người Anh - và ông đã hoàn toàn trong tay ta, nhưng vì tình yêu với chị gái ông, ta tha chết cho ông.

D Artagnan vui sướng đến cực độ. Chàng vừa thực hiện xong kế hoạch đã vạch trước, và sự tiến triển của kế hoạch làm rạng rỡ những nụ cười trên khuôn mặt chàng.

Người Anh, vui mừng được xử lý việc này với một con người rất chi cao thượng, liền ôm siết D Artagnan trong vòng tay và không ngớt mồm tâng bốc mấy chàng ngự lâm quân. Rồi vì đối thủ của Porthos đã ở trong xe, còn tên của Aramis đã biến vô tăm tích, mọi người chỉ còn nghĩ đến kẻ đã chết.

Vì Porthos và Aramis lột quần áo hắn ra hy vọng vết thương không gây tử vong, một túi tiền lớn rơi ra khỏi đai lưng.

D Artagnan nhặt và đưa cho Huân tước De Winter. Gã người Anh nói:

- Ông muốn tôi làm cái chết tiệt gì với túi tiền này?

- Ông trả cho gia đình ông ta - D Artagnan nói.

- Gia đình ông ta quan tâm lắm đến món vặt ấy ư? Họ được thừa hưởng mười lăm nghìn louis vàng lợi tức. Ông cứ giữ lấy cho các người hầu của các ông.

D Artagnan đút túi tiền vào túi mình.

- Và bây giờ, ông bạn trẻ của tôi, bởi tôi hy vọng ông cho phép tôi được gọi ông như vậy - Huân tước De Winter nói - ngay tối nay, nếu ông muốn, tôi sẽ giới thiệu ông với chị gái tôi, phu nhân Clericss, bởi vì tôi muốn đứng về phía chị ấy, chị ấy cũng hết lòng ưu ái với ông, và vì chị ấy không phải là kém cỏi lắm ở trong triều, có thể trong tương lai chị ấy chỉ nói một tiếng, không phải là không có ích với ông đâu.

D Artagnan khoái trí đến đỏ mặt, nghiêng mình tỏ ý hoan nghênh. Trong khi đó, Athos lại gần nói nhỏ vào tai D Artagnan:

- Cậu định làm gì với cái túi tiền đó?

- Ồ, tôi định trả lại anh thôi mà, anh Athos thân mến.

- Trả tôi hả? Tại sao vậy?

- Khỉ, anh giết hắn, đó là chiến lợi phẩm của anh.

- Tôi, thừa kế của kẻ thù ư! - Athos nói - Cậu coi tôi là hạng người nào?

- Đó là lệ của chiến tranh - D Artagnan nói - Tại sao không coi đó là lệ của quyết đấu?

- Ngay cả ở trên chiến trường - Athos nói - Tôi cũng không bao giờ làm như thế.

Porthos nhô vai lên. Aramis mấp máy môi, tán thành Athos.

- Thế thì - D Artagnan nói - ta cho bọn người hầu số tiền này như Huân tước De Winter bảo nên làm thế.

- Đúng, - Athos nói - nhưng cho lũ người hầu của bọn Anh chứ không phải người hầu của chúng ta.

Cách xử sự cao cả ấy của một con người không còn một xu dính túi khiến bản thân Porthos cũng phải xúc động và lòng hào hiệp Pháp, đã được Huân tước De Winter và bạn mình kể lại, đâu đâu cũng trầm trồ khen ngợi chỉ trừ có các chú chàng Grimaud, Mousqueton, Planchet và Bazin.

Huân tước De Winter khi chia tay D Artagnan đã cho chàng địa chỉ chị dâu mình. Nàng cư trú ở quảng trường Hoàng gia bấy giờ là khu phố rất thời thượng và ở nhà số 6. Hơn nữa ông ta còn ngỏ ý đến đón chàng đi để giới thiệu. D Artagnan hẹn với ông ta lúc tám giờ ở nhà Athos.

Việc ra mắt Milady chiếm hết tâm trí chàng Gascogne.

Chàng nhớ lại người đàn bà ấy cho đến nay đã xen vào số phận mình một cách kỳ lạ như thế nào. Chàng tin chắc, đó là người của Giáo chủ, nhưng chàng vẫn cảm thấy không thể cưỡng nổi bị nàng lôi cuốn bởi một thứ tình cảm không phân định rõ ràng được Điều e sợ duy nhất của chàng là Milady nhận ra chàng là người ở Măng và ở Đuvrơ. Lúc đó, nàng sẽ biết chàng là bạn của ông De Treville và do đó linh hồn và thể xác chàng thuộc về nhà vua, dẫn đến việc làm mất một phần lợi thế của chàng, vì một khi, hai bên đều hiểu nhau như thế, cuộc chơi sẽ ở tư thế ngang nhau. Về sự khởi đầu dan díu giữa nàng với Bá tước De Wardes, anh chàng tự phụ này lại không lo lắng mấy mặc dầu vì Hầu tước(1) này vừa trẻ, đẹp, giàu và có ưu thế mạnh trong sự sủng ái của Giáo chủ. Nhưng khi người ta mới hai mươi tuổi, nhất lại là dân Tácbơ thì không phải những cái đó chẳng là gì hết.

D Artagnan bắt đầu bằng việc về nhà, ăn mặc thật choáng lộn rồi trở lại nhà Athos và theo thói quen kể lại hết cho Athos, Athos lo lắng nghe những dự định của chàng rồi lắc đầu và khuyên chàng phải cẩn thận, bằng một vẻ chua chát.

- Sao? Cậu vừa bị mất một người đàn bà cậu bảo tất, duyên dáng, hoàn hảo và bây giờ cậu đã vội chạy theo một người đàn bà khác ư?

D Artagnan cảm thấy sự trách móc ấy thật xứng đáng.

- Tôi yêu bà Bonacieux bằng trái tim, còn Milady, tôi yêu bằng lý trí. Để người ta dẫn tôi đến nhà nàng, trên hết là tôi tìm cách làm sáng tỏ vai trò của nàng ở triều đình.

- Vai trò của nàng ư? Mẹ kiếp! Sau tất cả những gì cậu nói với mình có khó khăn gì mà không đoán ra. Chỉ là thứ con mồi nào đó của Giáo chủ, một mụ đàn bà dụ cậu chui vào trong một cái bẫy, và cậu sẽ mất đầu ở đấy như chơi.

- Quỷ ạ? Anh Athos thân mến, tôi thấy hình như anh nhìn cái gì cũng thành màu đen cả.

- Cậu em thân mến, mình không tin đàn bà, biết làm thế nào! Mình đã phải trả giá về chuyện đó, và nhất là loại đàn bà tóc hung vàng. Milady tóc hung vàng, cậu chẳng bảo mình thế ư?

Nàng có bộ tóc hung vàng đẹp chưa từng thấy.

- Ôi, cậu D Artagnan đáng thương của tôi - Athos nói.

- Anh nghe đây. Tôi muốn làm sáng tỏ. Rồi khi tôi biết rõ điều tôi muốn biết, tôi sẽ lánh xa. cậu cứ việc làm sáng tỏ - Athos nói một cách lạnh lùng.

Huân tước De Winter đến đúng giờ. Athos được báo trước đã chuyển sang phòng bên. Winter thấy có một mình D Artagnan, và vì đã gần tám giờ, Huân tước dẫn chàng đi.

Một cỗ xe sang trọng đang chờ ở phía dưới và vì xe được thắng hai con ngựa ưu tú, nên chỉ một lát sau mọi người đã ở quảng trường Hoàng gia.

Milady Clericss trịnh trọng đón tiếp D Artagnan. Cư xá của nàng tráng lệ xa hoa đặc biệt, và cho dù phần lớn người Anh bị chiến tranh xua đuổi, đã rời khỏi hoặc đang rời nước Pháp, Milady lại vừa chi những khoản mới tại ngay cư xá của mình. Điều đó chứng tỏ phương sách nói chung dùng để xua đuổi người Anh về nước không làm cho nàng quan tâm.

Huân tước De Winter giới thiệu D Artagnan với chị mình.

- Chị xem, đây là nhà quý tộc trẻ đã nắm tính mạng tôi trong tay, và không hề muốn lạm dụng lợi thế của mình, cho dù chúng tôi đã từng hai lần là kẻ thù của nhau, vì chính tôi đã xúc phạm ông ấy, và vì tôi là người Anh. Chị hãy cảm ơn ông ấy đi nếu chị còn có chút tình với tôi.

Milady hơi cau mày. Một lớp mây thoáng hiện qua trên trán nàng, và một nụ cười rất lạ lùng hiện lên trên môi nàng khiến chàng trai trẻ cùng một lúc nhìn thấy ba sắc dạng ấy không khỏi rùng mình.

Người em nàng không nhìn thấy gì cả. Ông ta quay đi để đùa với con khỉ yêu quý của Milady, đang kéo áo chẽn của ông ta.

Milady bằng một giọng nói đặc biệt dịu dàng trái hẳn với những biểu hiện khó chịu mà D Artagnan vừa nhận thấy, bảo chàng:

- Thưa ông, rất hân hạnh được đón ông. Hôm nay ông đã có được những quyền bắt tôi phải mãi mãi biết ơn ông.

Người Anh kia bấy giờ mới quay lại và kể hết trận chiến không bỏ một chi tiết. Milady lắng nghe hết sức chăm chú, tuy nhiên dù nàng đã hết sức che giấu những cảm xúc của mình, người ta vẫn thấy được dễ dàng câu chuyên không hề làm cho nàng thích thú chút nào. Máu dồn lên mặt nàng và bàn chân nhỏ nhắn của nàng cứ bứt rứt không yên dưới làn váy áo.

Huân tước De Winter không nhận thấy gì hết. Rồi khi đã kể xong, ông ta lại gần cái bàn, trên có một cái khay để một chai rượu nho Tây Ban Nha và mấy cái cốc. Ông ta rót đầy hai cốc, ra hiệu mời D Artagnan uống.

D Artagnan hiểu rằng từ chối một người Anh không chạm cốc với họ là làm họ phật ý ghê gớm. Vì vậy chàng lại gần bàn và cầm lấy cốc thứ hai. Song chàng không hề rời mắt khỏi Milady, và trong gương chàng bắt gặp sự biến đổi vừa xảy ra trên khuôn mặt nàng. Giờ đây nàng tưởng không bị ai nhìn nữa, một nét hung tợn lồ lộ trên khuôn mặt nàng. Nàng nghiến chặt răng cắn chiếc khăn tay.

Cô gái hầu xinh tươi nhỏ nhắn mà D Artagnan đã để ý tới lúc này bước vào, cô nói bằng tiếng Anh mấy câu với Huân tước De Winter. Ông ta lập tức xin phép D Artagnan, và nhờ người chị xin lỗi.

D Artagnan bắt tay Huân tước Winter và quay lại bên Milady. Mặt nàng với một sự linh hoạt kỳ lạ, đã lấy lại được nét duyên dáng, duy chỉ có mấy vết máu nhỏ thấm rải rác trên chiếc khăn tay là chỉ rõ nàng đã cắn môi mình đến bật máu.

Đôi môi nàng tuyệt đẹp, người ta bảo như màu san hô.

Cuộc trò truyện có vẻ vui nhộn hẳn lên. Milady hình như đã hoàn toàn trở lại bình thường. Nàng kể Huân tước De Winter chỉ là em chồng nàng chứ không phải em nàng. Nàng đã lấy người con út(2) trong gia đình, người đó đã qua đời để lại nàng góa bụa với một đứa con. Đứa bé ấy là người thừa kế duy nhất của Huân tước De Winter, nếu Huân tước không lấy ai. Tất cả những cái đó khiến cho D Artagnan thấy như có một tấm màn phủ lên một đicu gì đó, nhưng chàng lại chưa nhìn rõ cái gì dưới tấm màn.

Hơn nữa, sau nửa giờ chuyện trò, D Artagnan chắc Milady là đồng bào của mình, nàng nói tiếng Pháp rất tinh tế và bay bướm khiến không thể còn chút nghi ngờ gì về việc nàng là người Pháp. D Artagnan không ngớt tán tỉnh và cam đoan chung thủy.

Trước tất cả những câu ngớ ngẩn tuôn ra từ chàng trai Gascogne, nàng chỉ mỉm cười đầy thiện chí. Giờ rút lui đã tới.

D Artagnan cáo biệt Milady và ra khỏi phòng khách như một người sung sướng nhất trên đời.

Trên cầu thang chàng gặp cô hầu gái xinh đẹp, cô gái khi đi qua khẽ cọ vào người chàng và đỏ bừng mặt lên xin lỗi vì đã đụng phải chàng, bằng một giọng rất hiền dịu khiến lời xin lỗi lập tức được chấp nhận ngay.

Hôm sau D Artagnan trở lại và còn được đón tiếp nhiệt tình hơn đêm trước. Huân tước De Winter không có đó, và lần này chính là Milady đã hết sức hân hạnh tiếp chàng suốt cả buổi tối.

Nàng tỏ ra vẻ rất thích chàng, hỏi chàng hiện ở đâu, ai là những bạn bè của chàng và liệu đôi khi chàng có nghĩ đến chuyện phụng sự Đức Giáo chủ không.

D Artagnan như đã biết, là người quá thận trọng so với tuổi hai mươi, liền nhớ lại những ngờ vực của mình về Milady.

Chàng hết sức ca ngợi Đức ông và bảo nàng thay vì xung vào đội cận vệ của nhà vua, chàng đã không hề để lỡ chút nào xung vào đội cận vệ của Giáo chủ, nếu ví dụ chàng quen biết ông De Cavoa thay vì quen biết ông De Treville.

Milady chuyển ngay sang chuyện khác chẳng một chút gượng gạo và hỏi D Artagnan một cách hững hờ nhất trần đời là chàng đã bao giờ ở nước Anh chưa.

D Artagnan trả lời rằng chàng đã được ông De Treville phái sang đấy để xử lý vấn đề nâng cấp ngựa, và chàng cũng đã mang về bốn con để làm mẫu.

Milady, trong khi nói chuyện, hai ba lần mím môi. Nàng vấp phải một gã Gascogne chơi rất kín kẽ.

Cũng bằng giờ đêm trước, D Artagnan rút lui. Trong hành lang chàng lại gặp cô hầu Ketty xinh đẹp. Cô gái nhìn chàng bằng thái độ đầy thiện cảm mà chàng không thể nhầm chút nào.

Nhưng D Artagnan lại quá quan tâm tới nữ chủ nhân, nên chàng tuyệt đối chẳng nhận thấy gì ngoài những điều đến từ nữ chủ nhân.

Hôm sau D Artagnan lại đến nhà Milady rồi hôm sau nửa và mỗi tối Milady lại đón tiếp chàng thịnh tình hơn.

Mỗi tối, lần trong tiền sảnh, lần ở hành lang, lần trên cầu thang, chàng đều gặp cô hầu gái xinh đẹp.

Nhưng như đã nói, D Artagnan không hề chú ý đến sự kiên tâm của nàng Ketty tội nghiệp.

Chương 32

Bữa ăn trưa nhà ông biện lý.

Tuy nhiên cuộc quyết đấu, trong đó Porthos đóng một vai trò chói lọi không làm chàng quên bữa ăn trưa của bà biện lý của chàng. Hôm sau khoảng một giờ, sau khi để Mousqueton chải chuốt bộ cánh áo của mình lần nữa, chàng đi về phố Lũ gấu bằng bước chân của một kẻ hai lần gặp may.

Trái tim chàng đập mạnh, nhưng không giống như D Artagnan với một mối tình trẻ trung và nôn nóng. Không, một lợi ích vật chất hơn đang giục giã máu chàng, cuối cùng chàng cũng sắp vượt qua cái ngưỡng cửa bí ẩn ấy, để bước lên bậc thang xa lạ mà những đồng vàng cũ kỹ của thày cãi Coquenard đã từng một đồng một leo lên.

Chàng sắp được nhìn tận mắt cái hòm sắt mà có đến hai chục lần chàng thấy hình ảnh nó trong mơ, cái hòm dài và sâu, khóa móc, chốt then, niêm phong dưới đất, cái hòm chàng thường được nghe nói, mà đôi bàn tay hơi khô quắt, đúng vậy, của bà biện lý sắp mở ra trước đôi mắt ngưỡng mộ của chàng.

Và rồi chàng nữa, kẻ lang thang phiêu bạt khắp đó đây, kẻ không tài sản, không gia đình, một quân nhân nhẵn mặt nơi quán trọ, tửu quán và lữ điếm, một kẻ sành ăn mà phần lớn thời gian phải gặp đâu ăn đấy, nay sắp được nếm bữa cơm gia đình, được hưởng bầu không khí gia đình ấm cúng, phó mặc cho những sự cưng chiều nho nhỏ mà người ta càng khô khan chừng nào, càng thích thú chừng ấy như mấy bác lính già đã nói. với tư cách người anh họ, ngày ngày đến ngồi vào chiếc bàn, ăn ngon lành, làm bớt nhăn vầng trán bủng beo nhăn nhúm của ông biện lý già, vặt lông đôi chút mấy chú thư ký trẻ bằng cách dạy họ những trò đê tiện, trò ba xúc xắc, bài Đức, trong những ngón thực hành ma mãnh, để thu về mỗi giờ dạy bằng cả khoản dành dụm trong cả tháng của họ, tất cả những điều đó đang mỉm cười thoải mái với Porthos.

Chàng ngự lâm ta liền nhớ lại, chỗ này, chỗ kia, mỗi chỗ một tí những tiếng đồn đại về các ông biện lý, từ thời nảo thời nào, dù chết rồi nhưng tiếng vẫn còn, về thói keo bẩn, thói xà xẻo, những ngày ăn chay, trừ việc tiết kiệm thái quá mà Porthos luôn thấy là rất không đúng lúc, rốt cuộc, đối với một bà biện lý, thì bà biện lý này vẫn cứ là khá hào phóng và chàng hy vọng sẽ gặp một ngôi nhà ở mức làm cho người ta hài lòng.

Thế nhưng, ngay tại cửa, chàng đã thấy ngờ ngợ. Càng tới gần càng thấy chẳng có gì đáng để thu hút mọi người, lối đi hôi hám và tối om, cầu thang nhờ nhờ chiếu sáng qua những song sắt từ ánh sáng sân nhà láng giềng. Ở tầng một, một chiếc cửa thấp đóng những đinh sắt khổng lồ như cổng chính Tòa pháo đài lớn Satơlê.

Porthos giơ ngón tay gõ khẽ. Một chú học nghề ký lục cao lớn, xanh xao, tóc rậm rạp như một rừng nguyên sinh ra mở cửa và chào với vẻ miễn cưỡng phải kính nể một người cũng có vóc dáng to lớn lộ rõ sức mạnh, lại mặc binh phục biểu lộ địa vị hiện thời, và nước da hồng hào chứng tỏ mức sống phong lưu.

Một chú học nghề khác nhỏ hơn đằng sau gã này, và một gã khác cao hơn đằng sau gã thứ hai, và một chú loong toong mười hai tuổi sau gã thứ ba.

Tất cả là ba chàng học nghề rưỡi, điều đó chỉ ra đây là một môn học đắt hàng nhất thời bấy giờ.

Cho dù chàng ngự lâm một giờ mới phải đến nhưng từ giữa trưa bà biện lý đã trông ngóng và mong ở tấm lòng, cũng có thể cả ở dạ dày tình lang của bà để chàng đến sớm hơn.

Bà Coquenard từ cửa buồng đi ra hầu như cùng một lúc với vị thực khách của bà từ cửa cầu thang đi lên và sự xuất hiện của vị phu nhân danh giá đó khiến chàng hết sức bối rối. Bọn học nghề nhìn chàng bằng con mắt tò mò, còn chàng không biết nói sao về cái trò leo lên leo xuống này, đành đứng lặng câm.

- Anh họ tôi đấy? - Bà biện lý reo lên - Anh vào đi, vào đi, anh Porthos.

Cái tên Porthos có ảnh hưởng ngay đến bọn học nghề khiến họ bật cười, nhưng Porthos quay lại, mọi bộ mặt lại trở lại nghiêm trang.

Vào phòng ông biện lý là phải qua tiền sảnh nơi bọn học nghề có lẽ học ở đó. Cái phòng này là một loại phòng tối om và ngổn ngang giấy lộn. Ra khỏi phòng học, đi qua nhà bếp ở bên phải là đi vào phòng tiếp khách.

Tất cả các phòng đều thông sang nhau, và không gây được một ý nghĩ tốt đẹp nào cho Porthos. Cửa phòng mở thì từ xa đã nghe thấy tiếng nói. Rồi khi đi qua, chàng liếc nhanh mắt xem bếp núc ra sao, chàng đành phải tự thú nhận lấy làm xấu hổ cho bà biện lý và trót dại cho bản thân mình, vì không thấy lửa bếp, và vẻ tấp nập, nhộn nhịp thường có trong một bữa ăn ngon, đúng hơn là thường ngự trị trong thánh đường của những món ăn ngon miệng.

Ông biện lý chắc hẳn đã được báo trước cuộc viếng thăm này vì ông chẳng tỏ ra ngạc nhiên chút nào khi nhìn thấy Porthos tiến về phía ông, với vẻ khá thoải mái và nho nhã chào ông.

- Chúng ta là họ hàng, hình như thế phải không, ông Porthos? - Ông biện lý chống tay lên chiếc ghế bành bằng trúc, nhổm dậy hỏi.

Một ông lão, bọc kín trong một chiếc áo chẽn đen rộng thùng thình và tấm thân lòng khòng, xanh xao, khô đét lọt thỏm trong đó. Đôi mắt nhỏ màu xám sáng như hai viên lựu ngọc với cái miệng nhăn nhó hình như là phần sinh sắc duy nhất còn lại trên khuôn mặt ông ta. Khốn nạn thay, đôi chân ông lại bắt đầu từ chối việc phục vụ của cái cỗ máy xương xẩu đó từ năm sáu tháng nay rồi, và từ khi ngửi thấy mùi suy sụp ấy, ông biện lý đáng kính đã gần như trở thành nô lệ của vợ mình.

Người anh họ chẳng qua được tiếp nhận một cách bất đắc dĩ thôi. Thầy kiện Coquenard nếu còn quắc thước thì đã xin lỗi mọi thứ họ hàng với ông Porthos rồi.

- Vâng, thưa ông, chúng ta là họ hàng - Porthos đáp chẳng hề lúng túng, hơn nữa chàng đâu có tính chuyện được người chồng tiếp đón nồng nhiệt.

- Về phía các bà à?

Ông biện lý hỏi một cách tinh quái. Porthos đã chẳng hề cảm thấy là sự mỉa mai, lại còn coi đó như một sự hồn nhiên khiến chàng phát buồn cười sau hàng ria rậm. Bà Coquenard thì biết thừa làm gì có chuyện ông biện lý hồn nhiên trong trường hợp đó, cũng hơi cười tủm nhưng lại đỏ mặt nhiều hơn.

Từ lúc Porthos đến, thầy kiện Coquenard vẫn lo lắng đưa mắt nhìn về phía chiếc tủ lớn kê trước chiếc bàn giấy bằng gỗ sồi của ông ta. Porthos hiểu rằng chiếc tủ ấy cho dù không giống với hình dạng chiếc hòm chàng thấy trong mơ vẫn cứ là chiếc hòm may mắn, và còn mừng thầm vì cái tủ thực này còn cao hơn cái trong mơ gần hai mét.

Thầy kiện Coquenard không đẩy xa việc điều tra gia hệ thêm nữa mà đưa mắt lo lắng từ cái tủ sang Porthos, và đành bảo:

- Ông anh họ chúng ta, trước khi ông ra trận chắc sẽ chiếu cố dùng cơm trưa một lần với chúng ta, phải không, bà Coquenard?

Lần này, Porthos cảm thấy như vừa nhận một đòn đánh trúng dạ dày, và hình như về phía bà Coquenard cũng không phải không cảm thấy điều đó vì bà nói thêm:

- Ông anh họ tôi sẽ không trở lại nữa nếu chúng ta xử sự tồi với anh ấy. Nhưng trong trường hợp trái lại, cho tới khi ra trận anh ấy cũng có quá ít thời giờ để qua được Paris, do đó không phải bất cứ lúc nào cũng có thể thu xếp để đến thăm chúng ta được đâu ôi! Đôi chân tôi! Đôi chân khốn khổ của tôi! Mày ở đâu rồi? - Ông Coquenard lẩm bẩm.

Và ông cố nở một nụ cười.

Porthos cảm thấy vô cùng biết ơn bà biện lý đã kịp thời cứu chàng đúng lúc chàng bị tấn công trong những niềm hy vọng tiêu hóa thức ăn của mình.

Chỉ lát sau, giờ ăn trưa đã tới. Mọi người đi sang phòng ăn, một phòng lớn tối tăm đối diện với bếp.

Bọn học nghề ký lục hình như cũng cảm thấy trong nhà những mùi thơm khác thường, tăm tắp như nhà binh, tay cầm ghế đẩu sẵn sàng ngồi. Người ta thấy trước được những quai hàm này nhai rau ráu với những dự tính đáng sợ.

Của nợ! - Porthos vừa nghĩ vừa liếc nhìn ba kẻ đói khát bởi chú loong toong không được phép vinh dự ngồi cùng bàn thầy kiện. Của nợ? Ở địa vị ông anh họ mình, mình sẽ không để cho lũ của nợ hau háu kia ngồi cùng - cứ như lũ đắm tàu sáu tuần không được ăn rồi ấy!

Thầy kiện Coquenard đi vào trên chiếc ghế bành có bánh lăn do bà Coquenard đẩy, Porthos thấy thế cũng giúp một tay đẩy xe đến bàn ăn.

Mới thoạt vào, ông ta cũng hít hít mũi và trệu trạo hàm bắt chước bọn học nghề ký lục, rồi nói:

- Ồ! Ồ cái món canh này chắc ngon đây.

"Mẹ kiếp món canh này có cái cóc khô gì đặc biệt khiến họ cảm thấy vậy?" Porthos nghĩ thầm trước món canh lõng bõng, chẳng có mùi gì ngoài lềnh bềnh mấy viên bột bao thịt băm như những đảo nổi trên một quần đảo.

Bà Coquenard mỉm cười và ra hiệu mời mọi người ngồi xuống, mọi người vội làm theo.

Thầy Coquenard được phục vụ đầu tiên, rồi đến Porthos. Tiếp đó bà Coquenard múc đầy đĩa mình và phân đều viên thịt bao bột cho lũ học nghề đang sốt ruột.

Cùng lúc đó, cửa phòng ăn cọt kẹt tự mở ra, và Porthos qua cánh cửa hé mở thấy chú nhỏ loong toong không được phép dự tiệc cùng, đang nhai bánh trước mùi bếp và mùi phòng ăn.

Sau món canh, người hầu gái mang ra một gà mái luộc. Món ăn xa xỉ này làm rãn căng mi mắt các thực khách đến nỗi hình như sẵn sàng nứt toác ra.

- Bà có vẻ yêu quý họ hàng nhà mình gớm nhỉ, bà Coquenard - ông biện lý nói với một cụ cười hầu như thê thảm - Rõ ràng đây hẳn phải là sự ân cần chiều chuộng của bà với ông anh họ của bà.

Con gà mái khốn khổ gầy giơ xương nhưng vẫn không chọc thủng nổi lớp da quá dầy, chắc người ta phải tìm mãi mới thấy nó đậu ở cái xó nó đã lui về đấy để đợi chết già.

"Mẹ kiếp! - Porthos nghĩ - Như thế mới thật quá buồn, ta kính trọng tuổi già, nhưng mình ít ra không thích thấy nó được đem luộc hoặc quay".

Và chàng nhìn khắp lượt xem có ai cùng ý kiến với mình không, nhưng trái hẳn với chàng, chàng chỉ thấy những cặp mắt rực lửa như đang ngốn ngấu trước con gà mái tuyệt vời, nhưng lại là đối tượng của sự khinh thị của chàng.

- Bà Coquenard kéo đĩa gà lại gần mình, khéo léo gỡ hai chiếc chân đen to đặt vào đĩa chồng, cắt cổ và đầu vào phần mình, nhấc chiếc cánh gà cho Porthos và trao nó lại cho cô hầu gái vừa mới mang nó lên, con vật lúc này trở về hầu như vẫn còn nguyên rồi biến mất trước khi chàng lính ngự lâm kịp quan sát những biến đổi do tuyệt vọng trên các khuôn mặt tùy theo đặc điểm và tính khí của mỗi người.

Thay cho con gà ranh, một đĩa đậu hạt được bưng ra, một đĩa khổng lồ trong đó có lẫn mấy cái xương cừu, lúc đầu tưởng còn dính thịt, nhưng chỉ làm ra như vậy thôi.

Nhưng bọn học nghề ký lục không bị bịp bởi cái trò tráo trở đó, và bộ dạng thảm hại của họ trở thành những bộ mặt cam chịu.

Bà Coquenard phân phát món ăn đó cho các chàng trai trẻ với mức vừa phải của một bà nội trợ đảm đang.

Rồi đến lượt rượu vang. Thầy kiện Coquenard rót từ một chiếc chai sành bé tí một phần ba ly cho mỗi chàng học việc, rót cho bản thân xấp xỉ như thế, rồi cái chai chuyển sang chỗ Porthos và bà Coquenard.

Bọn con trai pha đầy nước vào chỗ một phần ba rượu vang ấy, rồi khi đã uống xong nửa ly họ lại pha tiếp đầy ly và cứ làm mãi như thế cho đến cuối bữa và nuốt một thứ nước uống màu hồng ngọc chuyển thành màu hoàng ngọc cháy.

Porthos ăn rụt rè chiếc cánh gà và rùng mình khi cảm thấy dưới gậm bàn, đầu gối bà biện lý đang tìm kiếm đầu gối mình.

Chàng cũng uống nửa ly của thứ vang quá chặt chẽ ấy, và nhận ra đó là thứ rượu thổ sản vùng Môngtrơi tởm lợm, nỗi kinh hoàng của thói sành rượu.

Thầy kiện Coquenard nhìn chàng nuốt rượu không pha thở dài.

- Anh ăn cái món đậu đi chứ, người anh họ Porthos của em?

Bà Coquenard nói bằng một giọng như muốn bảo: tin em đi, đừng có mà ăn cái món đó.

- Có mà cho quỷ nó nếm! - Porthos lẩm bẩm rất khẽ.

Rồi chàng cao giọng:

- Cám ơn cô em họ của tôi, tôi no mất rồi.

Im lặng mất một lúc. Porthos không biết làm thế nào. Ông biện lý nhắc đi nhắc lại:

- Ôi bà Coquenard! Tôi xin có lời khen ngợi bà, bữa trưa hôm nay đúng là một bữa tiệc. Chúa ơi! Tôi ăn mới khiếp chứ?

Thầy kiện Coquenard đã ăn canh, đôi chân đen của con gà mái, và mỗi một chiếc xương cừu còn dính một tí thịt.

Porthos tin mình bị người ta chơi trò lừa, và bắt đầu vểnh ria lên, cau mày lại, nhưng đầu gối bà Coquenard tìm kiếm khẽ chạm vào chàng khuyên chàng nên kiên nhẫn.

Sự im lặng và việc ngừng phục vụ ấy vẫn còn là khó hiểu đối với Porthos thì ngược lại, lại có một ý nghĩa khủng khiếp đối với bọn học việc. Thấy ông biện lý đưa mắt kèm theo nụ cười của bà Coquenard, họ từ tốn đứng lên khỏi bàn, còn từ tốn gấp lại khăn ăn rồi chào và đi ra.

Ông biện lý nghiêm trang nói:

- Đi đi, các chàng trai trẻ, đi làm việc đi cho nó dễ tiêu.

Bọn học nghề đi rồi, bà Coquenard đứng lên và lấy ở tủ đồ ăn ra một mẩu pho mát, một ít mứt quả mộc qua và một chiếc bánh ngọt bà tự làm bằng hạnh nhân và mật ong.

Thầy kiện Coquenard cau mày vì nhìn thấy quá nhiều món.

Porthos bậm môi bởi chàng không thấy có gì để ăn trưa nữa.

Chàng nhìn xem đĩa hạt đậu có còn đó không nhưng nó cũng đã biến mất.

- Dứt khoát là tiệc rồi - thầy kiện Coquenard vừa kêu lên vừa cựa quậy trên chiếc ghế của mình - yến tiệc thực sự epulae epularum (1), Luculútx ăn ở nhà Luculútx mất rồi(2).

Porthos nhìn cái chai để cạnh mình và chàng hy vọng với rượu vang, với bánh với phó mát, chàng sẽ lại tiếp tục ăn trưa, nhưng rượu đã cạn, chai rỗng không, cả ông bà Coquenard có vẻ như chả hề biết đến chuyện đó.

Porthos tự nhủ: "Tốt lắm, đấy là mình đã được báo trước đấy".

Chàng đưa lưỡi thử nếm một thìa nhỏ mứt và bị dính răng vào thứ bột quánh của bà Coquenard.

"Giờ đây, lễ hiến tế đã xong - chàng tự nhủ. Ôi, giá như ta không có hy vọng được cùng bà Coquenard nhìn vào cái tủ của ông chồng!"

Thầy kiện Coquenard, sau khi được khoái miệng vì bữa ăn như thế mà ông gọi là thái quá, cảm thấy nhu cầu được ngủ trưa.

Porthos hy vọng việc đó có nhẽ được thực hiện tức khắc và tại chỗ, nhưng cái lão biện lý phải gió kia lại không chịu nghe ai nhất định đòi đưa về phòng mình và chừng nào lão chưa ở trước cái tủ của lão, và để cẩn thận hơn, phải ghếch chân lên thành tủ, thì lão còn kêu.

Bà biện lý dẫn Porthos sang phòng bên cạnh và người ta bắt đầu đề ra những điểm cơ bản cho việc hòa giải.

- Ông có thể đến ăn trưa ba lần một tuần - Bà biện lý nói.

- Cám ơn, tôi không thích lợi dụng. Vả lại tôi cần phải nghĩ đến việc trang bị kia.

- Đúng vậy - bà biện lý vừa nói vừa rên rỉ - cái thứ trang bị khốn kiếp đó.

- Than ôi? Vâng - Porthos nói - Chính là nó đấy.

- Nhưng món trang bị ấy bao gồm những thứ gì, ông Porthos?

- Ồ! Nhiều thứ lắm - Porthos nói - Những ngự lâm quân, bà biết đấy, là những quân nhân ưu tú, và họ cần có rất nhiều vật dụng mà đối với quân cận vệ hoặc quân Thụy Sĩ lại là vô tích sự.

- Thì hãy kể từng thứ ra nào.

- Nhưng như thế có thể tới... Porthos thích nói tới tổng số hơn bảng liệt kê từng món.

Bà biện lý run lên chờ đợi và hỏi:

- Tới bao nhiêu? Em hy vọng nó không vượt quá... Bà dừng lại không nói nổi nữa.

- Ồ, không - Porthos nói - không vượt quá hai nghìn năm trăm quan đâu. Tôi tin nếu tiết kiệm, với hai nghìn quan cũng ổn.

- Chúa ơi, hai nghìn quan! - Bà hét lên - nhưng đó là cả một gia sản.

Porthos nhăn mặt đầy ý nghĩa khiến bà Coquenard hiểu ngay:

- Em yêu cầu chi tiết cơ mà - bởi vì em có rất nhiều bà con và những người quen biết trong thương trường, em hầu như tin chắc trăm phần trăm sẽ mua được những thứ ông anh tự mua với giá thấp hơn.

- À, à, - Porthos nói - thì ra cô em muốn nói như vậy.

- Vâng, ông anh Porthos thân yêu! Như thế là trước tiên anh cần một con ngựa.

- Phải rồi, một con ngựa.

- Được thôi! Đúng là em đã nghĩ đến việc ấy rồi.

- A! - Porthos nói, mặt mày rạng rỡ hẳn lên - thế là xong cái khoản ngựa đã. Tiếp đến cần phải có yên cương đầy đủ gồm những thứ mà chỉ lính ngự lâm mới có thể mua, hơn nữa, nó cũng không vượt quá ba trăm đâu.

- Ba trăm quan. Thôi được, cứ cho là ba trăm đi - Bà biện lý vừa nói vừa thở dài.

Porthos mỉm cười, chàng nhớ mình đã có bộ yên từ ông Buckingham đem tới, thế là chàng đã ngấm ngầm đút túi được ba trăm quan.

- Rồi - Chàng tiếp tục - còn phải ngựa cho người hầu của tôi và chiếc vali cho tôi nữa. Còn về vũ khí không cần bà phải lo, tôi đã có rồi.

- Một con ngựa cho người hầu của anh ư? - Bà biện lý ngập ngừng nhắc lại - nhưng như thế là đại lãnh chúa mất rồi, bạn tôi ạ!

- Ề, thưa bà! - Porthos kiêu hãnh nói - Võ tình, tôi thành kẻ lạc loài ư?

- Không, em chỉ định nói với ông anh là một con la con xinh xắn đôi khi trông lại hay hơn một con ngựa thôi mà, và em thấy hình như kiếm một con la xinh xắn cho Mútxtông...

- Cho là con la xinh xắn đi! - Porthos nói - Cô em có lý đấy. Tôi cũng đã thấy những bậc đại lãnh chúa Tây Ban Nha mà cả đoàn tùy tòng đều cưỡi la con cả. Nhưng mà này, bà Coquenard ạ, bà phải hiểu một con la con với đầy đủ trang sức và nhạc cổ đấy nhé.

- Ông yên tâm - Bà biện lý nói.

- Còn chiếc vali - Porthos nhắc lại.

- Ồ, cái đó thì ông anh khỏi phải lo - Bà Coquenard reo lên - chồng em có đến dăm sáu chiếc. Ông cứ việc chọn chiếc nào tốt nhất. Có một chiếc ông ta rất thích mang đi du lịch, rất to, tha hồ chứa.

Porthos thật thà hỏi:

- Nó rỗng à, cái vali ấy?

Bà Coquenard cũng thật thà đáp:

- Chắc chắn là rỗng rồi.

- Ồ, nhưng mà chiếc vali mà tôi cần là chiếc vali đầy ắp cơ, bà em thân yêu ạ.

Bà Coquenard lại thở dài. Môlie còn chưa viết xong vở: "Kẻ keo bẩn" thế mà bà Coquenard đã dẫm lên chân Hácpagông rồi.

Cuối cùng phần còn lại của đồ trang bị đều được kế tiếp nhau bàn cãi theo kiểu đó và kết quả của cuộc hội đàm là bà cho chàng tám trăm quan bằng tiền, và cấp một con ngựa và một chú la non có vinh dự đem lại vinh quang cho Porthos và Mousqueton.

Các điều kiện đã ấn định xong, Porthos cáo biệt bà Coquenard.

- Bà ta muốn giữ chàng lại bằng đôi mắt hiền dịu đưa tình, nhưng Porthos mượn cớ những đòi hỏi của việc quân, bà biện lý nên nhường bước cho nhà vua.

Chàng ngự lâm quân trở về nhà với cái đói phát điên, phát cuồng.

Chương 33

Cô hầu gái và nữ chủ nhân

Trong khi đó, mặc dầu những tiếng kêu thét của lương tâm và những lời khuyên chín chắn của Athos, D Artagnan mỗi lúc càng trở nên si mê Milady hơn. Cho nên chả bỏ lỡ ngày nào không đến ve vãn. Chàng Gascogne ưa mạo hiểm tin chắc sớm muộn gì nàng cũng không thể không đền đáp lại.

Một buổi tối chàng đến, mặt vênh lên, phơi phới như một người đang đợi một cơn mưa vàng, thì gặp cô hầu gái ở dưôi cửa xe, nhưng lần này nàng Ketty xinh đẹp không chịu chỉ chạm vào người chàng khi đi qua mà còn nhẹ nhàng nắm hẳn lấy tay chàng.

"Tốt! - D Artagnan tự nhủ - cô gái này chắc được nữ chủ nhân giao việc nhắn tin gì đó cho ta đây, chắc sắp ấn định một cuộc hẹn nào đó cho ta nên mới không dám nói to chứ gì".

Và chàng nhìn cô bé xinh đẹp với vẻ đắc thắng tột bậc.

Cô hầu gái ấp úng:

- Thưa ông hiệp sĩ, em muốn nói với ông đôi lời.

- Nói đi, em gái, nói đi, ta nghe đây.

- Ở đây không được, điều em muốn nói với ông, dài dòng lắm và nhất là bí mật lắm.

- Ồ, thế thì phải làm thế nào đây?

- Nếu như ông hiệp sĩ đi theo em được - Ketty dụt dè nói.

- Em muốn đi đâu cũng được, em gái xinh đẹp của ta ạ.

- Thế thì, theo em.

Và Ketty không rời bàn tay D Artagnan lôi chàng đi qua một cầu thang nhỏ tối, và ngoắt ngoéo, và sau khi leo lên mười lăm bậc, mở cửa ra và nói:

- Vào đây, ông hiệp sĩ, ở đây chỉ có mỗi mình chúng ta, và ta có thể chuyện trò.

- Nhưng đây là cái phòng nào, cô em xinh đẹp? - D Artagnan hỏi.

Phòng của em, ông hiệp sĩ ạ. Nó ăn thông với phòng bà chủ bằng chiếc cửa này. Nhưng ông yên tâm, bà ấy sẽ không thể nghe được những gì chúng ta nói đâu. Bao giờ cũng đến nửa đêm bà ấy mới đi ngủ.

D Artagnan đưa mắt nhìn xung quanh mình. Căn phòng nhỏ này thật duyên dáng về mặt thẩm mỹ và sạch sẽ, nhưng mặc dầu vậy mắt chàng vẫn gắn vào chiếc cửa mà Ketty bảo dẫn sang phòng Milady.

Ketty đã đoán được điều gì đang diễn ra trong tâm trí chàng trai và buông một tiếng thở dài:

- Ông hiệp sĩ, chắc là ông yêu bà chủ em lắm nhỉ?

- Ồ, còn hơn cả những gì ta có thể nói ra. Ketty ạ, ta yêu phát điên!

Ketty lại buông thêm một tiếng thở dài:

- Than ôi! Thưa ông, thật đáng tiếc!

- Em thấy rất đáng tiếc là cái quái gì vậy? - D Artagnan hỏi.

- Là vì, thưa ông - Ketty láy lại - bà chủ em chẳng hề yêu ông chút nào.

- Hả? - D Artagnan nói - em được bảo nói với ta như thế hay sao?

- Ồ không đâu, thưa ông! Nhưng là vì em quan tâm đến ông nên quyết định nói ra điều đó với ông.

- Cám ơn, em Ketty tốt bụng, nhưng chỉ là ý đồ thôi, bởi việc em tâm sự như vậy là không hay đâu.

- Có nghĩa là ông chẳng tin vào điều em vừa nói chút nào, phải thế không?

- Người ta luôn khó tin vào những điều như vậy, cô em xinh đẹp ạ, ngay cả vì tự ái.

- Tức là ông không tin em?

- Thú thực chỉ đến khi em chịu đưa ra cho tôi bằng chứng nào đấy.

- Ông nói sao về cái bằng chứng này?

Và Ketty rút từ ngực mình ra một bì thư.

- Cho tôi ư? - D Artagnan vừa nói vừa giật mạnh bức thư.

- Không, cho người khác.

- Cho người khác ư?

- Vâng.

- Tên hắn! Tên hắn! - D Artagnan kêu lên.

- Ông nhìn địa chỉ ấy.

"Bá tước De Wardes".

Kỷ niệm về cảnh tượng ở Saint-Germain hiện lên ngay tức thì trong óc chàng Gascogne tự phụ. Thoắt một cái chàng xé phăng bì thư, mặc cho Ketty kêu váng lên khi thấy chàng định xé hay đúng hơn chàng đang xé. Cô nói:

- Ôi chúa ơi! Ông hiệp sĩ, ông làm gì vậy?

- Tôi ư, làm gì đâu.

Nói rồi chàng đọc thư:

"Ông đã không trả lời bức thư đầu tiên của tôi. Ông vẫn còn đau ư, hay là ông có nhẽ quên ông đã nhìn tôi như thế nào trong buổi khiêu vũ ở nhà phu nhân De Ghidơ. Đây là cơ hội đấy Bá tước! Đừng để tuột mất".

D Artagnan tái người đi. Lòng tự ái của chàng đã bị tổn thương. Chàng tưởng như tình yêu của mình cũng bị tổn thương.

- Ông D Artagnan thân mến tội nghiệp! - Ketty nói bằng một giọng đầy cảm thông và lại nắm lấy tay chàng trai trẻ.

- Em thương tôi ư, em bé tốt bụng! - D Artagnan nói.

- Ồ, vâng, và bằng tất cả trái tim em! Bởi em biết tình yêu là thế nào.

- Em biết thế nào là tình yêu ư? - D Artagnan vừa nói vừa nhìn cô, lần đầu tiên chăm chú như thế.

- Ôi thật đấy!

- Thế thì, đáng lẽ thương xót tôi, tốt hơn em hãy giúp tôi trả thù bà chủ của em.

- Ông định trả thù kiểu nào đây?

- Tôi muốn chiếm được bà ta, nẫng tay trên địch thủ của ông.

- Em sẽ không bao giờ giúp ông việc ấy, ông hiệp sĩ ạ! - Ketty trả lời thẳng thừng.

- Tại sao lại thế? - D Artagnan hỏi.

- Vì hai lẽ.

- Những lẽ gì?

- Thứ nhất, chính vì không bao giờ bà chủ em yêu ông.

- Sao em biết?

- Ông đã làm tổn thương trái tim bà ấy.

- Ta ư? Ta có thể làm tổn thương ở chuyện gì, ta, từ khi quen biết nàng, đã chịu sống dưới chân nàng như một nô lệ! Em nói đi, ta van em đấy.

- Em sẽ không bao giờ nói ra với ai ngoại trừ người... đọc thấu tâm can em.

D Artagnan nhìn cô lần thứ hai. Người thiếu nữ đẹp và tươi tắn đến mức biết bao bà Quận chúa có nhẽ muốn đem cả danh phận của mình ra để mua lấy sắc đẹp đó.

- Ketty này - chàng nói - anh sẽ đọc thấu tận đáy lòng em khi nào em muốn. Có khó gì đâu, em bé bỏng thân mến?

Rồi chàng hôn cô một cái, và cô bé tội nghiệp đỏ bừng mặt lên như màu anh đào chín.

- Ồ không! - Ketty kêu lên - Ông không yêu em? Bà chủ em mới là người ông yêu, ông chẳng vừa bảo em như thế hay sao?

- Và điều đô ngăn em không cho tôi biết lẽ thứ hai ư?

- Lẽ thứ hai, thưa ông hiệp sĩ - Ketty lúc này đã trở nên mạnh dạn hơn trước hết vì nụ hôn, tiếp đó vì đôi mắt đưa đẩy của chàng trai trẻ - là trong tình yêu ai nấy đều vì mình.

Chỉ đến lúc đó D Artagnan mới nhớ lại cái nhìn rũ héo của Ketty, những lần gặp nhau ở tiền sảnh, trên cầu thang, trong hành lang, những cái cọ tay mỗi lần gặp chàng và những tiếng thở dài kìm nén của nàng. Nhưng vì còn đắm đuối bởi cái ham muốn làm đẹp lòng người đàn bà quyền quý, chàng đã xem thường cô hầu gái. Kẻ đi săn chim ưng, để ý gì đến chim chích.

Nhưng lần này, chàng Gascogne chỉ thoáng nhìn đã thấy có thể rút ra những lợi ích cho mình từ mối tình mà Ketty vừa thổ lộ rất ngây thơ hoặc rất táo tợn. Đó là chặn đứng những bức thư gửi cho Bá tước de Oátđơ, nắm được mọi tin tức xảy ra, và ra vào phòng của Ketty liền kề phòng bà chủ nàng bất cứ lúc nào.

Gã tráo trở này ngay trong ý nghĩ đã hy sinh cô gái đáng thương để đoạt cho kỳ được Milady dẫu nàng có muốn hay không.

- Được rồi! - D Artagnan nói với cô gái - Ketty thân mến của anh, em có muốn anh cho em một bằng chứng của tình yêu mà em còn ngờ vực không?

- Tình yêu nào? - Cô gái hỏi.

- Tình yêu mà anh sẵn sàng cảm nhận đối với em ấy.

- Thế bằng chứng là cái gì?

- Em có muốn tối nay anh ở bên em suốt cả thời gian mà anh vẫn thường cùng với bà chủ của em không?

- Ồ, vâng - Ketty vừa nói vừa vỗ tay - em xin sẵn sàng?

- Thế thì, em bé của anh ạ - D Artagnan vừa nói vừa ngồi vào chiếc ghế bành - Em hãy lại đây để anh nói với em rằng em là cô hầu gái xinh đẹp nhất anh chưa hề thấy bao giờ!

Và chàng nói đủ thứ và khéo đến mức cô bé tội nghiệp không mong gì hơn là có thể tin chàng và đã tin chàng... Tuy nhiên, D Artagnan cũng phải hết sức ngạc nhiên là cô gái Ketty xinh đẹp tự bảo vệ mình khá quyết liệt.

Thời gian trôi nhanh khi diễn ra thành chuyện tấn công và phòng thủ.

Nửa đêm đã điểm, và đồng thời chiếc chuông nhỏ trong phòng Milady cũng rung lên.

- Chết mất thôi! - Ketty kêu lên - Bà chủ gọi em đấy! Anh đi đi! Đi mau lên!

D Artagnan đứng lên, cầm mũ như có ý làm theo, rồi mở nhanh cửa chiếc tủ lớn thay vì mở cửa cầu thang, lẩn vào bên trong giữa đống váy áo của Milady.

- Anh làm cái gì vậy? - Ketty kêu lên.

D Artagnan đã cầm trước chìa khóa, tự nhốt mình vào trong tủ và không trả lời.

- Ơ hay? - Milady kêu lên. - Đã ngủ rồi hay sao mà ta rung chuông không thấy đến thế?

Và D Artagnan nghe thấy tiếng mở cửa thông sầm sầm.

- Em đây, thưa phu nhân, em đây mà! - Ketty vừa kêu lên vừa lao sang gặp bà chủ của mình.

Cả hai cùng trở về phòng ngủ và vì cửa thông vẫn mở, D Artagnan có thể nghe thêm tiếng Milady mắng cô gái hầu, rồi cuối cùng cũng dịu lại và câu chuyện chuyển sang chàng trong khi Ketty sửa soạn chăn gối cho chủ mình, Milady nói:

- Lạ thật? Tối nay ta không thấy anh chàng Gascogne của chúng ta?

- Sao ạ, thưa phu nhân - Ketty nói - Ông ta không đến ư! Chả nhẽ ông ta đã thay đổi trước khi được nếm mùi hạnh phúc?

- Ồ không? Chắc là bị ông De Treville hoặc ông des Essarts ngăn trở. Ta biết rõ mà, Ketty. Và ta đã nắm được gã đó.

- Bà chủ sẽ làm gì với ông ta?

- Ta sẽ làm gì ư?... Yên tâm, Ketty ạ, có một chuyện giữa người ấy và ta mà người ấy không biết... Hắn suýt làm ta mất tín nhiệm với Đức Giáo chủ... Ồ, ta sẽ trả thù!

- Em tưởng bà chủ yêu ông ta?

- Ta yêu hắn ư? Ta ghét hắn thì có. Một thằng ngố, hắn đã nắm trong tay mạng sống của Huân tước De Winter mà lại không giết làm ta mất toi ba trăm nghìn quan lợi tức thường niên!

- Đúng vậy - Ketty nói - Con trai bà chủ là người thừa kế duy nhất của chú ruột mình, bà chủ lẽ ra đã được hưởng tài sản đó cho đến khi cậu trưởng thành.

D Artagnan rùng mình đến tận xương tủy khi nghe cái sinh linh ngọt ngào đó quở trách mình bằng cái giọng the thé mà người đàn bà này thường phải rất khó khăn mới giấu nổi trong khi chuyện trò, là đã không giết một người tràn đầy tình thân thiết với mụ.

- Cho nên - Milady tiếp tục - Ta đã trả thù chính hắn rồi, nếu như không hiểu tại sao Giáo chủ lại dặn ta nương tay với hắn.

- Ồ, vâng, nhưng phu nhân đã không hề nương tay với người đàn bà mảnh mai mà ông ta yêu.

- Ồ, cái con mụ hàng xén ở phố Phu đào huyệt! Chẳng phải hắn đã quên nhắc mụ ta từng tồn tại sao? Một sự trả thù tuyệt đẹp, ta thề đấy?

Một lớp mồ hôi lạnh toát trên trán D Artagnan. Mụ đàn bà đúng là một con quỷ rồi.

Chàng lại tiếp tục lắng nghe. Nhưng không may việc sửa soạn giường ngủ đã xong.

- Tốt lắm - Milady nói - em về phòng mình đi và ngày mai cố gắng để có được thư trả lời bức thư ta đã đưa cho em.

- Cho ông De Wardes phải không ạ?

- Phải rồi, cho ông De Wardes.

- Đó là một con người - Ketty nói - em thấy có vẻ hoàn toàn trái ngược với cái ông D Artagnan tội nghiệp kia.

- Thôi ra đi, quý nương ạ - Milady - ta không thích những câu bình luận.

D Artagnan nghe thấy cửa đóng lại rồi tiếng hai chốt cửa, Milady cài lại để được một mình ở bên trong.

Về phần mình, Ketty hết sức nhẹ nhàng khóa một vòng chiếc cửa lại. Lúc đó, D Artagnan mới đẩy cửa tủ ra.

- Ôi Chúa ơi! - Ketty nói rất khẽ - Có chuyện gì vậy? Sao anh tái người đi thế?

- Một con mụ tởm lợm? - D Artagnan lẩm bẩm.

- Im nào! Im nào! Anh ra đi! - Ketty nói - Chỉ có mỗi một vách ngăn giữa phòng em và phòng bà Milady. Bên này nói gì là bên kia nghe thấy hết.

- Chính vì thế mà anh sẽ không ra đâu. D Artagnan nói.

- Sao cơ? - Ketty vừa nói vừa đỏ mặt lên.

- Hoặc ít nhất anh sẽ ra... muộn hơn.

Và chàng kéo Ketty lại với mình. Không còn cách nào để cưỡng lại. Cưỡng lại sẽ gây ra tiếng động! Thế là Ketty đành chịu vậy.

Đó là một hành động trả thù Milady. D Artagnan thấy người ta có lý khi nói rằng trả thù là niềm hoan lạc của các thiên thần. Vì vậy chỉ cần có một chút tấm lòng, D Artagnan sẽ hài lòng về cuộc chinh phục mới này, nhưng D Artagnan chỉ có tham vọng và sự kiêu ngạo.

- Tuy nhiên cũng phải khen chàng đã biết dùng ảnh hưởng của mình ể làm cái việc đầu tiên là cố sao biết được bà Bonacieux bây giờ ra sao. Nhưng cô gái tội nghiệp làm dấu thề rằng cô hoàn toàn không biết gì cả, bà chủ cô bao giờ cũng chỉ cho biết một nửa bí mật của bà thôi, nhưng cô đảm bảo bà Bonacieux không chết.

Còn lý do làm Milady mất tín nhiệm với Giáo chủ, Ketty cũng không biết gì hơn. Nhưng lần này, D Artagnan còn tiến xa hơn cô. Chàng đã bắt gặp Milady trên một con tàu bị hãm lúc chàng rời nước Anh và chàng ngờ rằng đó chính là vấn đề những nút kim cương.

Nhưng điều rõ ràng hơn cả trong mọi chuyện chính là mối căm hờn đích thực, căm hờn sâu xa, mối căm hờn không thể tránh khỏi của Milady đối với chàng là ở chỗ chàng đã không giết em chồng mụ.

Hôm sau, D Artagnan lại quay lại nhà Milady. Sắc mặt nàng trông rất dữ trợn, D Artagnan ngờ rằng không thấy thư trả lời của ông De Wardes nên nàng điên tiết, Ketty đi vào, nhưng Milady tiếp cô rất cứng rắn. Cô liếc nhìn D Artagnan như muốn nói: "Anh đã thấy em đau khổ vì anh thế nào chưa!"

Tuy nhiên, cuối buổi chuyện tối, con sư tử cái mỹ miều đã dịu bớt, nó vừa mỉm cười vừa nghe những mẩu chuyện ngọt ngào của D Artagnan, lại còn đưa cả tay cho chàng hôn.

D Artagnan ra về, không biết nghĩ thế nào nữa. Nhưng vì vẫn là một chàng trai, nên không dễ bị rối trí, vẫn vừa tán tỉnh Milady, vừa vạch trong đầu một kế hoạch riêng.

Chàng gặp Ketty ở cửa, và vẫn như đêm trước, chàng leo lên buồng cô. Ketty bị mắng rất ghê vì bị gán cho tội lơ đãng. Milady nào có hiểu gì về sự im lặng của Bá tước De Wardes đâu, nên đã ra lệnh cho cô chín giờ sáng đến phòng mình để đem bức thư thứ ba đi. D Artagnan bắt Ketty hứa sáng hôm sau phải mang đến cho chàng bức thư ấy. Cô gái tội nghiệp hứa tất cả những gì người tình của mình muốn. Cô đang yêu phát điên.

Mọi sự lại lặp lại như đêm trước. D Artagnan lại chui vào trong tủ. Milady gọi, sửa soạn đi nằm, đuổi Ketty ra vùng đóng cửa lại. Cũng như đêm trước, D Artagnan chỉ trở về nhà vào lúc năm giờ sáng.

Mười một giờ, chàng thấy Ketty đến. Cô cầm trong tay một bức thư mới của Milady. Lần này cô bé tội nghiệp chẳng buồn tranh cãi gì với D Artagnan, cô để mặc chàng làm gì thì làm. Cả tâm hồn lẫn thể xác cô đã thuộc về chàng lính đẹp trai của mình.

D Artagnan bóc thư và đọc:

"Thế là lần thử ba tôi viết cho ông để nói rằng tôi yêu ông. Hãy coi chừng đừng để tôi viết bức thư thứ tư cho ông để nói rằng tôi ghét ông.

Nêú như ông hối hận về cung cách ông đã xử sự với tôi, cô gái chuyển bức thư này cho ông sẽ nói cho ông biết một người đàn ông phong tình phải làm thế nào để được tha thứ".

Mặt D Artagnan lúc đỏ lên, lúc tái lại khi đọc thư.

- Ôi, anh vẫn yêu bà ta! - Ketty, không lúc nào rời mắt khỏi khuôn mặt chàng trai, nói.

- Không, Ketty, em nhầm rồi, anh không còn yêu mụ nữa. Nhưng anh muốn trả thù sự khinh thị của mụ đối với anh.

- Vâng, em biết anh muốn trả thù. Anh đã nói với em điều đó rồi.

- Thôi nào, Ketty! Em thừa biết anh chỉ yêu mỗi em thôi.

- Làm sao để biết được điều đó?

- Bằng việc anh khinh bỉ mụ ta.

Ketty thở dài.

D Artagnan cầm bút và viết:

"Thưa bà, cho đến tận lúc này tôi vẫn ngờ hai bức thư trước của bà chưa chắc đã phải gửi cho tôi. Vì chưa dám tin mình xứng với vinh dự ấy. Hơn nữa tôi vẫn còn đau lắm nên dẫu sao tôi vẫn ngần ngại trả lời bà.

Nhưng hôm nay, tôi hẳn phải tin bà đã quá tốt vì không những thư bà mà cả người thị nữ của bà đều khẳng định rằng tôi có diễm phúc được bà yêu.

Cô gái không cần phải bảo tôi một người đàn ông phong tình phải làm thể nào để có thể được tha thứ. Tối nay, lúc mười một giờ, tự tôi sẽ đến xin được tha thứ. Giờ đây, trong con mắt tôi, chậm một ngày thôi cũng là làm cho bà bị xúc phạm.

Kẻ được bà biến thành người sung sướng nhất trong những người đàn ông.

Bá tước De Wardes".

Bức thư đó trước hết là một bức thư giả mạo, sau đó là một sự thô bỉ, mà về mặt phong hóa hiện thời của chúng ta, là một cái gì đấy giống như một sự đê tiện, nhưng ở thời đó người ta dễ dãi hơn thời bây giờ. Hơn nữa D Artagnan biết rõ Milady qua những lời tự thú của nàng, đã phạm tội phản bội cả những thủ lĩnh quan trọng nhất, và chàng thật ra đâu có coi trọng nàng mấy. Và trong khi đó, mặc dầu chàng không mấy coi trọng nàng, chàng vẫn cảm thấy một sự đam mê đến mất trí người đàn bà đó thiêu đốt chàng. Một sự đam mê cuồng say, bất chấp.

Nhưng đam mê hay khát, nói sao cũng được.

Ý đồ của D Artagnan thật đơn giản: qua phòng của Ketty chàng sẽ sang phòng Milady. Chàng sẽ lợi dụng khoảnh khắc đầu tiên vừa sửng sốt vừa xấu hổ, vừa kinh hoàng để chinh phục nàng. Có thể chàng sẽ thất bại, nhưng cũng phải cầu may chứ. Tám ngày nữa là chiến dịch đã mở và chàng phải đi ra, D Artagnan không còn đủ thì giờ để theo đuổi một mối tình hoàn hảo. Chàng trao bức thư đã niêm phong cho Ketty và bảo:

- Em cầm lấy và đưa bức thư này cho Milady. Đây là thư trả lời của ông De Wardes.

Nàng Ketty đáng thương không biết trong thư viết gì, tái nhợt người đi như một người chết.

- Nghe đã nào, em bé thân yêu của anh - D Artagnan bảo cô - Em cũng hiểu mọi việc phải kết thúc cách này hay cách khác. Milady có thể phát hiện ra em đã chuyển bức thư đầu tiên cho người hầu của anh thay vì phải chuyển cho người hầu của Bá tước và chính anh đã bóc mấy bức thư sau chứ không phải ông De Wardes bóc, lúc đó Milady sẽ đuổi em, và em đã biết mụ ta rồi đấy đó không phải là một người đàn bà biết giới hạn sự trả thù đâu!

- Than ôi! - Ketty nói - Vì ai mà em ra nông nỗi này?

- Vì anh, anh biết quá đi chứ, em vô cùng xinh đẹp của anh ạ thế cho nên anh rất biết ơn em, anh thề với em đấy.

- Nhưng rốt cuộc, trong thư viết gì?

- Milady sẽ nói với em.

- A, anh không yêu em! - Ketty kêu lên - Sao tôi khốn khổ thế này?

Với những câu than thân trách phận như thế bao giờ cũng có một câu trả lời khiến đàn bà luôn nhầm lẫn. D Artagnan đã trả lời theo cách khiến Ketty rơi vào tình trạng sai lầm to lớn nhất.

- Tuy nhiên cô đã khóc rất nhiều trước khi quyết định trao bức thư đó cho bà chủ của mình. Nhưng cuối cùng, cô cũng quyết định. Đó là tất cả những gì mà D Artagnan mong muốn.

Hơn nữa, chàng cũng hứa với cô, chàng sẽ lên với cô ngay, bằng cách ra khỏi chỗ Milady sớm.

Lời hứa đó rốt cuộc cũng làm cho cô Ketty tội nghiệp yên lòng.

Chương 34

Việc trang bị cho Aramis và Porthos đã được xử lý ở đâu.

Từ khi bốn người bạn mỗi người một ngả săn tìm đồ trang bị cho mình, thì không còn một cuộc họp mặt nào được ấn định giữa họ nữa. Người ta ăn có người này lại không có người khác, gặp đâu ăn đấy hoặc đúng hơn đâu có thể ăn là ăn. Bản thân việc quân cũng chiếm một phần thời gian quý báu đang trôi rất nhanh. Họ đành thỏa thuận tuần một lần vào lúc một giờ tại nhà Athos, bởi lẽ chàng đã thề không ra khỏi cửa.

Ngày họp mặt lại đúng ngày Ketty đến nhà tìm D Artagnan. Ketty vừa đi khỏi, D Artagnan đến phố Fréjus ngay.

Chàng thấy Athos và Aramis đang triết lý. Aramis đang giở chứng muốn trở lại với chiếc áo thầy tu. Athos, theo thói quen của chàng, không can ngăn, cũng không khuyến khích. Athos chủ trương để mặc mỗi người tự quyết định đời mình. Chàng không bao giờ khuyên ai điều gì nếu không yêu cầu chàng. Thậm chí phải van nài đến hai lần chàng mới nói.

- Nói chung, người ta chỉ yêu cầu khuyên bảo người ta - chàng nói - để không theo hoặc nếu có theo thì cũng chỉ để có ai đó để có thể trách móc lại đi khuyên họ như thế.

Porthos đến sau D Artagnan một lúc. Thế là bốn người bạn lại quây quần với nhau.

Bốn bộ mặt biểu lộ bốn trạng thái tình cảm khác nhau: Porthos thì bình tâm, D Artagnan hy vọng, Aramis lo lắng, và Athos vô tư lự.

Chuyện trò được một lúc và Porthos đang hé ra có một nhân vật quyền thế rất cao muốn gánh vác giúp chàng khỏi lúng túng thì Mousqueton vào.

Hắn đến yêu cầu Porthos về nhà ngay, và bằng một giọng vô cùng thiểu não, nói thêm rằng sự có mặt của chàng rất khẩn thiết.

- Là chuyện đồ trang bị của ta ư? - Porthos hỏi.

- Đúng và không. - Mousqueton trả lời.

- Nhưng rốt cuộc, mày không thể nói...?

- Về đã thưa ông.

Porthos đứng lên, chào các bạn rồi về theo Mousqueton.

Một lát sau, Bazin hiện ra ở ngưỡng cửa.

- Muốn gì ở ta đây, anh bạn? - Aramis nói với thứ ngôn ngữ dịu dàng mà người ta nhận thấy ở chàng mỗi khi tư tưởng chàng lại dẫn chàng về với nhà thờ.

Bazin trả lời:

- Có một người đang đợi ông chủ nhà.

- Một người? Người nào?

- Một người ăn mày.

- Thì bố thí cho người ta và bảo người ta hãy cầu nguyện cho một kẻ tội lỗi đáng thương.

- Người hành khất đó muốn nói chuyện và cho rằng ông sẽ rất hài lòng khi gặp ông ta.

- Hắn không nói điều gì đặc biệt cho ta ư?

- Có chứ. Hắn nói: Nếu như ông Aramis ngại ngùng về gặp tôi, cứ báo tôi từ Tours đến.

- Từ Tours ư? - Aramis reo lên - Thưa các vị, ngàn lần xin lỗi, nhưng chắc chắn con người đó mang đến cho tôi những tin tức tôi đang mong đợi.

Rồi lập tức đứng lên và vội vã đi ngay.

Còn lại mỗi Athos và D Artagnan.

- Tôi tin mấy gã ấy đã tìm được chỗ giải quyết. Cậu nghĩ thế nào D Artagnan? - Athos nói.

- Tôi biết Porthos đang thuận lợi, - D Artagnan nói - còn như Aramis, nói cho đúng, tôi chưa bao giờ thật sự phải quá lo lắng cho anh ấy, nhưng còn anh, anh Athos thân mến, anh đã hào hiệp phân phát hết số tiền vàng của cái người Anh lẽ ra đã trở thành của cải hợp pháp của anh, anh định làm gì đây?

- Tôi rất hài lòng đã giết chết tên vô lại đó, chú em ạ, coi như giết một tên Anh là được ăn bánh thánh, nhưng nếu tôi lại đút những đồng tiền vàng của nó vào túi, thì nó sẽ đè nặng và cấn rứt lương tâm tôi.

- Thôi đi nào, anh Athos thân mến! Anh đúng là có những ý nghĩ không thể chấp nhận được.

- Sang chuyện khác thôi! Nói sang chuyện khác! Cậu có biết ông Treville hôm qua chiếu cố đến thăm mình đã bảo mình rằng có phải cậu đang lui tới mấy tên người Anh khả nghi được Giáo chủ che chở không?

- Nghĩa là tôi đang lui tới một phụ nữ người Anh, người mà tôi đã nói với anh ấy.

- Ờ, phải, người đàn bà tóc hung vàng mà tôi đã khuyên cậu, mặc nhiên cậu đã không nghe theo.

- Tôi đã giải thích với anh.

- Phải, cứ theo như cậu đã nói với tôi, tôi tin là cậu trông mong ở đó có được đồ trang bị cho cậu.

- Không đúng chút nào? Tôi đã có thể chắc chắn người đàn bà đó có liên quan gì đó đến việc bắt cóc bà Bonacieux.

- Phải, tôi hiểu, để tìm lại được một người đàn bà, cậu ve vãn một người đàn bà khác. Đó là con đường dài nhất nhưng lại thú vị nhất.

D Artagnan đã định kể hết cho Athos, nhưng có một điểm ngăn chàng lại. Athos là một nhà quý tộc rất nghiêm túc trong vấn đề danh dự, mà trong toàn bộ cái kế hoạch nhỏ mà gã si tình đã vạch ra đối với Milady, có một số điều chàng tin chắc sẽ không được sự đồng cảm của con người thuần khiết đó. Chàng thấy giữ im lặng thì hơn và vì Athos là người ít tò mò nhất trên đời, tâm sự của D Artagnan chỉ dừng lại ở đấy.

Về phần Aramis, nghe tin người muốn nói chuyện với mình từ thành Tours đến, chàng vội vàng đi theo, hay đúng hơn là vượt trước cả Bazin, vèo một cái đã từ phố Frêru về đến phố Vôgira.

Vừa bước vào nhà, quả nhiên chàng đã thấy ngay một người tầm vóc nhỏ, đôi mắt thông minh, nhưng ăn mặc rách rưới.

- Chính ông muốn hỏi gì tôi ư? - Chàng ngự lâm quân nói.

- Nghĩa là tôi muốn hỏi ông Aramis, có phải tên ông là như vậy không?

- Chính tôi đây. Ông có điều gì muốn nói lại với tôi ư?

- Vâng, nếu ông cho tôi xem chiếc khăn tay thêu.

- Khăn đây - Aramis vừa nói vừa rút từ ngực mình ra một chiếc chìa khóa và mở một cái hộp nhỏ bằng gỗ mun khảm xà cừ - Nó đây, ông cầm lấy.

- Tốt lắm - Người ăn mày nói - Bảo người hầu của ông ra ngoài đi.

Quả vậy, Bazin tò mò muốn biết người ăn mày muốn ở chủ điều gì đã bám sát chủ và hầu như cùng về đến nhà một lúc, nhưng sự nhanh nhảu này cũng chẳng giúp được gì cho gã. Theo yêu cầu của người ăn mày, chủ gã đã ra hiệu cho gã rút lui và gã buộc phải vâng lời.

Bazin đi rồi, người ăn mày đưa mảt nhìn quanh rất nhanh để chắc chắn không có ai nhìn thấy nghe thấy, rồi phanh chiếc áo khoác rách khép hờ bằng một đai lưng da, và tháo đường khâu phía trên chiếc áo chẽn lấy ra một bức thư. Aramis reo lên vui sướng khi nhìn thấy con dấu đóng bì thư, hôn lên nét chữ và với vẻ thành kính gần như tôn nghiêm, chàng mở thư ra đọc:

"Bạn ạ, số phận muốn chúng ta phải xa nhau một thời gian nữa, nhưng những ngày đẹp nhất của tuổỉ xuân không mất đi mà không trở lại đâu, chàng hãy làm tròn nghĩa vụ nơi chiến trường. Em sẽ làm nghĩa vụ của em. Chàng hãy cầm lấy những gì người mang thư trao cho chàng, chàng hãy tham gia chiến trận như một nhà quý tộc đẹp trai và cao quý, và hãy nghĩ tới em đang trìu mên hôn lên đôi mắt đen của chàng.

Vĩnh biệt (đúng hơn là tạm biệt).

- Người ăn mày vẫn tháo đường khâu. Hắn rút ra từ bộ áo bẩn thỉu của mình từng đồng, từng đồng một, một trăm năm mươi đồng vàng đôi Tây Ban Nha xếp thành dãy trên bàn rồi hắn mở cửa, chào và đi ra trước khi chàng trai trẻ đang bàng hoàng kịp nói được một lời với hắn.

Aramis liền đọc lại bức thư và nhận thấy còn có phần tái bút.

T.B. Chàng có thể tiếp đón người mang thư vốn là Bá tước và đại gia Tây Ban Nha.

- Mộng vàng đây! - Aramis reo lên - Ôi? Đời đẹp thế! Phải, chúng ta còn trẻ! Phải, chúng ta sẽ còn có những ngày hạnh phúc! Ôi! cho em, cho em tình yêu của ta, máu của ta, cuộc sống của ta. Tất tất. Người tình kiều diễm của ta.

Và chàng hôn bức thư say đắm, không cả nhìn vàng đang lấp lánh trên bàn.

Bazin gãi cánh cánh cửa. Aramis không còn lý do gì để bắt gã đứng ngoài. Chàng cho phép vào. Thấy đống vàng đó, Bazin cứ ngây ra quên cả việc báo D Artagnan đến. Chàng này tò mò muốn biết gã ăn mày kia là thế nào nên đã ra khỏi nhà Athos đến nhà Aramis ngay.

D Artagnan thường không cần giữ ý với Aramis nên thấy Bazin quên không báo, chàng liền xồng xộc đi vào.

- Ôi quỷ ơi! Anh Aramis thân mến - chàng nói - Nếu đây là những quả mận người ta gửi từ Tours đến cho anh, anh cho tôi gửi lời khen ngợi người làm vườn đã thu hái được.

- Cậu nhầm rồi - Aramis vốn luôn luôn kín đáo trả lời - Đó là ông chủ hiệu sách vừa mới gửi tiền nhuận bút bài thơ một vần tôi bắt đầu làm ở đó mà.

- À, ra thế! - D Artagnan nói - Này, cái ông hiệu sách của anh quảng đại thật, anh Aramis thân mến ạ, đó, tôi chỉ có thể nói với anh được như thế thôi.

- Sao, thưa ông! - Bazin kêu lên - một bài thơ mà bán được đắt đến thế ư! Không thể tưởng được! Ồ, thưa ông! Ông muốn làm gì thì làm, ông có thể trở thành ngang tầm với ông De Voatuya hay ông De Băngxêrát. Tôi còn thích thế hơn. Một thi sĩ, cũng gần như ông tu viện trưởng. Ôi, thưa ông Aramis, ông cứ làm béng thi sĩ đi, tôi xin ông đấy.

- Bazin, bạn ta ơi - Aramis nói - ta tin anh đang xen vào chuyện của chúng ta đấy.

Bazin hiểu rằng mình sai, liền cúi đầu đi ra. D Artagnan mỉm cười bảo Aramis:

- Chà, anh bán những sản phẩm của anh theo cân trọng vàng. Anh sướng quá đấy, nhưng hãy cẩn trọng, anh sắp mất bức thư nó tòi ra khỏi chiếc áo choàng của anh và chắc hẳn cũng là bức thư của chủ hiệu sách.

Aramis đỏ bừng mặt lên và nhét sâu bức thư xuống và cài lại khuy áo chẽn của mình.

- D Artagnan thân mến - chàng nói - nếu cậu muốn, chúng ta sẽ đi tìm các bạn của chúng ta, và vì tôi giàu rồi, từ hôm nay, chúng ta lại bắt đầu ăn trưa cùng nhau trong khi đợi các bạn cùng lần lượt giàu có như tôi.

D Artagnan vô cùng khoái trá nói:

- Nói thật nhé! Lâu lắm rồi chúng ta không được chén một bữa ra trò và vì tối nay tôi đang tính làm một cuộc chinh đoạt hơi có phần may rủi, tôi xin thú thực, tôi sẽ không bực mình nếu được bốc đầu lên bằng vài chai Buốcgônhơ lâu năm.

- Thì cứ việc Buốcgônhơ lâu năm, mình cũng không ghét nó nữa đâu - Aramis nói, số vàng sờ sờ kia đã như một bàn tay bốc mất những ý nghĩ giải ngũ của chàng.

Và chàng đút ba bốn đồng tiền vàng đôi vào túi đủ đáp ứng những nhu cầu lúc này, còn lại bỏ vào chiếc hộp nhỏ bằng gỗ mun khảm xà cừ trong đó đã có sẵn chiếc khăn tay dùng làm bùa hộ mệnh cho chàng.

Đôi bạn trước tiên đến nhà Athos đã. Athos trung thành với lời nguyền không ra khỏi nhà, đảm nhiệm việc đặt ăn tại nhà mình. Vì Athos sành sỏi đến từng chi tiết các món ăn, nên Aramis và D Artagnan thấy nhẹ tênh cả người khi trao việc quan trọng đó cho Athos.

Rồi hai người đến nhà Porthos. Khi đi đến góc phố Bến phà thì gặp Mousqueton với bộ mặt thiểu não đang xua một con la và một con ngựa đi trước hắn.

D Artagnan thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc không phải không xen lẫn niềm vui:

- A! Chú ngựa lông vàng của ta! - Chàng reo lên - Aramis, anh hãy nhìn con ngựa xem.

- Ôi một con nghẽo kinh tởm! - Aramis nói.

- Bạn thân mến - D Artagnan nói tiếp - đó là con ngựa tôi cưỡi đến Paris đấy.

- Sao, ông cũng quen con ngựa đó ư? - Mousqueton nói.

- Nó có màu lông độc đáo thật - Aramis nhận xét - chưa bao giờ tôi thấy thứ lông như thế đấy.

- Tôi cũng tin như thế mà - D Artagnan tiếp - cho nên tôi bán nó với giá ba đồng êquy vàng, giá ấy chẳng qua làm giá bộ lông đấy thôi, chứ bộ xương hom của nó có mà mười tám quan cũng chẳng nổi. Nhưng làm sao con ngựa đó lại lọt vào tay anh hở Mousqueton?

- Ôi, - người hầu nói - thôi xin ông đừng nói với tôi về chuyện ấy nữa. Một vố chơi khăm của ông chồng bà Công tước đấy.

- Thế là thế nào, Mousqueton?

- Vâng, chúng tôi được tiếp đón rất tử tế bởi một bà danh giá, một nữ Công tước... Nhưng xin lỗi! Ông chủ tôi đã dặn phải kín đáo. Bà ấy ép chúng tôi phải nhận một kỷ niệm nhỏ, một tuấn mã Tây Ban Nha và một con la vùng Ăngđaludi trông thật sướng mắt. Ông chồng biết chuyện đã tịch thu hai con vật tuyệt đẹp mà người ta gừi cho chúng tôi đó ở ngay giữa đường và thay thế những con vật tởm lợm này!

- Anh đem trả lại à? - D Artagnan nói.

- Đúng vậy! Ông thừa hiểu chúng tôi không thể chấp nhận loại ngựa nghẽo như thế thay cho những con mà người ta đã hứa với chúng tôi.

- Không, mẹ kiếp, cho dù ta cũng muốn trông thấy Porthos trên lưng con ngựa lông vàng của ta. Như thế sẽ làm cho ta có ý nghĩ trông ta như thế nào khi tới Paris. Nhưng chúng ta sẽ không ngăn anh đâu. Mousqueton ạ. Anh cứ làm theo việc chủ anh giao cho đi. Ông ấy có nhà không?

- Có thưa ông - Mousqueton nói - nhưng đang cáu bẳn lắm.

- Và anh ta tiếp tục đi về phía đường bờ sông phố Đại Thánh Augustin, trong khi hai người bạn đến rung chuông cửa nhà Porthos bất hạnh. Porthos đã nhìn thấy họ đi qua sân, nhưng chẳng buồn mở cửa. Hai người cứ rung chuông một cách vô ích.

Trong khi đó, Mousqueton tiếp tục lộ trình, qua cầu Mới, vẫn lùa hai con nghẽo còm đi trước, rồi đến phố Lũ gấu. Đến đó theo lệnh của chủ mình, anh ta buộc cả ngựa và la vào cái búa gõ cửa nhà ông biện lý. Thế rồi, chẳng thèm quan tâm đến số phận tương lai của chúng ra sao, anh ta trở về tìm Porthos báo với chàng, đã hoàn thành nhiệm vụ.

Một lúc sau, hai con vật khốn khổ từ sáng sớm chưa được ăn gì, chồm lên làm cái búa gõ cửa bổ xuống ầm ầm khiến ông biện lý phải ra lệnh cho chú loong toong đi hỏi láng giềng xem con ngựa và con la ấy là của nhà ai.

Bà Coquenard nhận ra món quà của mình, lúc đầu chẳng hiểu sao nó lại bị trả lại. Nhưng chỉ một lát sau khi Porthos đến thăm là bà vỡ lẽ tất cả. Cơn phẫn nộ long sòng sọc trong đôi mắt chàng ngự lâm quân, mặc dầu chàng cố kiềm chế vẫn làm cho bà tình nhân nhậy cảm hoảng sợ. Quả thật, Mousqueton, không hề giấu giếm chủ mình là anh ta đã gặp D Artagnan và Aramis và D Artagnan đã nhận ra con ngựa lông vàng chính là con nghẽo vùng Bearn mà chàng đã cưỡi đến Paris rồi bán nó với giá ba êquy.

Porthos ra về sau khi đã ấn định cuộc hẹn với bà biện lý ở nhà tu kín Saint-Magloa. Ông biện lý thấy Porthos đi, liền mời chàng ăn trưa, nhưng chàng đã từ chối rất chi kẻ cả.

Bà Coquenard đi đến nhà tu kín Saint-Magloa mà người cứ run lên, vì bà đã đoán ra những lời trách cứ đang chờ bà. Nhưng bà cứ mê đi trước cung cách cao ngạo của Porthos.

Tất cả những gì mà một người đàn ông khi lòng tự ái bị tổn thương có thể trút những lời nguyền rủa và trách móc lên đầu một người đàn bà, Porthos đem ra trút hết xuống cái đầu cúi gằm của bà biện lý.

- Than ôi! - Bà nói - Em đã làm sao cho tốt nhất. Một trong những khách hàng của em là lái ngựa. Hắn nợ tiền học nghề và tỏ ra chây ì. Em đã bắt nợ con la và con ngựa ấy. Hắn đã hứa với em là hai con ngựa loại hoàng gia.

- Thế thì, thưa bà! - Porthos nói - Nếu như nó nợ bà năm êquy thôi, thì thằng lái ngựa của bà vẫn là thằng ăn cắp.

- Có ai cấm tìm nơi mua rẻ đâu, ông Porthos - bà biện lý vừa nói vừa tìm cách bào chừa cho mình.

- Không, thưa bà, kẻ nào tìm chỗ mua rẻ phải cho phép người khác tìm những người bạn hào phóng hơn. - Và Porthos quay gót bước một bước định rút lui.

- Ông Porthos! Ông Porthos! - Bà biện lý kêu lên - Tôi sai, tôi nhận ra tôi sai rồi, nhẽ ra tôi không được cò kè khi động đến việc trang bị cho một kỵ sĩ như ông!

Porthos không thèm trả lời, bước thêm một bước nữa định rút lui.

Bà biện lý tưởng như đang thấy chàng trong một đám mây lấp lánh bâu đầy những nữ Công tước, nữ hầu tước đang ném những túi vàng xuống chân chàng.

- Đứng lại đã, trời ơi, ông Porthos! - Bà kêu lên - Dừng lại ta nói chuyện đã!

- Nói chuyện với bà chỉ đem đến bất hạnh cho tôi thôi - Porthos nói.

- Nhưng, ông hãy nói cho em nghe, ông yêu cầu gì nào?

Bà biện lý đu người vào cánh tay Porthos và trong nỗi đau mỗi lúc một tăng, bà kêu lên:

- Ông Porthos, em có biết gì về những thứ đó đâu. Em có biết thế nào là ngựa, là yên cương đâu!

- Thế thì bà phải nói ra với tôi chứ, tôi mới biết phải thế nào, thưa bà, nhưng bà lại muốn dè sẻn, và do đó, cho vay cắt cổ.

- Em sai rồi, ông Porthos, em thề danh dự là sẽ sửa chữa mà.

- Sửa chữa thế nào?

- Nghe đây. Tối nay ông Coquenard đến nhà Công tước de Sôn. Công tước triệu ông ấy đến để thẩm vấn ít nhất cũng kéo dài hai tiếng đồng hồ. Ông hãy đến. Chỉ có mỗi đôi ta, chúng ta sẽ tính toán mọi khoản.

- Sẽ đến sớm! Nói thế mới là nói chứ, bạn thân mến ạ!

- Ông sẽ tha thứ cho em chứ?

- Để xem sao đã - Porthos nói một cách kẻ cả.

Và hai người chia tay nhau và cùng nói: "Tối nay nhé!".

"Con tườu! - Porthos vừa đi vừa nghĩ, - cuối cùng hình như mình cũng đã đến gần hơn cái tủ của thầy kiện Coquenard".

Chương 35

Ban đêm mèo nào cũng xám

Buổi tối mà cả Porthos lẫn D Artagnan cùng nóng lòng mong đợi cuối cùng đã tới.

Theo thường lệ, D Artagnan có mặt ở nhà Milady lúc chín giờ. Chàng thấy nàng rất dễ thương. Chưa bao giờ nàng tiếp đón chàng niềm nở đến thế. Ngay cái nhìn đầu tiên, chàng Gascogne đã biết thư mình viết đã được chuyển tới và chắc đã có tác dụng.

Ketty vào mang theo mấy cốc kem trái cây. Nữ chủ nhân của cô tỏ vẻ tươi cười với cô và bằng nụ cười duyên dáng nhất.

Nhưng than ôi! Cô gái đáng thương lại quá buồn đến nỗi không cả nhận ra thiện ý của Milady.

D Artagnan lần lượt nhìn cả hai người đàn bà và chàng buộc phải thú nhận với mình, tạo hóa đã nhầm khi tạo tác ra họ, người đàn bà quyền quý thì lại cho một tâm hồn tham lam ty tiện và cô hầu gái lại có tấm lòng của một nữ Công tước.

Đến mười giờ Milady bắt đầu tỏ ra lo lắng. D Artagnan hiểu điều đó nghĩa là thế nào. Nàng nhìn đồng hồ, đứng lên, rồi lại ngồi xuống, mỉm cười với D Artagnan có vẻ như muốn nói: "Ông hẳn là rất đáng yêu, nhưng ông sẽ dễ thương nếu ông về đi".

D Artagnan đứng lên, cầm lấy mũ. Milady đưa tay cho chàng. Chàng trai trẻ cảm thấy nàng siết chặt tay mình và hiểu rằng đó không phải là việc tình tứ mà chỉ là biết ơn vì chàng đã đi khỏi.

- Nàng yêu hắn dữ dội thật - chàng lẩm bẩm. Rồi đi ra.

Lần này Ketty không hề đợi chàng, không trong phòng đợi, không ở hành lang, cũng không dưới chiếc cửa lớn. D Artagnan phải tự tìm lấy cầu thang và căn phòng nhỏ.

Ketty đang ngồi, ôm mặt khóc.

Cô nghe thấy tiếng D Artagnan vào, nhưng cô không thèm ngẩng đầu lên. Chàng trai trẻ đến bên cô, cầm lấy hai tay cô.

- Thế là cô òa lên nức nở.

Như D Artagnan đã suy đoán, Milady nhận được thư, trong cơn vui sướng đã kể hết với thị nữ của mình, rồi lại còn thưởng cho cô lần này đã làm tốt nhiệm vụ một túi tiền.

Ketty lúc trở về tới phòng mình đã ném túi tiền vào góc nhà và túi tiền đã xổ ra vung vãi ba bốn đồng vàng trên thảm lót sàn. Cô gái tội nghiệp được D Artagnan vuốt ve âu yếm, đã ngẩng đầu lên. Chính D Artagnan cũng phải kinh hãi trước sự hoảng loạn trên khuôn mặt cô. Cô chắp hai tay giơ lên vẻ van xin nhưng không dám nói ra lời nào.

Cho dù trái tim của D Artagnan có sắt đá đến đâu, chàng cũng cảm thấy bị mềm lòng vì nỗi đau câm lặng ấy. Nhưng chàng lại quá kiên định với những dự tính của mình và nhất là với gã Bá tước nọ. để không có gì thay đổi trong chương trình chàng đã tính toán trước. Vì vậy chàng không để cho Ketty một chút hy vọng nào làm chàng xao xuyến. Chàng chỉ trình bày với cô hành động của chàng chỉ đơn thuần là một sự trả thù.

Sự trả thù này hơn nữa lại càng dễ vì Milady chắc chắn để che giấu sự xấu hổ với người tình, đã dặn Ketty tắt hết cả mọi ánh sáng trong nhà và cả chính phòng mình nữa. Trước khi trời sáng, ông De Wardes phải ra về, vẫn trong bóng tối.

Một lát sau có tiếng của Milady trở về phòng mình. D Artagnan lập tức lao ngay vào tủ. Chàng nấp vào xong thì chiếc chuông nhỏ rung lên.

Ketty vào phòng bà chủ, không để cửa mở, nhưng vách ngăn quá mỏng, người ta có thể nghe được hầu như tất cả những gì hai người đàn bà nói với nhau.

Milady hình như phát cuồng vì vui sướng, bắt Ketty nhắc lại từng chi tiết nhỏ của cuộc cứ cho là gặp gỡ đi giữa cô hầu gái với ông De Wardes, ông ta đã nhận thư thế nào, trả lời ra sao, vẻ mặt ông ta thế nào, hiện ông có vẻ si tình không. Cô Ketty khốn khổ buộc phải trả lời tất cả những câu hỏi ấy một cách làm như thoải mái và bằng một giọng cố kìm nén để cho bà chủ không nhận ra sắc điệu đau đớn, vì hạnh phúc thường là ích kỷ.

Cuối cùng, vì giờ đàm đạo với Bá tước sắp đến, Milady quả nhiên cho tắt hết đèn trong phòng mình và ra lệnh cho Ketty trở về phòng cô và khi nào ông De Wardes có mặt thì dẫn ngay vào.

Ketty chẳng phải đợi lâu. D Artagnan nhìn qua lỗ khóa vừa thấy trong nhà tối om là nhào ngay ra khỏi chỗ trú, đúng lúc Ketty đang đóng lại cửa thông.

- Cái gì ầm ầm thế? Milady hỏi.

- Tôi đây - D Artagnan khe khẽ nói - Tôi, Bá tước De Wardes đây!

- Ôi! Lạy Chúa! Lạy Chúa? - Ketty lẩm bẩm - Chàng không đợi được ngay cả giờ chính chàng đã ấn định nữa?

- Thôi nào! - Milady nói giọng run rẩy - Tại sao không vào đi? Bá tước, ông thừa biết em đang đợi ông!

Nghe tiếng mời chào ấy, D Artagnan khẽ đẩy Ketty ra và lao vào trong buồng.

Nếu như cơn điên dại và nỗi đau buồn cứ phải hành hạ một tâm hồn thì đó là tâm hồn của một người tình đang phải núp dưới cái tên của tình địch may mắn, để nhận những lời cam kết yêu đương tỏ bầy với hắn.

D Artagnan đang ở trong tình cảnh đau đớn mà chàng không ngờ trước, lòng ghen tuông cắn xé trái tim chàng và chàng đau khổ gần như ngang với cô Ketty đáng thương lúc này đang khóc trong gian phòng bên cạnh.

- Vâng, Bá tước ạ - Milady vừa nói bằng một giọng dịu dàng nhất vừa trìu mến siết chặt tay chàng trong hai bàn tay mình - Vâng, em sung sướng vì tình yêu được biểu lộ trong khóc mắt và trong lời nói của chàng mỗi lần chúng ta được gặp nhau. Em cũng vậy. Em yêu chàng. Ôi! Ngày mai, ngày mai, em muốn có một tín vật của chàng chứng tỏ chàng luôn nghĩ đến em, và vì chàng có thể quên em, chàng cầm lấy cái này.

Và nàng tháo chiếc nhẫn ở ngón tay nàng đeo vào ngón tay D Artagnan.

D Artagnan vẫn nhớ đã từng trông thấy chiếc nhẫn ấy ở tay Milady. Đó là một chiếc nhẫn mặt saphia lộng lẫy xung quanh nạm kim cương.

Động tác đầu tiên của D Artagnan là trả lại nàng, nhưng Milady nói tiếp:

- Không, không, hãy giữ lấy chiếc nhẫn đó vì tình yêu với em. - Rồi nàng nói tiếp bằng một giọng xúc động - Hơn nữa, nhận nó là chàng đã giúp em một việc vô cùng lớn lao mà chàng không thể tưởng tượng nổi đâu.

"Con mụ này đầy những bí hiểm?" - D Artagnan tự nhủ thầm. Ngay lúc đó, chàng tự cảm thấy sẵn sàng nói toẹt ra tất cả. Chàng mở miệng định nói chàng là ai và với mục đích trả thù cho ai mà chàng đến đây thì nàng lại nói tiếp:

- Thiên thần tội nghiệp của em, suýt nữa thì con quỷ Gascogne ấy đã giết chàng.

Con quỷ ấy là chính chàng.

- Ôi! Milady lại tiếp - Những vết thương ấy vẫn còn làm chàng đau đớn ư?

D Artagnan không biết trả lời sao, nói bừa:

- Ừ đau lắm.

- Chàng yên tâm! - Milady thầm thì - Em sẽ trả thù cho chàng và sẽ thật tàn bạo.

"Đồ ôn dịch! - D Artagnan tự nhủ - Chưa đến lúc tâm sự đâu!"

Phải mất một lúc, D Artagnan mới bình tĩnh trở lại sau cuộc đối thoại nho nhỏ ấy. Nhưng mọi ý nghĩ trả thù chàng mang theo đã hoàn toàn tiêu tan. Người đàn bà đó đã tác động lên chàng một sức mạnh không tưởng tượng nổi, chàng vừa căm ghét vừa ngưỡng mộ nàng. Chàng chưa bao giờ tưởng tượng nổi hai tình cảm đối địch nhau đến thế lại có thể cùng tồn tại trong cùng một trái tim, và trong khi liên kết lại đã tạo thành một tình yêu kỳ lạ mang một vẻ gì đó rất ma quái.

- Tuy nhiên đồng hồ đã điểm một giờ. Phải xa nhau thôi.

D Artagnan lúc chia tay Milady chỉ còn cảm thấy rất luyến tiếc phải xa nàng và trong lúc đằm thắm giã biệt họ lại ngỏ ý gặp nhau vào tuần tới. Cô gái Ketty khốn khổ hy vọng có thể nói với chàng đôi lời khi chàng đi qua buồng mình nhưng Milady lại tự mình tiễn chàng trong bóng tối và đến tận cầu thang mới chịu rời xa.

Sáng hôm sau, D Artagnan chạy đến nhà Athos, chàng đã lao mình và một cuộc phiêu lưu rất chi là đặc biệt nên muốn xin Athos những lời khuyên. Chàng kể lại tất cả. Athos nhiều lần cau mày và bảo chàng:

- Cái ả Milady của cậu tôi thấy hình như là một loại người đê mạt. Nhưng cậu sẽ không kém sai lầm khi đánh lừa ả đâu. Đằng nào thì bây giờ cậu cũng có một mụ kẻ thù khủng khiếp rồi.

Và vừa nói với chàng, Athos vừa chăm chú nhìn cái mặt saphia viên kim cương đang đeo ở ngón tay D Artagnan ở vị trí chiếc nhẫn của Hoàng hậu ban đã được cất cẩn thận vào hộp đồ kim hoàn.

- Anh nhìn cái nhẫn à? - Gã Gascogne nói với vẻ hoàn toàn hãnh diện về món quà đắt tiền đến thế đang phô ra trước mắt bạn mình.

- Ừ, nó gợi cho mình nhở đến một đồ nữ trang của gia đình.

- Nó đẹp đấy chứ, phải không? - D Artagnan nói.

- Tuyệt đẹp? - Athos trả lời - Tôi không tin lại có hai viên saphia có sắc đẹp đến thế. Cậu đã đổi chiếc nhẫn kim cương của cậu lấy nó à?

- Không - D Artagnan nói - đây là món quà tặng của người đẹp Anh quốc, hay đúng hơn là người đẹp Pháp của tôi. Bởi vì cho dù tôi không hề hỏi nàng về chuyện nàng, tôi vẫn tin chắc nàng sinh ra ở Pháp.

- Chiếc nhẫn này là do Milady tặng cậu ư? - Athos kêu lên bằng một giọng rõ ràng là hết sức xúc động.

- Vâng, chính nàng, nàng đã tặng tôi đêm vừa rồi.

- Cho tôi xem chiếc nhẫn nào - Athos nói.

- Nhẫn đây - D Artagnan vừa trả lời vừa tháo khỏi tay.

Athos ngắm nghía chiếc nhẫn và tái hẳn người đi, rồi chàng thử vào ngón đeo nhẫn bàn tay trái. Chiếc nhẫn vừa khít như thể đã được làm cho chàng vậy. Một lớp mây giận dữ và hận thù lướt trên vầng trán bình thường rất trầm tĩnh của nhà quý tộc.

- Không thể lại là chính cô ta - Chàng nói - Làm sao chiếc nhẫn này lại ở trong tay của Milady Clericss được? Song thật khó có thể có sự giống nhau đến thế giữa hai chiếc nhẫn.

- Anh biết chiếc nhẫn này à? - D Artagnan hỏi.

- Tôi cứ tưởng là nhận ra! - Athos nói - nhưng chắc tôi nhầm.

- Và chàng đưa trả D Artagnan, song vẫn không ngừng nhìn nó. Lát sau chàng nói:

- D Artagnan này, cậu cất chiếc nhẫn đi hoặc quay mặt saphia vào trong, nó gợi cho tôi quá nhiều kỷ niệm tàn nhẫn khiến đầu óc tôi không còn bình thường nữa để chuyện trò với cậu. Không phải cậu đến để hỏi tôi khuyên cậu, không phải cậu không hề nói với tôi rằng cậu đang bối rối vì không biết làm thế nào cho phải sao?... Nhưng khoan đã... hãy đưa cho tôi xem lại cái nhẫn saphia. Cái nhẫn mà tôi muốn nói ấy chắc phải có một mặt bị rạch do bị tai nạn.

D Artagnan lại tháo nhẫn đưa cho Athos.

Athos giật bắn người và bảo D Artagnan:

- Này xem xem, có lạ không!

Và chàng chỉ cho D Artagnan cái vết xước mà chàng nhớ ắt phải có.

- Nhưng chiếc nhẫn saphia này là của ai cho anh, Athos?

- Của mẹ tôi, và do bà ngoại tôi cho mẹ tôi. Như tôi đã nói với cậu đấy, đó là bảo vật lâu đời của gia đình... không được để lọt ra ngoài.

- Và anh đã... bán nó... - D Artagnan ngập ngừng hỏi.

- Không! Athos đáp với một nụ cười kỳ lạ - Tôi đã đem tặng nó trong một đêm ân ái, giống như nó được tặng cho cậu ấy!

D Artagnan đến lượt mình cũng trở nên đăm chiêu. Chàng hình như thấy trong tâm hồn Milady những vực sâu thẳm, tối tăm, bí hiểm. Chàng không đeo nhẫn nữa mà đút vào túi.

- Cậu phải biết - Athos vừa nói vừa nắm lấy tay D Artagnan - D Artagnan ạ, cậu chắc đã biết tôi yêu cậu biết mấy. Nếu tôi có được một đứa con trai, tôi cũng sẽ không yêu nó hơn cậu đâu. Nghe đây, hãy tin tôi, hãy từ bỏ người đàn bà đó đi. Tôi không quen biết cô ta, nhưng một thứ trực giác bảo tôi rằng đó là một con người bỏ đi, và có một cái gì đó như tai ương trong mụ.

- Và anh nói đúng - D Artagnan nói - Cho nên tôi phải rời bỏ thôi. Tôi xin thú thực với anh, mụ đàn bà này làm bản thân tôi cũng thấy sợ đấy.

- Cậu có đủ can đảm không? - Athos hỏi.

- Tôi sẽ có - D Artagnan trả lời - và ngay lúc này.

- Đúng lắm, chú em ạ, cậu làm thế là đúng - Nhà quý tộc siết chặt tay chàng Gascogne với một tình cảm gần như cha con - Cầu Chúa cho người đàn bà ấy mới chợt bước vào đời cậu và không để lại một dấu vết khủng khiếp nào!

Và Athos gật đầu chào D Artagnan ngụ ý không muốn bị làm phiền và được còn lại một mình để suy nghĩ.

Trong khi trở về nhà. D Artagnan thấy Ketty đang ngồi đợi chàng. Một tháng sốt liên miên cũng không làm cô bé tội nghiệp qua một đêm mất ngủ và đau đớn thay đổi hơn thế.

Nàng đã bị bà chủ sai đến nhà De Wardes giả. Bà chủ này đang điên dại vì tình yêu, phát cuồng vì vui sướng. Nàng muốn biết bao giờ người tình của mình sẽ cho mình một đêm thứ hai ân ái.

Và cô gái Ketty khốn khổ, xanh xao và run rẩy đợi câu trả lời cả D Artagnan.

Athos đã có một ảnh hưởng lớn đến chàng trai trẻ. Những lời khuyên của người bạn mình kết nối với những tiếng kêu của con tim chính mình đã khiến chàng, giờ đây lòng kiêu căng đã được cứu vớt, và sự trả thù đã được thỏa mãn, quyết định không gặp lại Milady nữa. Thay cho mọi trả lời, chàng cầm bút và viết bức thư sau.

"Thưa bà, xin đừng trông chờ ở tôi một cuộc hẹn hò sắp tới.

Từ khi bình phục, tôi bận bịu quá nhiều về những việc kiểu như thế khiến tôi phải sắp xếp cuộc nào trước, cuộc nào sau. Khi nào tới lượt bà, tôi sẽ hân hạnh báo để bà biết.

Hôn tay bà

Bá tước De Wardes

- Không một lời động đến chiếc nhẫn saphia. Chàng Gascogne muốn giữ lại một vũ khí chống Milady chăng? Hay là, hãy thẳng thắn một chút, chẳng phải chàng muốn giữ chiếc nhẫn saphia làm cái vốn cuối cùng cho việc trang bị hay sao?

Vả chăng người ta có lẽ thường nhầm lẫn khi phán xử những hành động của thời đại này theo quan điểm của một thời đại khác. Điều mà ngày nay sẽ bị coi như là một điều hổ nhục đối với một người đàn ông hào hoa thì vào thời ấy lại là một điều hoàn toàn bình thường, hoàn toàn tự nhiên và những chàng con út của những gia đình danh giá nói chung vẫn thường để cho các cô nhân tình của họ chu cấp.

D Artagnan chuyển lá thư để ngỏ cho Ketty. Lúc đầu cô đọc mà chẳng hiểu gì, nhưng khi đọc lại, cô suýt phát điên vì vui sướng.

Ketty không thể tin nổi niềm hạnh phúc đó. D Artagnan buộc phải nói to ra bằng lời cho cô nghe những đảm bảo đã được viết trong thư. Và, mặc cho tính tình dễ nổi nóng đến đâu của Milady, mặc cho mối nguy hiểm có thể đổ lên đầu cô gái tội nghiệp khi trao bức thư đó cho bà chủ của mình, Ketty vẫn ba chân bốn cẳng phóng thẳng về quảng trường Hoàng gia.

Trái tim của người đàn bà nhân hậu nhất vẫn cứ là nhẫn tâm trước những đau khổ của tình địch của mình.

Milady cuống quýt mở thư ngang với Ketty cuống quít mang thư về. Nhưng vừa đọc được câu đầu, mặt nàng đã xám ngắt và vò nát ngay tờ giấy. Rồi quay phắt lại Ketty mắt nẩy lửa.

- Bức thư này là thế nào?

- Nhưng đó là thư trả lời thư của bà chủ - Ketty trả lời mà người cứ run bắn lên.

- Không thể thế được! - Milady hét lên - Không thể có chuyện một nhà quý tộc lại viết một bức thư như thế!

Rồi bất ngờ giật bắn người lên và nói:

- Trời ơi! Chả lẽ ông ta lại biết...

Và nàng dừng ngay lại.

Răng nghiến ken két, người nàng xám lại như tro. Nàng muốn bước lại gần cửa sổ, nhưng không thể vươn nổi cánh tay ra, hai chân rời rã, và ngã, xuống chiếc ghế bành.

Ketty tưởng nàng khó ở liền nhào tới để tháo nịt ngực ra.

Nhưng Milady đứng phắt dậy hỏi:

- Mày muốn làm gì ta vậy? Và tại sao dám để tay lên người ta?

- Em nghĩ bà chủ khó ở nên em muốn đến giúp - Cô gái hầu trả lời, hoảng sợ trước vẻ mặt khủng khiếp của bà chủ lúc đó.

- Ta khó ở ư? Ta mà lại thế ư? Mày nghĩ ta là hạng đàn bà ủy mị ư? Khi người ta lăng mạ ta, ta không khó ở đâu, mà ta trả thù, hiểu không?

- Và nàng giơ tay ra hiệu cho Ketty lui ra.

Chương 36

Mộng báo thù

Tối đến, Milady ra lệnh nếu D Artagnan theo thói quen có đến, phải dẫn ngay chàng vào. Nhưng chàng không đến.

Hôm sau, Ketty lại đến thăm chàng và kể lại tất cả những gì đã diễn ra đêm trước. D Artagnan mỉm cười. Cơn giận dữ ghen tuông của Milady chính là sự trả thù của chàng.

Tối đó, Milady còn nóng lòng mong đợi hơn cả đêm trước.

Nàng lại ra lệnh thêm lần nữa về chàng Gascogne. Nhưng cũng giống như đêm trước, nàng chờ đợi vô ích.

Hôm sau, Ketty lại có mặt ở nhà D Artagnan, không còn vui vẻ và hoạt bát như hai hôm trước nữa mà trái lại buồn chết được.

D Artagnan hỏi cô gái đáng thương xem có chuyện gì, nhưng cô gái thay cho việc trả lời, rút từ trong túi ra một bức thư trao cho chàng.

Bức thư mang nét chữ của Milady, chỉ lần này mới gửi tới địa chỉ của D Artagnan chứ không tới địa chỉ của ông De Wardes nữa.

Chàng mở thư ra đọc:

"Ông D Artagnan thân mến! Chểnh mảng với bạn bè như thế là không tốt đâu, nhất là lại vào lúc mà người ta sắp phải xa nhau rất lâu. Em chồng tôi và tôi đã chờ ông hôm qua và cả hôm kia nữa vô ích.

Liệu tối nay có vẫn thế không đây?

Người rất chịu ơn ông

Phu nhân Clerics

- Cũng dễ hiểu thôi - D Artagnan nói - Ta đoán trước thế nào cũng có bức thư này mà. Uy tín ta càng tăng thì của Bá tước De Wardes càng giảm.

- Anh sẽ đi chứ? - Ketty hỏi.

- Nghe đây, em bé yêu quý của anh - Chàng Gascogne tìm cách bào chữa cho mình trong con mắt của chính mình vì đã thất hứa với Athos, nói với Ketty - Em cũng hiểu sẽ là vô lối nếu khước từ một lời mời tha thiết đến thế. Milady thấy anh không đến, sẽ không hiểu sao anh lại dứt hẳn không đến thăm rồi có thể nghi ngờ có chuyện gì đó, và ai có thể biết được sự trả thù của mụ đàn bà đầy sát khí đó sẽ đi đốn đâu?

- Ôi, chúa ơi! - Ketty nói - Anh luôn biết cách trình bày mọi việc sao cho bao giờ anh cũng đúng. Nhưng anh vẫn còn muốn ve vãn bà ta. Và nếu lần này anh làm cho bà ta hài lòng dưới cái tên thực của anh, bộ mặt thật của anh, thì còn tệ hại hơn nhiều so với lần trước?

Linh tính khiến cô gái tội nghiệp đoán được phần nào việc gì sắp đến.

D Artagnan càng cố làm cô yên tâm và hứa với cô sẽ trở ra trước những cám dỗ của Milady.

Chàng nhờ Ketty trả lời hộ chàng không thể làm gì để biết ơn hơn lòng tốt của bà chủ và sẽ tuân theo lệnh của bà. Nhưng chàng không dám viết ra sợ rằng dưới đôi mắt sành sỏi của Milady, không thể giả mạo nổi nét chữ của chàng.

Đúng chín giờ, D Artagnan đã ở quảng trường Hoàng gia.

Rõ ràng là mấy tên đầy tớ đang đợi ở tiền sảnh đã được cho biết trước, bởi vì D Artagnan vừa hiện ra, trước cả khi chàng kịp hỏi có được vào thăm Milady không, thì một tên đã chạy vào bẩm báo.

- Mời ông ấy vào - Milady nói vắn gọn nhưng the thé khiến D Artagnan đứng ngoài tiền sảnh cũng nghe thấy.

Người ta dẫn chàng vào.

- Ta không tiếp ai nữa! - Milady nói - không ai nữa, hiểu chưa.

Người hầu đi ra.

D Artagnan đưa mắt tò mò nhìn Milady. Nàng xanh xao và đôi mắt mệt mỏi, có thể vì khóc, hoặc vì mất ngủ. Người ta đã chủ ý giảm bớt ánh sáng thường lệ, tuy nhiên thiếu phụ vẫn không thể giấu nổi những dấu vết của cơn sốt đã giày vò nàng suốt hai ngày trời.

D Artagnan sán lại gần nàng với phong cách tình tứ vốn có của chàng. Nàng phải cố gắng đến tột độ để đón nhận, nhưng không bao giờ một bộ mặt điên đảo nhất lại không trái nghịch với nụ cười dễ thương nhất.

Về những câu hỏi của D Artagnan đến sức khỏe, nàng đáp:

- Tồi, tồi lắm.

- Ồ thế thì - D Artagnan nói - tôi thật vô ý, bà cần phải nghỉ ngơi, tôi phải cáo lui thôi.

- Không đâu - Milady nói - Trái lại, ông phải ở lại chứ ông D Artagnan, chuyện trò thân mật với ông sẽ làm tôi khuây khỏa mà.

"Ôi, ôi! - D Artagnan nghĩ - chưa bao giờ nàng lại yêu kiều đến thế! Phải coi chừng thôi".

Milady cố hết sức mình để tạo dáng vẻ dễ thương và cố làm cho cuộc chuyện trò được giòn giã. Đồng thời cơn sốt tình đã buông tha nàng được giây lát lại quay trở lại làm mắt nàng long lanh, má nàng hồng lên và môi nàng thắm lại. D Artagnan như thấy lạ; mụ Circé(1) đã từng vây bọc chàng bằng những bùa mê phép lú. Tình yêu, chàng tưởng đã tắt thật ra chỉ vơi dịu đi, nay lại bừng dậy trong tim chàng. Milady mỉm cười và D Artagnan cảm thấy mình sẽ tự đầy đọa vì nụ cười ấy.

Dần dần Milady càng trở nên tâm tình hơn. Nàng hỏi D Artagnan đã có tình nhân chưa.

- Than ôi? - D Artagnan nói với vẻ tình cảm nhất mà chàng có thể tạo được - Bà có thể tàn nhẫn đến thế để hỏi tôi một câu như vậy ư? Tôi, từ khi gặp bà chỉ còn biết khao khát bà và sống vì bà thôi.

Milady cười một nụ cười rất lạ.

- Vậy là ông yêu tôi? - Nàng nói.

- Có cần tôi phải nói ra với bà không, chả nhẽ bà không hề nhận ra ư?

- Có chứ, nhưng ông biết đấy, những trái tim càng kiêu hãnh bao nhiêu, càng khó chiếm đoạt bấy nhiêu.

- Ồ, khó khăn không làm tôi sợ hãi đâu - D Artagnan nói - chỉ có những cái bất khả mới làm tôi hoảng sợ.

- Chẳng có gì là bất khả - Milady nói - đối với một tình yêu đích thực.

- Không có gì ư, thưa bà?

- Không gì hết - Milady lặp lại.

"Quỷ ơi! - D Artagnan tiếp tục nghĩ về phần mình - Giọng điệu đổi rồi đây. Chả lẽ mụ đồng bóng này ngẫu nhiên lại phải lòng ta, và liệu mụ có sẵn sàng tặng cho chính ta một chiếc nhẫn saphia khác giống như chiếc mụ đã tặng cho ta mà tưởng nhầm ta là De Wardes không?"

D Artagnan xích ngay ghế lại gần ghế của Milady.

- Xem nào - Nàng nói - Ông sẽ làm gì để chứng tỏ mối tình ông nói nào?

- Tất cả những gì người ta đòi hỏi ở tôi. Nào, cứ ra lệnh đi, tôi đã sẵn sàng.

- Làm tất cả?

- Tất cả!- D Artagnan hét lên. Chàng thừa biết chẳng có việc gì lớn lao phải mạo hiểm nên cứ hứa tràn như thế.

- Được rồi? Ta hãy chuyện trò với nhau một chút đã - Milady vừa nói, vừa kéo chiếc ghế bành của mình lại gần ghế tựa của D Artagnan.

- Thưa bà, tôi nghe bà đây - chàng nói.

Milady đăm chiêu một lát có vẻ ngần ngại, rồi có vẻ đã quyết định, nàng nói:

- Tôi có một kẻ thù.

- Bà ư, thưa bà! - D Artagnan kêu lên, vờ làm ra ngạc nhiên - Chúa ơi có thể thế được sao? Đẹp và tốt đến như bà?

- Một kẻ tử thù.

- Thật sao?

- Một kẻ thù đã lăng mạ tôi rất tàn nhẫn đến mức giữa tôi và hắn là một cuộc chiến sinh tử. Liệu tôi có thể trông chờ ở ông như một cánh tay đắc lực không?

D Artagnan hiểu ngay con người mang đầy thù hận đó muốn đi đến đâu.

- Bà có thể lắm chứ, thưa bà - chàng khoa trương nói - cánh tay tôi và mạng sống của tôi thuộc về bà cũng như tình yêu của tôi.

- Thế thì - Milady nói - Một khi ông đã hào hiệp cũng như si tình đến thế...

Nàng dừng lại.

- Thì sao? - D Artagnan hỏi.

- Thì - Milady nói tiếp sau một phút im lặng - Từ nay thôi đừng nói đến những cái bất khả nữa.

- Xin đừng làm tôi chìm nghỉm trong hạnh phúc - D Artagnan vừa kêu lên vừa quỳ sụp xuống hôn tới tấp lên đôi bàn tay thả ra cho chàng.

"Hãy trả thù tên De Wardes đê tiện kia cho ta - Nàng nghiến răng lại tự nhủ - Và ta thừa biết cách rũ bỏ ngươi tiếp đó, tên hai lần ngốc, lưỡi gươm sống ạ?".

Về phần mình, D Artagnan cũng nghĩ thầm: "Hãy tự nguyện ngã vào vòng tay ta sau khi đã giễu cợt ta một cách vô liêm sỉ, hỡi mụ đàn bà đạo đức giả và nguy hiểm kia, rồi sau đó ta sẽ cười vào mũi mụ cùng với kẻ mà mụ muốn giết hắn bằng bàn tay ta".

Nghĩ rồi, D Artagnan ngẩng đầu lên nói:

- Tôi đã sẵn sàng.

- Vậy chắc ông đã hiểu tôi, ông D Artagnan thân mến?

- Nhìn mắt bà tôi đoán ra tất cả.

- Như vậy có nghĩa ông sẽ dùng tay gươm nổi tiếng của ông giúp tôi chứ?

- Ngay lúc này cũng được.

- Nhưng tôi - Milady nói - biết lấy gì để trả công ông một việc như thế? Tôi biết những kẻ si tình. Đó là những người sẽ không làm gì nếu không được gì.

- Và thừa biết câu trả lời duy nhất của tôi mà tôi khao khát, duy nhất xứng đáng với bà và với tôi.

Và chàng nhẹ nhàng kéo nàng vào sát người mình.

Nàng cưỡng lại một cách chiếu lệ.

- Lợi dụng, đấy! - Nàng vừa nói vừa tủm tỉm cười.

- Thế ư! - D Artagnan kêu lên, cảm thấy thực sự bị lôi cuốn bởi nỗi ham muốn mà người đàn bà được trời phú cho cái tài nhen nhóm lên trong trái tim chàng - Ôi, chính vì hạnh phúc đối với tôi thật khó tin, và vì luôn luôn sợ thấy nó bay mất như một giấc mơ, nên tôi phải vội biến nó thành hiện thực.

- Ồ, vậy thì ông đáng được hưởng cái gọi là hạnh phúc ấy đấy!

- Tôi đang đợi lệnh của bà đây - D Artagnan nói.

- Chắc chắn chứ? - Milady vẫn còn chút nghi ngờ hỏi lại.

- Bà hãy chỉ mặt vạch tên kẻ vô lại đã làm đôi mắt đẹp của bà phải khóc đi.

- Ai bảo ông là tôi khóc nào? - Nàng nói.

- Tôi thấy hình như vậy.

- Những phụ nữ như tôi không khóc đâu - Milady nói.

- Càng tốt! Vậy bà nói cho tôi biết tên hắn là gì đi?

- Cứ cho tên hắn là cả bí mật của tôi đi!

- Tuy nhiên, tôi cần phải biết tên hắn.

- Phải, cần phải thế, ông thấy tôi tin ông đến thế nào chưa?

- Bà làm tôi tràn trề vui sướng. Tên hắn là gì.

- Ông biết rồi đấy.

- Thật không?

- Thật.

- Không phải một trong số bạn tôi đấy chứ? - D Artagnan chơi trò hú tim để nàng tin mình chẳng hay biết gì cả.

- Nếu đó là một trong số bạn ông, ông sẽ ngần ngại ư? - Milady kêu lên. Và mắt nàng ánh lên đe dọa.

- Không, ngay cả là anh tôi! - D Artagnan làm như đang bồng bột hét lên.

Chàng Gascogne cứ dấn tới mà không lo chi vì chàng đã biết mình đang đi đến đâu.

- Tôi yêu lòng nhiệt thành của ông - Milady nói.

- Than ôi! Bà chỉ yêu cái đó trong tôi thôi ư? - D Artagnan hỏi.

- Tôi yêu cả ông nữa, yêu ông được chưa - Nàng vừa nói vừa cầm lấy tay D Artagnan.

Cái siết tay nồng nhiệt ấy làm D Artagnan rùng mình, như thể khi tiếp xúc, cơn sốt đang thiêu đất Milady cháy lan sang cả chàng.

- Bà yêu tôi, bà ư? - Chàng kêu lên - Ôi, nếu quả như thế, tôi sẽ phát điên thôi.

Và chàng vòng tay ôm lấy nàng. Nàng không hề cố ý gỡ môi ra khi chàng hôn, có điều không hôn lại.

Đôi môi nàng lạnh giá. D Artagnan thấy như mình vừa hôn một pho tượng.

Tuy vậy, chàng không kém phần nồng say vui sướng và đê mê vì tình. Chàng hầu như tin Milady trìu mến thật, hầu như tin De Wardes có tội thật. Nếu như De Wardes lúc này ở trong tay chàng, chàng sẽ giết thật.

Milady nắm lấy cơ hội. Nàng nói ra luôn:

- Hắn tên là...

- De Wardes, tôi biết rồi - D Artagnan nói to lên.

- Và tại sao chàng biết hắn? - Milady vừa hỏi vừa nắm lấy hai bàn tay chàng và cố nhìn vào mắt để hiểu thấu tận đáy lòng chàng.

D Artagnan cảm thấy chàng đã để bị lôi cuốn và đã phạm một lỗi lầm.

- Nói, nói đi, nói đi nào! - Milady lắp đi, lắp lại - Làm sao chàng biết là hắn?

- Làm sao tôi biết ư? - D Artagnan nói.

- Phải.

- Tôi biết, bởi vì hôm qua, trong một phòng khách, De Wardes đã cho tôi xem chiếc nhẫn mà hắn nói có được từ bà.

- Quân khốn nạn? - Milady hét lên.

Cái tiếng rủa ấy vang dội đến tận đáy lòng D Artagnan.

- Thế nào? - Nàng tiếp tục.

- Thì thế đấy! - Tôi sẽ trả thù tên khốn nạn ấy cho bà -

D Artagnan nói với điệu bộ như chàng ĐônJaphét của Ácmênia(2)

- Cám ơn ông bạn tử tế của tôi! - Milady nói - Và khi nào tôi sẽ được trả thù?

- Mai, hoặc ngay lập tức, khi nào bà muốn.

Milady định thét lên "ngay lập tức", nhưng nàng nghĩ một sự hấp tấp như thế sẽ không mấy nhã nhặn đối với D Artagnan. Hơn nữa, nàng còn phải đề phòng trăm nghìn thứ, còn phải căn dặn người bảo vệ cho mình hàng nghìn điều để tránh khỏi phải giải thích với Bá tước trước những người làm chứng, tất cả những trò đó đã được D Artagnan đoán trước và nói gọn trong một câu:

- Ngày mai, bà sẽ được trả thù hoặc tôi sẽ chết.

- Không! - Nàng nói - Ông sẽ trả thù cho em nhưng ông không chết đâu. Đó là một thằng hèn thôi mà.

- Có thể với đàn bà thôi chứ không với đàn ông đâu. Tôi biết qua qua thế mà.

- Nhưng tôi thấy hình như trong cuộc đấu này với hắn, ông chẳng có gì đáng ngại về sự may rủi cả.

- May rủi là một gái giang hồ, hôm qua vuốt ve chiều chuộng, ngày mai đã có thể quay lưng lại với tôi.

- Có nghĩa bây giờ ông ngần ngại?

- Không, tôi không ngần ngại. Chúa phù hộ cho tôi? Nhưng liệu có công bằng không khi để mặc tôi có thể đi đến cái chết mà lại không cho tôi ít nhất một chút gì đó hơn là hy vọng suông?

Milady trả lời bằng một ánh mắt như muốn nói: Không phải chuyện đó chứ? Nói thẳng ra xem nào. Rồi tiếp theo ánh mắt là những lời cắt nghĩa thêm.

- Đúng quá! - Nàng dịu dàng nói.

- Ôi, nàng quả là một thiên thần! - Chàng trai trẻ nói.

- Thế là thỏa thuận xong cả rồi đấy nhé! - Nàng nói.

- Trừ điều tôi yêu cầu nàng, tâm hồn yêu quý ạ!

- Nhưng khi em đã nói với ông là ông có thể tin vào sự trìu mến của em...?

- Tôi không có ngày mai để chờ đợi.

- Im nào? Tôi nghe thấy tiếng ông em tôi? Không cần thiết để ông ấy thấy ông ở đây.

Nàng rung chuông và Ketty vào.

- Ông ra bằng cửa này. - Nàng vừa nói vừa đẩy chiếc cửa bí mật - và mười một giờ hãy quay lại. Chúng ta sẽ bàn nốt cho xong việc này. Ketty sẽ dẫn ông vào.

Cô bé đáng thương nghĩ mình có thể ngã vật ra khi nghe những câu như thế.

- Ơ kìa? Cô làm gì vậy, sao ngây ra như phỗng thế, tiểu thư? Nghe đây, dẫn ông hiệp sĩ này đến vào mười một giờ tối nay, hiểu chưa!

Hình như những cuộc hẹn của nàng đều vào lúc mười một giờ. Đó là một thói quen rồi. D Artagnan nghĩ vậy.

Milady chìa tay ra cho chàng hôn trìu mến.

Chàng vừa rút lui vừa tự nhủ như để trả lời những trách móc của Ketty: "Này, này, đừng có làm một thằng ngốc, nhất định con mẹ này là một con đại gian ác rồi, phải coi chừng".

Chương 37

Bí mật của Milady

Đáng lẽ lên ngay phòng Ketty, D Artagnan lại ra khỏi tòa nhà, mặc cho những lời nằn nì của cô gái, vì hai lẽ, thứ nhất làm như thế sẽ tránh được những lời trách móc, cãi lý, van xin, thứ hai để được thư thái xem lại tư tưởng của mình một chút và nếu có thể của cả mụ đàn bà kia nữa.

Rõ hơn cả trong chuyện đó là D Artagnan yêu Milady như một thằng điên và nàng lại không một chút yêu chàng. Có lúc, D Artagnan cho rằng, tốt nhất là trở về nhà viết một bức thư dài cho Milady, trong thư thú thực chàng và De Wardes cho đến lúc này vẫn chỉ là một, do đó, chàng không thể cam tâm giết chết De Wardes vì như thế chính là tự sát. Nhưng chính chàng cũng bị kích thích bởi một ham muốn dữ tợn trả thù, chàng muốn chiếm đoạt người đàn bà đó dưới cái tên của chính mình và vì sự trả thù đó đối với chàng hình như lại có vẻ ngọt ngào êm dịu nên chàng không hề muốn từ bỏ nó chút nào.

Chàng đi quanh quảng trường Hoàng gia năm sáu lần, cứ mươi bước lại ngoái lại nhìn xem ánh sáng căn nhà của Milady lọt qua những tấm mành che cửa sổ. Rõ ràng lần này người đàn bà không vội vã như lần trước khi trở về phòng ngủ.

Cuối cùng ánh đèn biến mất.

Cùng với ánh đèn, cũng tắt ngấm luôn nỗi băn khoăn cuối cùng trong trái tim D Artagnan. Chàng nhớ lại những tình tiết của cái đêm đầu tiên và trái tim như chồm lên, đầu bốc nóng, chàng quay lại ngôi nhà và nhẩy bổ lên phòng Ketty.

Cô gái xanh xao như người chết, toàn thân run lên, muốn ngăn người tình lại. Nhưng Milady vẫn rình nghe, đã nghe thấy tiếng chân D Artagnan liền mở cửa:

- Vào đi! - Nàng nói.

Tất cả việc đó diễn ra một cách trơ trẽn không thể tưởng tượng nổi, một cách vô liêm sỉ quá ư ma quái đến mức D Artagnan khó có thể tin được những gì mình trông thấy và những gì mình nghe thấy. Chàng tin bị lôi cuốn vào một trong những trò chim chuột kỳ quặc nào đấy mà người ta chỉ thực hiện được trong mơ.

Chàng lao theo về phía Milady chẳng kém gì nam châm hút sắt. Cửa đóng lại đằng sau họ.

Ketty cũng lao theo đến bên cửa.

Sự ghen tuông, sự hờn giận, lòng kiêu hãnh bị tổn thương.

Cuối cùng là tất cả những ham muốn đang giằng xé nhau trong trái tim của một người đàn bà si tình đang đẩy cô đến chỗ nói toạc ra tất cả. Nhưng cô sẽ nguy khốn nếu cô thú nhận đã nhúng tay vào việc xếp đặt ấy và trên hết, cô sẽ mất D Artagnan. Nghĩ vậy cô đành tự nhủ hãy hy sinh thêm lần cuối cùng này nữa.

D Artagnan về phần mình, đã đạt đến tột đỉnh của mọi ước muốn. Không phải chuyện yêu một tình địch trong bản thân chàng nữa mà có vẻ như yêu chính bản thân chàng. Một tiếng nói thầm kín tận đáy lòng bảo chàng rằng chàng chỉ là một công cụ để trả thù, mà người ta vừa vuốt ve mơn trớn nó vừa chờ đợi nó đem đến chết chóc. Nhưng lòng kiêu hãnh, lòng tự ái, sự điên rồ đã làm tiếng nói ấy câm đi, đã làm lời thầm thì kia phải nghẹn lại. Rồi chàng Gascogne với liều lượng tự tin cao, đa so sánh mình với De Wardes và tự hỏi rút cuộc tại sao người ta lại không yêu chàng, ừ, yêu chàng, chính chàng.

- Thế là chàng phó mặc hoàn toàn cho những cảm giác lúc đó.

Milady đối với chàng không còn là mụ đàn bà với những ý đồ gieo rắc tái ương đã có lúc làm chàng kinh hãi nữa, mà đó là một người tình nồng nhiệt và say đắm hoàn toàn thả mình cho một tình yêu mà hình như chính bản thân nàng cũng nghiệm thấy. Gần hai giờ đồng hồ trôi đi như thế. Song cơn hoan lạc của đôi tình nhân đã lắng dịu lại.

Milady không cùng những động cơ với D Artagnan để quên đi, là người đầu tiên trở lại với thực tế và hỏi chàng trai trẻ liệu những phương sách cần phải tiến hành ngày mai giữa chàng và De Wardes cho cuộc chạm trán đã được hoạch định trước trong đầu chàng chưa.

Nhưng D Artagnan, mọi ý nghĩ lại đang trôi theo một dòng khác, như một kẻ lú lẫn, chàng quên mất cả chính mình, trả lời một cách tình tứ rằng muộn quá rồi, không phải lúc tính chuyện đấu gươm được.

Sự lạnh nhạt đối với những quan tâm duy nhất của Milady khiến nàng hảng sợ và nàng càng dồn dập hỏi D Artagnan.

D Artagnan không bao giờ suy nghĩ một cách nghiêm túc đến cuộc quyết đấu bất khả thi này, lúc này muốn lái câu chuyện sang hướng khác nhưng chàng không còn đủ sức nữa.

Milady giữ chặt lấy chàng trong những giới hạn mà nàng đã vạch ra trước với tinh thần bất khả kháng và ý chí sắt thép của nàng.

Khuyên Milady tha thứ cho De Wardes mà từ bỏ những chủ định điên khùng mà nàng đã thiết lập, D Artagnan tưởng rằng mình làm như thế là khôn ngoan nhất.

Nhưng vừa mới nói ra được mấy câu, người đàn bà đó đã giật mình và tách hẳn ra.

- Anh sợ rồi ư, D Artagnan thân yêu? - Nàng hỏi bằng một giọng chua loét và cợt nhạo vang lên lạ lùng trong bóng đêm.

- Em đừng nghĩ như thế, em thân yêu ạ! - D Artagnan trả lời nhưng rốt cuộc, nếu như cái ông Bá tước tội nghiệp De Wardes đó đắc tội ít hơn là em nghĩ thì sao?

- Dẫu sao hắn cũng đã lừa dối em - Milady nghiêm nghị nói - và lúc hắn đã lừa dối em, hắn đáng tội chết rồi.

- Vậy hắn sẽ chết, một khi em đã xử tội chết! - D Artagnan nói bằng một giọng kiên quyết khiến Milady thấy có vẻ như đấy là sự biểu lộ cao độ lòng chung thủy.

Lập tức nàng lại nằm sát vào người chàng.

Đối với Milady, không biết đêm đã kéo dài được thời gian bao lâu nhưng D Artagnan tưởng như đã nằm ở bên nàng được khoảng hai tiếng đồng hồ, khi mà ánh sáng ban mai đã hiện ra qua khe những rèm cửa rồi tràn ngập trong phòng một thứ ánh sáng mờ nhạt.

Thấy D Artagnan sắp từ biệt mình, Milady liền nhắc lại lời chàng đã hứa trả thù De Wardes cho nàng.

- Anh rất sẵn sàng - D Artagnan nói - nhưng trước hết, anh muốn được chắc chắn về một điều.

- Điều gì - Milady hỏi.

- Là được em yêu.

- Em tưởng em đã cho anh bằng chứng về điều đó rồi?

- Phải, anh cũng như thế với em cả thể xác lẫn tâm hồn.

- Cám ơn người tình tử tế của em! Nhưng em đã chứng tỏ tình yêu của em với anh thì anh cũng sẽ phải chứng tỏ tình yêu của anh với em, có phải không?

- Chắc chắn rồi. Nhưng nếu em yêu anh như em nói - D Artagnan nhắc lại - em không sợ chút nào cho anh ư?

- Em có thể sợ gì cơ chứ?

- Nhưng rút cuộc, anh có thể bị thương nặng, cả chết nữa.

- Không thể thế - Milady nói - Anh là một con người rất can trường, và một tay gươm hiểm hóc.

- Vậy là em không thích - D Artagnan hỏi tiếp - không thích chút nào một phương sách vẫn có thể trả thù cho em mà lại không cần thiết phải giao đấu?

Milady lặng đi nhìn người tình của mình. Cái ánh sáng nhàn nhạt của những tia sáng đầu tiên ban mai đem lại trong đôi mắt nàng một vẻ thê lượng kỳ lạ.

- Đúng vậy - Nàng nói - Em tin bây giờ anh do dự mất rồi.

- Không, anh không do dự đâu. Nhưng chính vì cái tay Bá tước De Wardes tội nghiệp kia thực sự làm cho anh ái ngại kể từ khi em không yêu hắn nữa, và anh thấy hình như nếu bị mất tình yêu của em là đã bị trừng phạt tàn nhẫn lắm rồi, chẳng cần đến một hình phạt khác nữa.

- Ai bảo anh rằng em đã yêu ông ta? - Milady hỏi.

- Ít nhất bây giờ anh cũng có thể tin mà không quá hợm hĩnh rằng em đã yêu một người khác - Chàng trai trẻ trả lời bằng một giọng mơn trớn - và anh nhắc lại với em rằng anh quan tâm đến ông Bá tước.

- Anh?

- Phải, anh?

- Và tại sao lại anh?

- Bởi vì chỉ mỗi anh biết...

- Biết cái gì?

Biết ông ta còn xa mới đáng bị hoặc đúng hơn đã bị quy là phạm tội như vậy đối với em.

- Thật thế sao? - Milady nói vẻ lo lắng - anh hãy giải thích rõ xem nào bởi vì thực ra em không hiểu anh muốn nói gì.

Và nàng nhìn D Artagnan vẫn đang ôm nàng, với đôi mắt hình như đang dần dần rực cháy lên.

- Phải, anh là một người đàn ông trăng hoa, đúng vậy! - D Artagnan nói và đã quyết định giải quyết cho xong mọi chuyện - và từ khi chắc chắn chiếm được tình yêu của em, bởi anh đã chiếm được, phải không nào?

- Chiếm hoàn toàn. Tiếp tục đi!

- Thế là! Anh cảm thấy mình được vô cùng hoan lạc, và một việc cần thú nhận đè nặng lòng anh.

- Thú nhận!

- Nếu anh còn nghi ngờ tình yêu của em, anh đã không cần phải thú nhận. Nhưng em yêu anh, cô người tình kiều diễm của anh, có phải không? Em yêu anh chứ?

- Chắc chắn rồi.

- Vậy nếu vì quá yêu em mà anh mắc tội với em, em có tha thứ cho anh không?

- Có thể!

Với nụ cười dịu dàng nhất, D Artagnan thử áp môi mình vào môi Milady, nhưng nàng tránh ra.

- Thú nhận đi đã - Nàng vừa nói vừa tái nhợt người đi - Thú nhận xem thế nào đã?

- Em đã hẹn với De Wardes thứ năm tuần trước, vẫn trong căn phòng này, có phải không?

- Em ư, không! Không phải thế - Milady nói bằng một giọng rất kiên quyết và bằng vẻ mặt quá bình thản nếu D Artagnan không hoàn toàn chắc chắn về điều đó, sẽ nghĩ mình ngờ oan.

- Thôi đừng dối nữa, thiên thần kiều diễm của anh! - D Artagnan vừa nói vừa cười - Vô ích thôi.

- Sao thế được? Nói đi nào? Anh làm tôi chết mất!

- Ồ, em cứ yên tâm, em có tội gì với anh đâu, và anh cũng đã tha thứ cho em rồi?

- Rồi sao nữa? Sao nữa!

- De Wardes không thể hãnh diện về bất cứ điều gì.

- Tại sao? Chính mồm anh đã nói với tôi rằng cái nhẫn ấy...

- Cái nhẫn ấy, tình yêu của anh ơi, chính anh nhận được nó. Bá tước De Wardes hôm thứ năm và D Artagnan hôm nay chỉ là một thôi.

Anh chàng bất cẩn ấy vẫn ngỡ rằng nàng sẽ sửng sốt và thẹn thùng và sẽ có một cơn giông nhỏ diễn ra bằng nước mắt, nhưng chàng đã nhầm một cách lạ lùng, và sự nhầm lẫn ấy không kéo dài.

Tái người đi và dữ tợn, Milady vùng dậy, đẩy một cái thật mạnh vào ngực D Artagnan rồi lao ra khỏi giường.

Lúc này trời gần như đã sáng hẳn.

D Artagnan túm lấy vạt áo ngủ bằng loại toan mịn Ấn Độ để van xin nàng tha lỗi. Nhưng nàng giằng mạnh ra, kiên quyết cố chạy trốn. Thế là vải toan mịn toạc ra để lộ đôi vai trần và trên một trong đôi vai tròn và trắng muốt, D Artagnan ngớ hẳn người, nhận ra bông huệ, một dấu vết không thể tẩy xóa được mà bàn tay gia hình của đao phủ đã in lên đấy.

- Trời đất ơi! - D Artagnan vừa kêu lên vừa buông áo ngủ ra và chàng lặng đi, bất động và lạnh người trên giường.

Nhưng chính Milady cũng cảm thấy mình đã bị phát giác bởi chính ngay sự kinh hoàng của D Artagnan. Chắc chắn chàng đã nhìn thấy hết, giờ đây chàng trai trẻ đã biết hết bí mật của nàng, cái bí mật khủng khiếp mà tất cả mọi người đều không hay biết, trừ chàng.

Nàng quay phắt lại, không còn như một người đàn bà giận dữ nữa, mà như một con báo bị thương.

- Ôi, quân khốn nạn - Nàng nói - Mày đã phản bội tao một cách hèn hạ, đã thế mày lại còn nắm được bí mật của tao! Mày sẽ phải chết!

Và nàng chạy ngay tới một chiếc hộp khảm đặt trên bàn trang điểm, tay giận run bắn lên mở hộp rút ra một con dao găm nhỏ chuôi bằng vàng, lưỡi sắc và mỏng, nhảy chồm đến D Artagnan vẫn nửa trần truồng.

Cho dù chàng trai trẻ can trường, chàng vẫn hoảng hồn trước bộ mặt dữ tợn, đôi mắt long lên vô cùng khiếp sợ, hai má tái nhợt và đôi môi bật máu. Chàng lùi lại đến tận khe giường như chạy trốn một con rắn đang trườn về phía mình, rồi vơ lấy thanh gươm bằng bàn tay nhớp nhúa mồ hôi và rút gươm khỏi vỏ. Nhưng bất chấp thanh gươm, Milady cố nhảy lên giường để đâm chàng và nàng chỉ dừng lại khi thấy mũi gươm tì vào cổ họng mình.

Thế là bằng hai tay nàng cố đoạt lấy gươm. Nhưng D Artagnan luôn rút được gươm ra khỏi hai bàn tay ghì chặt ấy, và lúc thì dí mũi gươm vào mặt nàng, lúc vào ngực nàng, rồi trườn khỏi chiếc giường, tìm cách rút lui về phía cửa thông sang phòng Ketty.

Milady trong khi đó, nhẩy bổ vào chàng với những cơn cuồng nộ ghê rợn và gầm thét lên khủng khiếp.

Tuy nhiên việc đó giống như một trận quyết đấu, vì thế D Artagnan dần dần trấn tĩnh lại.

- Được lắm, người đẹp, được lắm! - Chàng nói - Nhưng mẹ kiếp, bình tĩnh lại đi, hoặc tôi sẽ rạch một bông huệ thứ hai trên đôi má xinh đẹp đấy.

- Đồ hạ lưu! Quân đê tiện! - Milady rít lên.

Nhưng D Artagnan vẫn vừa tìm cách đến gần cửa vừa chống đỡ.

Nghe tiếng động ầm ầm này lật đổ đồ đạc để vồ lấy chàng, còn chàng lại toàn nấp sau đồ đạc để tránh đòn, Ketty ra mở cửa. D Artagnan không ngừng xoay xở để lại gần chiếc cửa đó và lúc này chỉ còn cách ba bước chân. Thế là chàng lao thẳng từ phòng Milady sang phòng cô thị nữ và nhanh như chớp, chàng khép cửa và quay lưng chẹn cửa bằng cả sức nặng của cơ thể mình trong khi Ketty đẩy chốt cửa lại.

Thế là Milady liền cố lật nhào cái vòm cuốn cửa đang nhốt nàng trong phòng mình, với sức mạnh vượt xa sức mạnh của đàn bà, rồi khi cảm thấy không thể được, liền lấy dao găm đâm lỗ chỗ cánh cửa, một vài nhát xuyên qua gỗ.

Mỗi nhát lại kèm theo một lời nguyền rủa khủng khiếp.

- Nhanh, nhanh lên Ketty - D Artagnan nói khẽ khi chốt cửa đã đóng - giúp anh ra khỏi nhà đi. Nếu chúng ta để mụ có đủ thời gian để xoay xở, mụ sẽ sai bọn người hầu giết anh mất.

- Nhưng anh không thể trần truồng ra ngoài như thế - Ketty nói.

- Đúng vậy - D Artagnan nói, chỉ lúc này mới biết trên người mình đang mặc gì - Đúng vậy, em mặc cho anh thế nào thì mặc, và nhanh nhanh lên, em hiểu không, sống hay chết là ở lúc này đây!

Ketty thừa hiểu như vậy. Loáng một cái, cô mặc phát cho chàng một váy áo hoa, một mũ rộng vành và một áo khoác ngắn, cô cho chàng một đôi dép trong nhà chàng phải đi chân trần không tất, rồi cô dẫn chàng xuống các bậc thang. Đúng lúc đó, Milady đã rung chuông đánh thức toàn bộ người trong nhà.

Người gác cổng kéo dây thừng nâng cổng đúng lúc Milady cũng nửa trần truồng thò đầu qua cửa sổ kêu lên:

- Đừng mở!

Chương 38

Không mất công xoay xở, Athos vẫn có được quân trang.

Chàng trai trẻ trốn mất còn nàng vẫn giơ nắm đấm lăm dọa chàng một cách bất lực. Đến lúc không còn trông thấy chàng nữa, Milady ngã bất tỉnh trong phòng mình.

D Artagnan bối rối đến nước không còn lo lắng đến Ketty sẽ ra sao nữa, chàng vừa đi vừa chạy xuyên qua cả nửa Paris và chỉ dừng lại trước cửa nhà Athos. Hoang mang, sợ hãi, rồi thêm vào là tiếng thét của bọn lính tuần tra rượt đuổi, tiếng hò la của mấy người qua đường đi làm sớm càng khiến chàng chạy cuống cuông.

Chàng đi qua sân, lên hai tầng gác và đập đến vỡ cửa nhà Athos.

Grimaud mắt còn díp lại vì buồn ngủ ra mở cửa. D Artagnan lao vào phòng mạnh đến nỗi xô ngã cậu ta.

Mặc dầu hàng ngày vốn lầm lì, lần này anh chàng đáng thương cũng phải mở miệng:

- Ái chà chà? - Anh ta kêu toáng lên - Muốn gì đây, cô gái giang hồ? Đòi cái gì nào, đồ đĩ điếm?

D Artagnan kéo mũ và khăn trùm đầu lên, gỡ áo khoác ngắn ra, để lộ ria mép và gươm trần, anh chàng tội nghiệp mới nhận ra mình đang nói chuyện với một người đàn ông.

Thế là anh ta tưởng đó là một kẻ sát nhân liền kêu toáng lên:

- Cứu với! Cứu! Cứu!

- Cám đi, đồ khốn! - Chàng trai trẻ nói - Ta là D Artagnan, anh không nhận ra ta ư? Chủ anh đâu?

- Ông, ông là ông D Artagnan! - Grimaud vẫn kêu lên! - Không thể thế được.

- Grimaud! - Athos từ phòng mình ra, vẫn còn mặc áo ngủ nói - Tôi thấy anh quá lời rồi đó.

Athos nhận ra bạn mình. Xưa nay vốn rất phớt đời chàng vẫn phải phá lên cười trước lối giả trang kỳ quặc trước mắt mình, khăn mũ xiêu vẹo, váy thõng tận gót, tay xắn lên, râu ria dựng ngược vì xúc động.

- Đừng cười thế bạn tôi ạ - D Artagnan kêu lên - Trời ơi, đừng cười, tôi thề trước linh hồn tôi là không có gì đáng cười cả.

Và chàng thốt ra những câu ấy rất đỗi trang nghiêm và với một sự hoảng loạn thật sự khiến Athos phải nắm lấy hai tay chàng mà kêu lên:

- Cậu bị thương ư? Trông cậu xanh xao quá!

- Không, nhưng vừa xảy ra một sự cố kinh khủng với tôi. Có mỗi mình anh thôi đấy chứ, Athos?

- Mẹ kiếp, thế cậu muốn ai ở nhà tôi vào cái giờ này?

- Tốt, tốt rồi.

Và D Artagnan chạy bổ vào phòng Athos.

- Nào, nói đi! - Athos đóng cửa cài chết lại để khỏi bị quấy rầy - Nhà Vua bị chết? Cậu đã giết Giáo chủ ư? Cậu hoàn toàn rối trí rồi, nào, nói đi, tôi thực lo đến chết được đây.

- Athos này - D Artagnan vừa nói vừa cởi bỏ quần áo đàn bà và còn trơ chiếc áo lót - Anh hãy chuẩn bị mà nghe một chuyện không thể tưởng tượng nổi, chưa từng nghe thấy bao giờ nhé.

- Trước hết hãy khoác chiếc áo mặc trong nhà này vào đã.

D Artagnan choàng chiếc áo lên người, ống tay nọ nhầm ống tay kia, chưa hết xúc động.

- Sao nào? - Athos nói.

- Thế này? - D Artagnan cúi xuống ghé tai Athos hạ giọng nói - Milady bị đóng dấu bông huệ trên vai.

A! - Chàng ngự lâm quân thét lên như vừa bị một viên đạn bắn vào tim.

- Nào. - D Artagnan nói - anh có chắc con người kia đã chết thật rồi không?

- Người kia ư? - Athos nói bằng một giọng nghẹn lại đến nỗi D Artagnan chỉ hơi nghe rõ.

- Phải, người đàn bà mà một hôm anh đã nói với tôi ở Amiêng ấy.

Athos buông một tiếng rên rồi gục mặt vào hai bàn tay.

- Mụ này - D Artagnan tiếp tục - khoảng hai sáu đến hai tám tuổi.

- Tóc hung vàng - Athos nói - phải thế không?

- Phải.

- Đôi mắt xanh nhạt, ánh lên kỳ lạ, lông mi và lông mày đen?

- Đúng?

- Người cao, thân hình tuyệt đẹp? Mất một chiếc răng hàm gần hốc mắt trái.

- Đúng!

- Bông huệ nhỏ màu đỏ quạch và gần như bị xóa đi bởi những lớp kem trát lên đấy.

- Đúng.

- Nhưng cậu bảo mụ ta là đàn bà Anh?

- Người ta gọi mụ là Milady, nhưng có lẽ mụ là người Pháp. Mặc dầu vậy Huân tước De Winter chỉ là em chồng mụ.

- Tôi muốn nhìn thấy mụ, D Artagnan.

- Coi chừng, anh Athos, coi chừng. Anh đã từng muốn giết mụ, mụ là một con đàn bà sẽ trả miếng lại anh và không chừa anh đâu.

- Mụ sẽ không dám nói gì đâu, bởi như thế tức là tự vạch mặt.

- Mụ có thể làm tất cả! Anh đã bao giờ thấy mụ lên cơn điên giận chưa?

- Chưa! Athos nói.

- Một con hổ cái, một con báo cái! Ôi, anh Athos thân mến của tôi! Tôi rất sợ đã lôi kéo cả hai chúng ta vào một sự trả thù khủng khiếp.

D Artagnan liền kể lại hết: cơn giận dữ cuồng điên của Milady và những lời hăm dọa giết người của mụ.

- Cậu nói đúng và tôi xin thề trước linh hồn tôi, tôi lại đi đổi cả mạng sống của mình lấy một sợi tóc hay sao - Athos nói - May sao, ngày kia chúng ta sẽ đi khỏi Paris, rất có khả năng chúng ta sẽ đến La Rochelle và một khi đã đi khỏi.

- Mụ sẽ theo anh đến cùng trời cuối đất, Athos, mụ sẽ nhận ra anh. Vậy hãy để mụ căm hận riêng một mình tôi thôi.

- Ôi, bạn thân mến. Mụ có giết mình thì cũng có sao đâu! - Athos nói - Cậu đã thấy lúc nào mình lo cho mạng sống của mình chưa?

- Anh Athos này, có một cái gì đó bí ẩn khủng khiếp trong mọi chuyện này, tôi tin chắc mụ đàn bà này là con gián điệp của Giáo chủ.

- Nếu như vậy thì chính cậu phải coi chừng. Nếu Giáo chủ không hâm mộ lắm về vụ việc London của cậu, thì ông ta căm hận cậu lắm đấy. Nhưng rút cục vì không thể công khai trách phạt cậu điều gì, nên phải diễn ra chuyện căm hận, nhất là khi lại là mối căm hận của Giáo chủ, thì cậu hãy coi chừng! Nếu đi đâu ra ngoài, đừng ra ngoài một mình, nếu đi ăn, hãy phòng ngừa, rút cục phải nghi ngờ tất, ngay cả cái bóng của mình.

- May sao - D Artagnan nói - chỉ phải lo từ nay đến tối ngày kia không xảy ra chuyện gì, bởi vì một khi đã ở trong quân đội, tôi hy vọng chúng ta sẽ chỉ còn phải sợ đàn ông thôi.

- Trong khi chờ đợi - Athos nói - tôi sẽ từ bỏ việc cấm cung mà sẽ đi bất cứ đâu với cậu. Cậu nên về nhà, về phố Phu đào huyệt đi, mình sẽ đi cùng với cậu.

- Nhưng dù là đến đó rất gần thôi - D Artagnan nói - Tôi cũng không thể ăn mặc như thế này mà về được.

- Đúng vậy - Athos nói.

Và chàng rung chuông.

Grimaud bước vào.

- Athos ra hiệu hãy đến nhà D Artagnan và mang quần áo tới đây.

Grimaud cũng ra hiệu đã hiểu rồi đi ra. Athos bảo D Artagnan:

- Thế đó, chúng ta chẳng tiến thêm được bước nào trong việc lo sắm trang thiết bị, cậu ạ, bởi nếu tôi không lầm, cậu đã để lại tất cả quần áo của cậu ở nhà Milady rồi và chắc hẳn mụ ta sẽ chẳng để ý đến việc gửi trả lại cậu. May sao cậu còn có cái nhẫn saphia.

- Nhẫn saphia là của anh, Athos yêu quý? Anh chẳng bảo tôi đấy là cái nhẫn gia truyền ư?

- Phải, cha tôi đã mua nó với giá hai nghìn êquy vàng. Theo như ông đã nói với tôi trước kia(1), là khoản tặng vật ngày cưới cho mẹ tôi. Nó thật lộng lẫy. Mẹ tôi cho tôi, và tôi động rồ, tốt hơn phải giữ gìn như một thánh tích, lại đem cho con mụ khốn nạn ây.

- Vậy thì anh Athos thân mến, anh hãy cầm lại chiếc nhẫn, tôi hiểu anh cần phải giữ lấy nó.

- Tôi, cầm lại chiếc nhẫn, sau khi nó đã qua tay con đê tiện ấy ư! Không đời nào, chiếc nhẫn đã bị ô uế rồi, D Artagnan ạ.

- Vậy thì bán nó đi.

- Bán một báu vật vốn là của mẹ mình ư? Tôi phải thú thật với cậu tôi sẽ coi đó như một sự bất kính.

- Thế thì đem cầm vậy, họ sẽ cho vay may ra cũng trên một nghìn đồng êquy. Với số tiền đó, thừa sức mua sắm trang bị, rồi khi nào có tiền một cái là anh đem chuộc lại ngay, và nó đã qua tay bọn cho nặng lãi rồi, nên nó đã được tẩy sạch những vết nhơ, anh có thể giữ lấy.

Athos mỉm cười:

- Cậu đúng là một đồng đội quý hóa, D Artagnan thân mến ạ. Bằng tính tình vui tươi vĩnh viễn của mình cậu đã vực dậy những linh hồn tội nghiệp khỏi nỗi ưu sầu. Thôi được, ta đem cầm chiếc nhẫn nhưng với một điều kiện.

- Điều kiện gì?

- Là cậu năm trăm êquy và mình năm trăm.

- Anh lại nghĩ thế ư, Athos? Tôi không cần đến một phần tư số tiền đó, tôi ở trong quân cận vệ, bán bộ yên cương đi đã đủ rồi. Tôi còn cần gì nữa nào? Một con ngựa cho Planchet. Có thế thôi. Mà anh quên tôi cũng có một chiếc nhẫn ư?

- Tôi cho rằng cậu phải giữ chiếc nhẫn đó còn hơn là tôi giữ chiếc của tôi. Ít ra tôi cũng nhận ra điều đó.

- Phải, bởi trong tình thế cùng cực nó không những kéo chúng ta ra khỏi những lúng túng lớn mà còn cả mối nguy lớn nào đó nữa, đấy không phải chỉ là một đồ kim cương quý mà còn là một bùa hộ mệnh đầy phép mầu.

- Tôi không hiểu cậu định nói gì, nhưng tôi tin ở những gì cậu nói. Vậy hãy trở lại chuyện cái nhẫn của tôi, đúng hơn là của cậu. Hoặc là cậu nhận nửa số tiền, hoặc tôi ném nó xuống sông Xen và biết đâu, giống như Pôlycrát(2), lại có một con cá nào đó chiều người đem trả chúng ta.

- Thôi được, tôi nhận vậy! - D Artagnan nói.

Vừa lúc đó Grimaud trở về đem theo cả Planchet - Planchet lo cho chủ và tò mò muốn biết điều gì đã xảy ra, bèn lợi dụng tình thế, tự mình mang quần áo đến.

D Artagnan mặc quần áo vào, Athos cũng vậy. Rồi khi cả hai đã sẵn sàng đi ra, Athos ra hiệu cho Grimaud, có người đang nhằm bắn vào hắn, hắn liền tháo ngay khẩu súng trường xuống và chuẩn bị đi theo chủ.

Họ đến phố Phu đào huyệt mà không gặp phải tai họa gì.

Bonacieux đang đứng trước cửa, lão nhìn D Artagnan với vẻ chế nhạo và nói:

- Này, ông bạn thuê nhà thân mến, mau mau lên. Một cô gái xinh đẹp đang đợi trên nhà ông đó, và đàn bà, ông biết đấy, người ta không thích bắt phải đợi đâu?

- Chính là Ketty rồi! - D Artagnan kêu lên.

Và chàng lao vào lối đi.

Quả nhiên, trên bậc nghỉ trước phòng chàng, chàng thấy cô bé tội nghiệp tựa lưng vào cửa, người run bắn lên. Vừa trông thấy chàng cô đã nói:

- Ông hứa ông bảo vệ em, ông hứa ông cứu em khỏi cơn điên giận của bà ấy - Ông phải nhớ chính ông đã làm hại em chứ!

- Phải, hẳn vậy rồi - D Artagnan nói - Ketty, em bình tĩnh nào. Nhưng đã xảy ra chuyện gì khi anh đi?

- Em có biết gì đâu! - Ketty nói - Nghe tiếng bà ta gào thét, bọn người hầu chạy tới. Bà ta điên khùng giận dữ. Có bao nhiêu kiểu chửi rủa trên đời bà ta đều mửa lên đầu ông. Thế là em nghĩ bà ta sẽ nhô ra chính là qua phòng em mà ông đã lọt vào phòng bà ta, và khi đó bà ấy sẽ nghĩ em là kẻ đồng lõa với ông, em cầm lấy một ít tiền mình có, mấy bộ quần áo quý nhất rồi bỏ trốn.

- Em bé tội nghiệp? Nhưng anh sẽ làm gì cho em được đây. Ngày kia anh phải đi rồi.

- Làm thế nào tùy ông, ông hiệp sĩ. Giúp em đi khỏi Paris, khỏi nước Pháp cũng được.

- Song anh không thể mang em theo đến vây thành La Rochelle được.

- Không, nhưng ông có thể gửi em ở một bà nào quen biết ông ở tỉnh lẻ, ở quê ông chẳng hạn.

- Ồ cô bạn thân mến của tôi ơi! Ở quê tôi các bà không hề có hầu phòng. Nhưng, xem nào, ta có việc đây, Planchet, đi tìm Aramis cho ta, bảo ông ấy đến ngay lập tức. Chúng ta có một chuyện rất quan trọng cần nói với ông ấy.

- Tôi hiểu rồi - Athos nói - Nhưng tại sao lại không Porthos?

- Tôi thấy hình như nữ Hầu tước của cậu ta...

Nữ Hầu tước của Porthos đã có bạn học nghề ký lục giúp việc khăn áo rồi - D Artagnan vừa nói vừa cười - Hơn nữa, Ketty không muốn ở phố Lũ gấu đâu, phải không Ketty?

- Em ở đâu cũng được - Ketty nói - Miễn là em được giấu kín, không ai biết em ở đâu.

- Giờ đây, chúng ta sắp phải xa nhau, do đó em không còn ghen về tôi nữa...

- Ông hiệp sĩ, dù ở gần, ở xa - Ketty nói - em vẫn sẽ yêu ông.

Athos lầm bầm: "Còn có chỗ cóc khô nào để cho lòng kiên trinh đến làm tổ nữa đây?"

- Anh, cũng vậy, D Artagnan nói - Anh cũng vậy. Anh sẽ luôn yêu em, em cứ yên tâm. Nhưng xem nào, em hãy trả lời anh một câu hỏi rất quan trọng, đã bao giờ em nghe thấy nói về một thiếu phụ bị bắt cóc giữa ban đêm chưa?

- Đợi một chút đã... Ồ, Chúa ơi! Ông hiệp sĩ, ra ông vẫn còn yêu người đàn bà ấy ư?

- Không, đó là một người bạn của anh yêu bà ta. Chính là cái ông Athos kia kìa.

- Tôi ư! - Athos kêu lên như một người thấy mình sắp giẫm lên một con rắn nước.

- Chắc chắn là anh rồi! - D Artagnan vừa nói vừa bấm tay Athos - Em thừa biết là cả hai chúng tôi đều quan tâm đến cái bà Bonacieux bé nhỏ đáng thương ấy. Hơn nữa Ketty sẽ không nói ra đâu, phải không em, Ketty? Em hiểu không, em bé - D Artagnan tiếp tục - Đó là vợ của cái ông phỗng tởm lợm mà em thấy ở cửa khi vào đây ấy.

- Ôi Chúa ơi! - Ketty kêu lên - Ông nhắc đến làm em lại sợ, miễn là lão ta đừng nhận ra em?

- Sao, nhận ra em? Vậy ra em cũng đã từng gặp lão! Lão đến nhà bà Milady hai lần.

- Thế ư? Vào hồi nào?

- Chừng độ mười lăm, mười tám ngày gì đó.

- Đúng rồi.

- Và tối qua lão cũng đến.

- Tối qua ư?

- Vâng, một lúc trước khi ông đến ấy.

- Anh Athos thân mến, chúng ta bị vây trong một mạng lưới gián điệp rồi! Và em tin lão cũng nhận ra em, Ketty?

- Em đã kéo sụp khăn xuống trước mặt, nhưng có lẽ đã quá muộn.

- Anh Athos, anh xuống đi, anh ít bị nó nghi hơn tôi, anh xuống xem nó còn đứng ở cửa không.

Athos xuống rồi lại lên ngay.

- Nó đi rồi - Chàng nói - Cửa nhà đóng.

Nó đi báo cáo, rằng lúc này mấy con chim câu đang ở trong chuồng cả.

- Vậy thì, ta phải vù đi thôi - Athos nói -và chỉ để lại Planchet ở đây để báo tin cho chúng ta.

- Đợi đã! Thế còn Aramis đã.

Đúng lúc đó, Aramis bước vào.

Họ trình bày lại sự việc với Aramis và nói với chàng việc khẩn thiết thế nào để tìm được một chỗ cho Ketty trong số những người thân quen quyền quý.

Aramis nghĩ một lát và đỏ mặt:

- Việc đó thực sự giúp ích cho cậu chứ, D Artagnan?

- Tôi sẽ mang ơn suốt đời tôi.

- Vậy thế này? bà De Bois-Tracy có yêu cầu tôi tìm cho một bà bạn ở tỉnh lẻ một cô hầu phòng tin cẩn. Và nếu cậu có thể, D Artagnan thân mến, đảm bảo cô...

- Ồ thưa ông! - Ketty reo lên - Xin ông tin chắc, em sẽ hết lòng tận tụy với bà nào giúp em rời khỏi Paris.

- Ồ, - Aramis nói - Vậy thì càng tốt.

Chàng ngồi vào bàn viết vắn tắt mấy chữ rồi đóng dấu niêm phong bằng mặt nhẫn và đưa bức thư cho Ketty.

- Bây giờ, em bé - D Artagnan nói - em ở đây lúc nào cũng sẽ chẳng tốt đẹp gì cho bọn anh, cũng như cho em lúc ấy. Vậy chúng ta chia tay nhau thôi. Chúng ta sẽ gặp lại nhau trong những ngày tốt đẹp hơn.

- Và dù bao giờ, ở đâu, ta gặp lại nhau - Ketty nói - Ông cũng sẽ lại thấy em vẫn yêu ông như em yêu ông hôm nay.

- Lời thề của con bạc - Athos nói trong khi D Artagnan đưa Ketty xuống cầu thang.

Một lát sau, ba người bạn chia tay nhau và hẹn bốn giờ gặp nhau ở nhà Athos, để lại Planchet coi nhà.

Aramis trở về nhà còn Athos và D Artagnan đi lo cầm chiếc nhẫn saphia.

Như chàng Gascogne đã đoán trước, họ dễ dàng vay được ba trăm đồng pitxtôn vàng cho chiếc nhẫn đem cầm. Lão chủ Do Thái bảo nếu bán đứt lão sẽ trả năm trăm, vì chiếc nhẫn đem đánh thành tòng teng của hai hoa tai rất đẹp.

Athos và D Artagnan với tính năng động của hai người lính và sự hiểu biết của hai tay sành sỏi, chưa đến ba giờ đồng hồ đã mua xong toàn bộ đồ trang bị của ngự lâm quân.

Hơn nữa Athos vốn sinh trưởng nơi dòng dõi, và đại lãnh chúa đến tận đầu móng tay, nên mỗi khi vừa ý, chàng thường thường trả luôn theo giá nói mà không hề mặc cả. D Artagnan những muốn đưa ra nhận xét, nhưng Athos đã đặt tay lên vai chàng mỉm cười và D Artagnan hiểu rằng đối với một tiểu quý tộc người Gascogne như chàng thì mặc cả là cần thiết, nhưng với một người có dáng dấp một ông hoàng thì không.

Chàng ngự lâm quân tìm được một con ngựa tuyệt đẹp vùng Ăngđaludi sáu tuổi, đen tuyền, lỗ mũi như bốc lửa, chân nhỏ và bay bướm. Chàng quan sát kỹ và không thấy có một khuyết tật nhỏ nào. Người bán đòi một nghìn quan.

Trong khi D Artagnan đang tranh cãi về giá với tên lái ngựa, Athos đã đếm ngay một trăm pítxtôn (tương đương một nghìn quan hoặc livrơ) đặt lên bàn.

Grimaud được một con ngựa xứ Picácđi khỏe, mập giá ba trăm quan. Nhưng sau khi mua nốt yên cương cho con ngựa đó và vũ khí cho Grimaud, số một trăm năm mươi pitxtôn của Athos không còn lấy một xu.

D Artagnan ngỏ ý bảo bạn mình cắn một miếng nhỏ phần chia của chàng, sau này có sẽ trả. Nhưng Athos thay cho không trả lời chỉ nhún vai hỏi chàng:

- Lão Do Thái bảo sẽ trả bao nhiêu nếu bán đứt cho hắn cái nhẫn saphia?

- Năm trăm pitxtôn.

- Có nghĩa được thêm hai trăm pitxtôn, cậu một trăm, tôi một trăm. Ồ thế xem ra cũng là một tài sản thực sự rồi. Hãy quay lại thằng cha Do Thái thôi.

- Sao, anh muốn...

- Chiếc nhẫn đó, dứt khoát chỉ gợi cho tôi những kỷ niệm quá đau buồn. Rồi thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ có ba trăm để hoàn lại cho nó, thành thử chúng ta mất toi hai nghìn quan cho cái việc mua bán này. Đến bảo lão cái nhẫn là của lão đi, D Artagnan, và quay lại với hai trăm pitxtôn.

- Nghĩ lại đi, anh Athos.

- Đồng tiền lấy sớm là đồng tiền khôn. Và cũng cần biết hy sinh chứ.

- Thôi đi đi, D Artagnan, Grimaud sẽ mang súng đi cùng.

Nửa giờ sau, D Artagnan trở về với hai nghìn quan và không xảy ra chuyện gì.

Athos đã tìm được nguồn tiền mà chàng không tính đến, cho việc sắm sửa của mình như thế đó.

Chương 39

Ảo ảnh.

Lúc bốn giờ, bốn người bạn lại tụ tập ở nhà Athos. Những băn khoăn lo lắng của họ về việc mua sắm quân trang đã hoàn toàn biến mất. Trên khuôn mặt mỗi người chỉ còn lại những nét ưu tư thầm kín riêng tư nữa mà thôi, vì đằng sau mọi hạnh phục hiện thời lại ẩn giấu một nỗi lo sẽ tới.

Bất thình lình Planchet bước vào mang theo hai bức thư gửi cho D Artagnan.

Một bức là một thư ngắn gấp rất lịch sự theo chiều dài với dấu xi màu xanh in một con bồ câu ngậm một nhánh cỏ xanh.

Bức kia là một tờ giấy vuông rất to và chói lòa những huy hiệu khủng khiếp của Đức ông Giáo chủ Quận công.

Vừa nhìn thấy bức thư nhỏ trái tim D Artagnan đã nhảy lên bởi chàng đã nhận ra nét chữ, và cho dù mới chỉ được nhìn nét chữ ấy có một lần, nó vẫn còn được ghi nhớ tận đáy lòng đấy.

Chàng cầm lấy bức thư nhỏ, bóc ngay ra đọc:

"Thứ tư tới, ông hãy đi dạo từ sáu đến bảy giờ tối, trên đưòng Sayô, và chú ý nhìn vào những xe ngựa bốn bánh đi qua nhưng nếu ông quan tâm đến tính mạng của mình và đến tính mạng của những con người yêu ông, thì đừng nói một câu, đừng làm một hành động gì để có thể làm người ta tin rằng ông đã nhận ra người đang dám hứng chịu mọi điều để được nhìn thấy ông một lát".

Không ký tên.

Một cái bẫy đấy - Athos nói - Đừng đi, D Artagnan.

- Thế nhưng hình như tôi nhận ra nét chữ.

- Có thể là giả mạo thôi - Athos nói tiếp - Vào lúc sáu bảy giờ, lúc đó đường Sayô vắng ngắt, chả khác gì cậu đi dạo ở rừng Bôngđy.

- Nhưng nếu đi tất cả chúng ta? - D Artagnan nói - Mẹ kiếp!

- Chả lẽ chúng ăn tươi nuốt sống được cả bốn chúng ta, lại còn bốn người hầu, rồi ngựa, rồi vũ khí nữa?

- Mà cũng sẽ là dịp để cho biết quân trang của ta chứ - Porthos nói.

- Nhưng nếu đúng là một người đàn bà viết - Athos nói - và người đàn bà ấy lại không muốn bị nhìn thấy, thử nghĩ xem như vậy có phải là làm hại người ta không, D Artagnan, cái đó không xứng với tư cách một nhà quý tộc.

- Thì chúng ta sẽ đứng ở phía sau, một mình D Artagnan tiến lên trước.

- Nhưng nhỡ một phát súng ngắn sẽ bắn ra từ một eỗ xe phi nước đại phóng qua.

- Ồ, - D Artagnan nói - Bắn trúng thế nào được tôi, và chúng ta sẽ đuổi kịp chiếc xe, sẽ giết sạch những đứa trong xe. Như thế lại càng bớt đi kẻ thù.

- Cậu ấy nói đúng đấy - Porthos nói - Đánh nhau thôi! Ta thử vũ khí một thể.

- Ờ thì vui vẻ một chút vậy? - Aramis nhẹ nhàng và uể oải nói.

- Tùy các cậu thôi - Athos nói.

- Thưa các vị - D Artagnan nói - Bây giờ là bốn giờ rưỡi. Chúng ta còn kịp vào lúc sáu giờ đã ở trên đường Sayô.

- Mà, nếu chúng ta ra đấy muộn quá, họ sẽ không gặp chúng ta, thế thì tiếc lắm. Vậy chuẩn bị đi là vừa.

- Nhưng còn bức thư thứ hai - Athos nói - cậu quên rồi à, tôi thấy hình như dấu xi cũng tỏ ra đáng bóc ra xem rồi. Còn như tôi, D Artagnan thân mến ạ, tôi tuyên bố với cậu là mình quan tâm đến nó hơn là mẩu giấy lăng nhăng cậu vừa luồn nhẹ vào ngực cậu đấy.

D Artagnan đỏ mặt nói:

- Thôi được. Để xem Đức ông muốn gì ở tôi nào.

Rồi bóc thư đọc:

"Ông D Artagnan, vệ binh của nhà Vua, thuộc đại đội ông des Essarts, có mặt tại dinh Đức Giáo chủ lúc tám giờ.

La Hudnie

Đại úy cận vệ.

- Mẹ kiếp! - Athos nói - Một cuộc hẹn đáng gờm khác hẳn cuộc hẹn kia.

- Xong cuộc hẹn kia, tôi sẽ đến cuộc hẹn này - D Artagnan nói - Một cuộc lúc bảy giờ. Một cuộc lúc tám giờ. Vẫn đủ thì giờ để đến cả hai.

- Hừm! Tôi thì tôi không đi đâu - Aramis nói - Một kỵ sĩ hào hoa không thể để lỡ hẹn với một người đàn bà. Nhưng một nhà quý tộc thận trọng có thể cáo lỗi để khỏi đến gặp Đức ông, nhất là khi lại có lý do nào đấy để tin là không phải đến để được ban khen.

- Tôi tán thành ý kiến của Aramis - Porthos nói.

D Artagnan trả lời:

- Thưa các vị, tôi đã nhận được lời mời tương tự của Đức ông do ông De Cavoa chuyển đến, tôi đã phớt lờ và hôm sau tôi gặp ngay một đại bất hạnh! Nàng Constance biến mất. Muốn ra sao thì ra, tôi cũng cứ đến.

- Đã nhất định như thế - Athos nói - thì cứ đi.

- Nhưng còn ngục Bastille? - Athos nói.

- Thế ư? Thế thì các anh sẽ lôi tôi ra.

- Chắc chắn rồi - Aramis và Porthos cùng trả lời thẳng băng như thể không có gì đơn giản hơn thế - Chắc chắn là chúng mình phải lôi cậu ra rồi. Nhưng, trong khi chờ đợi, vì ngày kia chúng ta phải đi rồi, tốt nhất cậu đừng có đùa với ngục Bastille đó.

- Ta làm thế này tốt hơn - Athos nói - Không rời khỏi cậu ấy tối nay. Mỗi người đợi cậu ấy ở một cửa lâu đài kèm thêm ba lính ngự lâm đằng sau nữa. Nếu ta thấy một chiếc xe nào đi ra mà cửa xe đóng hoặc đáng ngờ, là ta nhẩy bổ lên. Mà cũng đã lâu rồi ta không kiếm cớ sinh sự với bọn cận vệ của Giáo chủ, ông De Treville lại tưởng chúng ta chết cả rồi.

- Dứt khoát Athos sinh ra là để làm đại tướng rồi - Aramis nói - Các vị thấy kế hoạch ấy thế nào?

- Tuyệt vời! - Tất cả đều đồng thanh hô lên.

- Vậy thì! - Porthos nói - Tôi chạy về dinh trại, báo cho các bạn tôi chuẩn bị sẵn sàng vào lúc tám giờ cho cuộc hẹn sẽ diễn ra ở quảng trường Lâu đài Giáo chủ, còn các anh, bảo bọn người hầu gióng yên cương đi.

- Nhưng tôi, tôi không có ngựa - D Artagnan nói - Tôi sẽ mượn một con ở chỗ ông De Treville vậy.

- Không cần thiết - Aramis nói - Cậu lấy một con ở chỗ tôi.

- Vậy anh có những bao nhiêu đấy - D Artagnan hỏi.

- Ba con - Aramis mỉm cười trả lời.

- Bạn thân mến, Athos nói - thế thì cậu chắc chắn là nhà thơ cao giá nhất nước Pháp và xứ Nava rồi. Nghe đây, Aramis thân mến, cậu không biết làm gì với những ba con ngựa, có phải không? Thế thì tôi không hiểu sao cậu lại đi mua những ba con.

- Không, con thứ ba mới được dắt đến cho tôi do một gia nhân không mặc quần áo hầu cũng không muốn nói mình là người của ai, mà chỉ khẳng định là tuân lệnh của ông chủ...

- Ông chủ hay bà chủ - D Artagnan ngắt lời.

- Chuyện đó không quan trọng - Aramis đỏ mặt lên - Và khẳng định với tôi, tôi muốn nói, tuân lệnh của bà chủ buộc con ngựa đó vào chuồng ngựa của tôi, không được nói nó từ đâu đến.

- Chỉ đối với những nhà thơ, mới có được những chuyện đó! - Athos nghiêm trang nói.

- Thôi được, trường trường hợp ấy, D Artagnan nói - Anh sẽ cưỡi con nào, con anh mua hay con người ta tặng?

- Tất nhiên con người ta tặng rồi. Cậu hiểu chứ, tôi không thể làm cái chuyện vô sỉ ấy...

- Với người trao tặng xa lạ - D Artagnan nói tiếp.

- Hay người đàn bà trao tặng bí ẩn - Athos nói.

- Vậy con anh đã mua trở nên không cần thiết?

- Gần như thế.

- Và tự anh chọn lấy?

- Một cách cẩn thận nhất. Cậu biết đấy, sự an toàn của một kỵ sĩ hầu như luôn phụ thuộc vào con ngựa của mình.

- Vậy thì, anh hãy để lại cho tôi với giá anh mua?

- Tôi đang định tặng cậu, D Artagnan thân mến ạ, chuyện vặt, bao giờ cậu trả tôi thì trả.

- Anh mua giá bao nhiêu?

- Tám trăm quan.

- Vậy đây là bốn mươi đồng pitxtôn đôi bạn thân mến - D Artagnan vừa nói vừa lấy tiền trong túi ra - Tôi biết tiền này là tiền trả cho thơ của anh.

- Cậu giàu gớm nhỉ? - Aramis nói.

- Giàu, đại phú ấy chứ!

- Và D Artagnan lắc số pitxtôn còn lại xủng xoảng trong túi.

- Sai đem bộ yên của cậu đến dinh trại Ngự lâm quân, rồi đưa ngay ngựa của cậu về đây.

- Tốt lắm. Nhưng sắp năm giờ rồi. Ta mau lên thôi.

Mười lăm phút sau, Porthos hiện ra ở đầu phố Fréjus trên con ngựa nòi Tây Ban Nha cực đẹp. Mousqueton theo sau trên con ngựa vùng Ôvécnhơ, nhỏ nhưng rất đẹp, Porthos rạng rõ mềm vui và kiêu hãnh.

Đồng thời Aramis cũng hiện ra ở đầu phố đằng kia, trên một con thiên lý mã Anh quốc tuyệt đẹp. Bazin theo sau trên con ngựa đốm dắt theo một con ngựa Mếchklembua Đức vạm vỡ, chính là con của D Artagnan.

Hai chàng ngự lâm gặp nhau ở cửa nhà Athos và D Artagnan qua cửa sổ đang nhìn họ.

- Quỷ thật! - Aramis nói - Porthos thân mến, cậu có con ngựa thật lộng lẫy.

Porthos trả lời:

- Ử nó chính là con ngựa người ta phải gửi cho mình ngay lúc đầu. Lão chồng giở trò đểu thay nó bằng con khác, nhưng lão ta đã bị trừng phạt và mình đã hoàn toàn toại nguyện.

Planchet và Grimaud cũng lần lượt xuất hiện, tay dắt ngựa của chủ, D Artagnan và Athos đi xuống, nhảy lên yên, đến gần các đồng đội, rồi cả bốn cùng lên đường. Athos trên lưng ngựa nhờ nhẫn của vợ, Aramis trên con ngựa người tình trao, Porthos, ngựa lấy của bà biện lý, và D Artagnan trên con ngựa có được nhờ vận may của người tình coi là tốt nhất.

Những người hầu đi theo.

Như Porthos đã nghĩ, cuộc diễu hành người ngựa có hiệu quả tốt. Và nếu bà Coquenard gặp Porthos đường bệ trên con tuấn mã Tây Ban Nha, có nhẽ bà ta sẽ không tiếc việc bà ta đã làm rỉ máu chiếc két sắt của chồng mình.

Đến gần điện Louvre, bốn người bạn gặp ông De Treville, từ cửa ô Saint Jean Germain trở về. Ông ngăn họ lại để chúc mừng việc sắm sửa quân trang của họ. Một lát thôi, đã có hàng trăm kẻ vô công rồi nghề xúm lại quanh họ.

D Artagnan nhân dịp này nói với ông De Treville về bức thư có dấu niêm phong đỏ lớn và có gia huy tước công. Tất nhiên về bức thư kia, chàng không hé một lời.

Ông De Treville tán thành quyết định của chàng và bảo đảm với chàng, nếu ngày mai không thấy chàng trở về ông sẽ có cách, tìm chàng dù bất kỳ chàng ở đâu.

Đúng lúc đó, đồng hồ nhà thờ Samaritain điểm sáu giờ, bốn người bạn vin cớ có cuộc hẹn, cáo lui ông De Treville.

Phi ngựa một lúc họ đã ở trên con đường Sayô. Trời bắt đầu tà, xe cộ đi qua đi lại, D Artagnan giữ khoảng cách với các bạn vài bước, phóng mắt nhìn sâu vào trong các cỗ xe, chẳng thấy một khuôn mặt quen thuộc nào cả.

Cuối cùng, sau mười lăm phút chờ đợi, và hoàng hôn đã buông xuống hoàn toàn, một chiếc xe hiện ra từ đường Sevre phi nước đại đến. Một dự cảm báo trước cho D Artagnan rằng chiếc xe đó có người đã hẹn chàng. Chàng trai trẻ hết sức ngạc nhiên khi cảm thấy tim mình đập mạnh đến thế. Hầu như ngay tức thì, đầu một người đàn bà thò ra khỏi cửa xe, hai ngón tay đưa lên miệng như thể dặn dò hãy lặng im hoặc như để gửi một cái hôn, D Artagnan khẽ kêu lên một tiếng vui mừng, người đàn bà đó, hay đúng hơn là sự hiện diện đó, bởi chiếc xe vút qua quá nhanh như một ảo ảnh, đó là bà Bonacieux.

D Artagnan nhớ lại lời dặn dò đó: "Nếu ông quan tâm đến mạng sống của ông và của những người yêu ông, ông hãy lặng im như thể ông không trông thấy cái gì hết".

Chàng dừng lại, run lên không phải vì mình mà là vì người đàn bà rõ ràng dám xả thân trong hiểm họa lớn lao để trao cho chàng cuộc hẹn hò này.

Chiếc xe tiếp tục đường đi của nó với hết tốc lực về phía Paris và biến mất.

D Artagnan vẫn đứng đó, ngớ ra, và không biết nghĩ thế nào nữa. Nếu đó đúng là bà Bonacieux và nếu nàng trở về Paris thật, tại sao lại là cuộc hẹn hò trốn tránh, tại sao lại chỉ là một sự trao đổi đơn thuần trong ánh mắt, tại sao chỉ chiếc hôn gió mà thôi? Mặt khác, nếu không phải là nàng, mà có thể thế lắm chứ, vì trời không còn sáng mấy làm cho rất dễ nhìn nhầm, nếu không phải là nàng, chẳng phải đây là sự bắt đầu một thủ đoạn dựng lên chống lại chàng bằng cái mồi là người đàn bà mà người ta biết chàng yêu hay sao?

Ba người bạn lại gần chàng. Cả ba hoàn toàn trông thấy đầu người đàn bà hiện ra ở cửa xe, nhưng không ai trong họ, trừ Athos, quen biết bà Bonacieux. Ý kiến của Athos, thì đúng là nàng nhưng chàng ít quan tâm hơn D Artagnan đến bộ mặt xinh đẹp đó mà còn tin là đã nhìn thấy một cái đầu thứ hai, đầu đàn ông ở tít mãi trong xe.

- Nếu là như vậy - D Artagnan nói - chắc là chúng chuyển nàng từ nhà tù này sang nhà tù khác. Nhưng chúng định làm gì con người đáng thương ấy, và làm thế nào để tôi gặp lại được nàng đây?

- Cậu bạn này - Athos nghiêm trang nói - Hãy nhớ chỉ có người chết mới không gặp được ở trên đời thôi. Cậu cũng biết ít nhiều về chuyện đó như tôi, có phải không? Mà nếu người tình của cậu không chết, nếu nàng chính là người mà chúng ta vừa nhìn thấy thì ngày một ngày hai cậu sẽ tìm lại được nàng. Và có lẽ Chúa ơi - chàng nói tiếp với cái giọng chán đời riêng có ở chàng - có lẽ còn gặp sớm hơn là cậu muốn cũng nên.

Đồng hồ điểm bẩy giờ rưỡi, chiếc xe đến chậm hai mươi phút. Các bạn nhắc D Artagnan, chàng còn có một cuộc thăm viếng nữa, đồng thời lưu ý chàng vẫn còn thì giờ để hủy bỏ.

Nhưng D Artagnan vứa bướng bỉnh vừa tò mò. Chàng nghĩ nhất định mình sẽ đến Lâu đài Giáo chủ và chàng sẽ biết được Đức ông muốn nói gì với mình. Vậy nên không gì có thể làm chàng thay đổi được quyết định của mình.

Đến phố Thánh Ônôrrê và quảng trường Lâu đài Giáo chủ, cả mười hai người lính ngự lâm được mời đến đang dạo quanh chờ đồng bạn. Chỉ tới đây, họ mới giải thích cho những người này vấn đề là chuyện gì.

D Artagnan được biết đến rất nhiều trong đơn vị ngự lâm được trọng vọng của nhà Vua, và họ đều biết sẽ có ngày chàng đứng vào hàng ngũ đó. Họ đã coi chàng như một đồng đội trước rồi. Từ những tiền lệ ấy, ai nấy đều nhiệt tình nhận nhiệm vụ mình được mời làm, hơn nữa, rất có thể, được dịp trả đũa Giáo chủ và bọn người của ông ta một vố, và đối với những việc chinh chiến như thế, các nhà quý tộc uy tín ấy bao giờ cũng sẵn sàng.

Athos chia họ làm ba nhóm, chàng chỉ huy một nhóm, nhóm thứ hai giao cho Aramis và nhóm thứ ba cho Porthos rồi mỗi nhóm phục kích ở trước một lối ra.

D Artagnan về phần mình hiên ngang đi vào qua cổng chính.

Cho dù cảm thấy được yểm trợ mạnh mẽ, chàng không phải không lo lắng khi leo từng bước lên cầu thang lớn. Việc chàng đối xử với Milady ít nhiều giống như một sự phản bội, và chàng ngờ có những mối quan hệ chính trị giữa người đàn bà đó với Giáo chủ. Thêm nữa, De Wardes, người mà chàng suýt giết chết lại là một trong số người trung thành với Đức ông, và D Artagnan biết nếu như Đức ông tàn bạo với kẻ thù, thì với bạn bè, ông lại rất gắn bó.

D Artagnan lắc đầu tự nhủ: "Nếu De Wardes đã kể hết mọi việc của bọn ta với Giáo chủ, mà chắc là như thế, và nếu Giáo chủ nhận ra, có thể như thế lắm, ta phải coi mình gần như một kẻ đã bị tuyên án. Nhưng tại sao ông ta lại chờ đến tận hôm nay? Hoàn toàn đơn giản thôi, Milady chắc đã khiếu nại chống ta, làm bộ vô cùng đau khổ khiến càng thêm dễ thương. Và thế là cái tội cuối cùng này chắc sẽ làm tràn bình nước.

May thay, chàng nghĩ thêm, những bạn tốt của ta đều ở dưới kia. Họ sẽ không để chúng mang ta đi mà không bảo vệ ta. Tuy nhiên đại đội ngự lâm quân của ông De Treville không thể tự mình gây chiến với Giáo chủ, kẻ bố trí lực lượng của toàn nước Pháp, và đứng trước ông ta, Hoàng hậu thì bất lực, và nhà Vua cũng không đủ quyết tâm. D Artagnan, này anh bạn, cậu can trường, cậu có những phẩm tính ưu việt, nhưng đàn bà sẽ làm cậu nguy khốn!"

Chàng đi đến kết luận đáng buồn ấy, khi bước vào tiền sảnh.

Chàng trao bức thư của mình cho nha môn, người này dẫn chàng vào phòng đợi, rồi vào sâu mãi phía trong.

Trong phòng đợi, có năm hoặc sáu vệ binh của Giáo chủ, và đều nhận ra D Artagnan và biết chính là chàng đã làm bị thương De Jussac, nhìn chàng bằng một nụ cười đặc biệt.

Nụ cười đó có vẻ là một điềm gở. Có điều, chàng Gascogne không phải dễ bị dọa nạt, hoặc đúng hơn nhờ lòng kiêu hãnh lớn bẩm sịnh của dân xứ ấy, chàng không dễ để nhận ra những gì đang diễn ra trong tâm hồn mình, khi mà cái điều đang diễn ra ấy giống như một sự sợ hãi. Chàng hiên ngang đứng trụ, tay chống nạnh, thái độ không thiếu vẻ đường bệ.

Viên nha môn quay lại và ra hiệu cho D Artagnan đi theo hắn. Chàng thấy hình như khi nhìn chàng đi khỏi, bọn cận vệ xì xào gì với nhau.

Chàng đi theo một hành lang, xuyên qua một phòng khách vào một thư viện và thấy trước mặt là một người ngồi trước một bàn giấy và đang viết.

Viên nha môn dẫn chàng vào rồi rút lui không nói một câu.

D Artagnan vẫn đứng và quan sát người kia.

Lúc đầu, D Artagnan cứ tưởng mình có việc với một nhân viên thẩm phán nào đó đang nghiên cứu hồ sơ của mình, nhưng chàng thấy người ngồi bàn giấy viết hoặc đúng hơn là đang chữa những câu dài ngắn khác nhau, vừa ngắt nhịp các từ theo các ngón tay. Chàng thấy mình đang đứng trước mặt một nhà thơ.

Một lát sau, nhà thơ gấp lại bản thảo trong một bìa ngoài có đề "Miaram, bi kịch năm hồi" và ngẩng đầu lên.

D Artagnan nhận ra là Giáo chủ.

Chương 40

Một ảo ảnh khủng khiếp.

Giáo chủ chống khuỷu tay lên bản thảo, tỳ tay lên má, và nhìn chàng trai trẻ một lát. Không ai có cái nhìn soi mói sâu hút như Giáo chủ Richelieu và D Artagnan bị cái nhìn ấy chạy dọc mạch máu mình như một cơn sốt.

Tuy nhiên chàng vẫn giữ được bình tĩnh, tay cầm mũ, và chờ đợi thái độ dễ chịu hơn của Giáo chủ, không quá kiêu hãnh mà không quá khúm núm.

- Ông kia, - Giáo chủ bảo chàng - Ông có phải D Artagnan xứ Bearn không?

- Vâng, thưa Đức ông.

- Có nhiều chi họ D Artagnan ở Tácbơ và ở vùng phụ cận - Giáo chủ nói - Ông thuộc chi nào?

- Tôi là con trai người đã từng tham gia chiến tranh tôn giáo với Đại đế Henri, phụ thân của Hoàng thượng.

- Đúng là như thế. Chính ông, khoảng bảy tám tháng trước đây đã từ xứ xở mình ra đi, để tìm vận may trong kinh thành?

- Vâng, thưa Đức ông.

- Ông đi qua Măng đến, ở đấy ông đã gặp một chuyện gì đó, tôi không nhớ lắm, nhưng rút cục là một chuyện gì đấy.

- Thưa Đức ông - D Artagnan nói - Chuyện xảy ra với tôi là như thế này...

- Không cần thiết, không cần thiết - Giáo chủ đáp lại với một nụ cười tỏ ra ông đã biết hết chuyện chẳng kém gì người định kể cho ông nghe - Ông đã được tiến cử với ông De Treville, phải không?

- Vâng, thưa Đức ông, nhưng đúng ra, trong vụ việc lôi thôi ở Măng...

- Bức thư đã bị mất - Đức ông tiếp - phải, ta biết việc đó.

- Nhưng ông De Treville là một nhà tướng diện học có tài nhìn qua người là đã biết ngay, và ông ấy đã xếp ông vào đại đội em vợ ông ấy, ông des Essarts, để ông hy vọng ngày một ngày hai ông sẽ vào được ngự lâm quân.

- Đức ông biết hết mọi chuyện - D Artagnan nói.

- Từ buổi đó, đã xảy ra với ông nhiều chuyện. Một hôm ông đã đi dạo sau dãy Sáctrơ(1) mà giá như ông ở chỗ khác thì tốt hơn. Rồi ông đã cùng các bạn ông du hành đến suối nóng Foócgiơ. Các bạn ông bị dừng lại ở dọc đường. Nhưng ông, ông đã tiếp tục chuyến đi. Thật hoàn toàn đơn giản, ông có công việc ở Anh quốc.

- Thưa Đức ông - D Artagnan lặng người đi -Tôi đi...

- Đi săn, ở Uynxơ hay đâu đó, điều đó cũng chẳng quan hệ gì. Ta biết chuyện đó, ta, bởi ở cương vị ta, ta phải biết hết. Lúc trở về, ông đã nhận được từ một nhân vật chí tôn và ta rất thú vị khi thấy ông vẫn giữ được cái kỷ niệm mà người ấy đã ban tặng.

D Artagnan lấy tay che cái nhẫn kim cương nhận được của Hoàng hậu và vội xoay mặt nhẫn vào trong nhưng đã quá muộn.

- Sau hôm đó, ông Cavoa có tới thăm ông - Giáo chủ nói tiếp - Ông ấy định yêu cầu ông đến dinh phủ. Ông đã không đáp lại, và ông đã sai lầm.

- Thưa Đức ông, tôi sợ chuốc lấy sự ghét bỏ của Đức ông.

- Ồ! Sao thế được? Vì đã tuân theo mệnh lệnh của cấp trên, với trí thông minh và lòng dũng cảm mà người khác không có nổi lại chuốc lấy sự ghét bỏ trong khi ông xứng đáng được ngợi khen ư? Chỉ có những kẻ không tuân lệnh, ta mới trừng phạt chứ không phải những người như ông rất mực... tuân lệnh - và bằng chứng, đấy, ông hãy nhớ lại cái ngày ta cho gọi ông đến gặp ta, và ông hãy tìm xem trong trí nhớ của ông điều gì đã xảy ra ngay tối hôm đó.

Đó chính là tối bà Bonacieux bị bắt cóc, D Artagnan rùng mình và chàng nhớ lại nửa giờ trước đây, người đàn bà đáng thương còn diễu qua trước mắt chàng, và còn bị mang đi vẫn do cùng một thế lực đã bắt cóc nàng.

Giáo chủ nói tiếp:

- Cuối cùng, vì ta không nghe thấy nói về ông ít lâu nay, ta muốn biết ông đang làm chuyện gì. Vả lại ông còn phải cảm tạ ta ấy chứ, tự ông, ông cũng nhận ra ông đã nhúng tay vào bao nhiêu chuyện.

D Artagnan nghiêng mình kính cẩn.

Giáo chủ lại nói tiếp:

- Điều đó xuất phát không chỉ từ một tình cảm về sự công bằng tự nhiên mà còn từ một kế hoạch ta vạch ra liên quan đến ông.

D Artagnan mỗi lúc thêm ngạc nhiên.

- Ta định giải thích kế hoạch đó với ông từ hôm mà ông được mời đến lần đầu kia, nhưng ông không đến. May sao không có gì thiệt hại về sự chậm trễ đó, và hôm nay ông đã đến nghe. Ngồi xuống đi, trước mặt ta, ông D Artagnan. Ông là một nhà quý tộc tốt không đáng để phải đứng nghe ta nói.

Và Giáo chủ chỉ một chiếc ghế tựa cho chàng trai trẻ đang quá đỗi ngạc nhiên trước những gì vừa diễn ra đến nỗi phải chờ người đang cật vấn mình ra hiệu lần thứ hai mới dám ngồi.

- Ông can trường, ông D Artagnan ạ - Đức ông tiếp tục - Ông lại thận trọng, đáng quý lắm. Ta thích những con người có đầu óc và tâm huyết. Đừng sợ - Giáo chủ cười nói - Những người tâm huyết, ta nghĩ đó là những người dũng cảm. Nhưng tí tuổi như ông, và vừa mới bước vào đời mà đã có những kẻ thù hùng mạnh, nếu ông không cẩn thận, họ sẽ cho ông toi đời

- Than ôi, thưa Đức ông? - Chàng trai trả lời - việc đó chắc hẳn quá dễ thôi, bởi vì họ mạnh lại có chỗ dựa tốt, còn như tôi, tôi chỉ đơn độc một mình!

- Phải, đúng thế. Nhưng đơn độc như ông, ông đã làm được rất nhiều, và ta tin chắc sẽ còn làm được nhiều nữa. Tuy nhiên, ta tin rằng ông cần được dìu dắt trong nghề nghiệp phiêu lưu mà ông dốc tâm theo đuổi, bởi nếu ta không nhầm, ông đến Paris với tham vọng lập nghiệp.

- Thưa Đức ông, tôi đang ở tuổi có những cuồng vọng - D Artagnan nói.

- Này ông, chỉ có những thằng ngu mới có những cuồng vọng, còn ông là một người có trí tuệ. Xem nào, ông nói sao về chức thiếu úy trong đội cận vệ của ta, và về một đại đội sau khi kết thúc chiến dịch.

- Ôi, thưa Đức ông!

- Ông nhận chứ phải không nào?

- Thưa đức ông... - D Artagnan nhắc lại bối rối.

- Sao, ông từ chối à? - Giáo chủ kêu lên kinh ngạc.

- Tôi đã ở trong đội cận vệ của Hoàng thượng, thưa Đức ông, và tôi không có lý do gì để không bằng lòng.

- Nhưng hình như - Đức ông nói - cận vệ của ta cũng là cận vệ Hoàng thượng, và miễn là phục vụ trong một đơn vị quân Pháp, tức là phục vụ nhà Vua.

- Thưa Đức ông, Đức ông hiểu lầm tôi nói rồi.

- Ông muốn tìm một cớ để thoái thác chứ gì? Ta hiểu. Thế thì, cái cớ ấy, ông có rồi đấy. Chiến dịch mở, sự thăng chức, cơ hội ta dành cho ông, thế là đủ với mọi người. Đối với ông, nhu cầu được bảo hộ chắc chắn, bởi vì tốt nhất ông nên biết, ông D Artagnan ạ, ta nhận được những khiếu nại nghiêm trọng chống lại ông rằng ông không ngày đêm dốc lòng phụng sự Đức Vua đâu.

D Artagnan đỏ mặt.

- Hơn nữa - Giáo chủ, vừa nói tiếp, vừa để tay lên một tập giấy tờ - Ta có đây cả một tập hồ sơ liên quan đến ông, nhưng trước khi đọc nó, ta muốn nói chuyện với ông đã. Ta biết ông là một con người quyết đoán và những việc phục vụ của ông nếu được điều khiển tốt, đáng lẽ dẫn ông đến sự tồi tệ, lại có thể đem lại nhiều thứ cho ông. Nào suy nghĩ và quyết định đi.

- Thưa Đức ông, lòng nhân từ của Đức ông làm tôi bối rối - D Artagnan trả lời - và tôi nhận thấy trong Đức ông một tâm hồn cao cả khiến tôi cảm thấy mình càng nhỏ bé như loài giun dế. Nhưng chung quy một khi Đức ông cho phép tôi được nói thẳng - D Artagnan dừng lại.

- Được, nói đi.

- Vậy thì, tôi sẽ nói với Đức ông rằng tất cả các bạn tôi đều ở ngự lâm quân và cận vệ của nhà Vua, còn những kẻ thù của tôi, do định mệnh không thể lý giải nổi, đều là người của Đức ông, vì vậy nếu tôi nhận đặc ân Đức ông ban cho tôi thì tôi sẽ bị bên này khinh thường và bên kia tẩy chay.

- Có nhẽ ông đã có cái ý nghĩ kiêu căng là ta không đãi ông cho xứng với ông chăng? - Giáo chủ hỏi với nụ cười miệt thị.

- Thưa Đức ông, Đức ông quá tốt với tôi gấp trăm lần và trái lại tôi nghĩ còn chưa làm gì để tạm gọi là xứng đáng với lòng tốt của Đức ông. Cuộc bao vây thành La Rochelle sắp mở, thưa Đức ông, tôi sẽ phục vụ dưới sự quan sát của Đức ông, và nếu tôi may mắn xử sự trong cuộc vây hãm này để sao cho xứng đáng với sự quan tâm của Đức ông, thì sau đó ít nhất tôi cũng sẽ có được một chiến tích chói lọi để chứng minh sự che chở của Đức ông. Mọi việc đều phải được làm đúng lúc, thưa Đức ông, có thể sau này, tôi sẽ có quyền hiến thân, còn lúc này làm thế là tôi tự bán mình.

- Có nghĩa là ông từ chối phục vụ ta - Giáo chủ nói bằng một giọng hờn dỗi nhưng vẫn có vẻ coi trọng - Vậy ông cứ việc tự do và giữ lấy những hận thù và cảm tình của ông.

- Thưa Đức ông...

- Được được - Giáo chủ nói - ta không giận ông đâu. Nhưng ông hiểu đấy, người ta bảo vệ cho bạn và thưởng công cho họ là đủ lắm rồi. Không ai phải làm việc đó với kẻ thù đâu. Tuy nhiên, ta sẽ khuyên ông một điều, hãy giữ mình cẩn thận, ông D Artagnan ạ, bởi khi ta đã rút bàn tay khỏi sự che chở cho ông, thì tính mạng ông một xu nhỏ ta cũng sẽ không mua đâu.

- Tôi sẽ cố gắng, thưa Đức ông - chàng Gascogne trả lời bằng vẻ quả quyết đáng trân trọng.

- Sau này nếu lúc nào đó xảy đến điều gì không may - Richelieu nói với dụng ý - hãy nhớ chính ta là người đã từng tìm ông và ta đã làm những gì ta có thể để cái điều không may ấy không xảy ra với ông.

- Dù xảy ra chuyện gì... - D Artagnan vừa nói vừa để tay lên ngực và nghiêng mình - tôi vẫn sẽ vĩnh viễn chịu ơn Đức ông về những điều đã làm cho tôi trong lúc này.

- Thôi được. Ông D Artagnan, như ông nói, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau chiến dịch vậy. Ta theo dõi ông chặt chẽ, bởi ta sẽ ở đấy - Giáo chủ vừa nói tiếp vừa giơ ngón tay chỉ cho D Artagnan bộ áo giáp lộng lẫy ông ta sẽ khoác lên vai - Thôi khi nào trở về, chúng ta sẽ bàn tính với nhau.

- Ôi! Thưa Đức ông! - D Artagnan kêu lên - Xin Đức ông tha cho tôi đừng trút sự ghét bỏ lên tôi. Xin Đức ông đừng thiên vị nếu thấy tôi hành động như một kẻ hào hoa.

- Chàng trai trẻ - Richelieu nói - Nếu ta có thể nói với ông một lần nữa cái điều mà ta đã nói với ông hôm nay, thì ta hứa ta sẽ nói.

Câu nói sau cùng này của Richelieu biểu lộ một mối nghi ngờ khủng khiếp. Nó làm cho chàng khiếp sợ hơn cả nếu ông ta hăm dọa, bởi đây là một lời cảnh báo. Giáo chủ vậy là vẫn tìm cách phòng tránh cho chàng khỏi một sự bất hạnh nào đó đe dọa chàng. Chàng mở miệng định trả lời, nhưng bằng một động tác cao ngạo, Giáo chủ đuổi chàng ra.

D Artagnan đi ra. Nhưng ra đến cửa, chàng như mất hết tinh thần suýt nữa thì đã quay lại. Nhưng một bộ mặt trang trọng và nghiêm khắc hiện ra với chàng. Nếu chàng thỏa thuận với Giáo chủ theo điều ông ta đưa ra, Athos sẽ không cộng tác với chàng nữa, Athos sẽ chối bỏ chàng.

Nỗi sợ đó đã ngăn chàng lại, đúng là một phẩm cách cao cả bao giờ cũng có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến xung quanh.

D Artagnan đi xuống vẫn chiếc cầu thang mà chàng đã đi lên và thấy trước cửa Athos và bốn người lính ngự lâm đang đợi chàng quay ra và đã bắt đầu lo lắng. D Artagnan nói vắn tảt cho mọi người vững tâm, còn Planchet chạy đi báo cho các trạm khác, không cần thiết phải cảnh giới lâu hơn nữa vì chủ mình ra đã ra khỏi lâu đài Giáo chủ bình yên vô sự.

Về đến nhà Athos, Aramis và Porthos hỏi nguyên nhân của cuộc hẹn hò lạ lùng đó. Nhưng D Artagnan chỉ nói qua với họ rằng Giáo chủ Richelieu cho gọi chàng đến để đề nghị chàng xung vào đội cận vệ của ông ta với chức thiếu úy và chàng đã từ chối.

- Cậu làm thế là đúng! - Cả Porthos lẫn Aramis đều đồng thanh nói.

Athos mơ mơ màng màng không nói sao nhưng khi chỉ còn lại hai người, chàng nói:

- Cậu đã làm cái việc cậu phải làm, D Artagnan ạ, nhưng có thể cậu đã sai lầm.

D Artagnan buông một tiếng thở dài. Bởi câu nói đó đã đáp ứng một tiếng nói thầm kín trong lòng chàng, bảo cho chàng biết những bất hạnh lớn đang chờ đợi chàng.

Suốt ngày hôm sau dành cho những việc chuẩn bị lên đường.

D Artagnan đến chào từ biệt ông De Treville. Đén lúc đó, người ta vẫn tin việc phân tách quân cận vệ và ngự lâm quân sẽ chỉ là tạm thời, nhà Vua họp Nghị viện ngay ngày hôm đó và hôm sau đã phải lên đường. Ông De Treville đành chỉ hỏi D Artagnan xem chàng có cần gì ở ông không, nhưng D Artagnan kiêu hãnh trả lời chàng đã có tất cả những gì cần có.

Ban đêm, tất cả các chiến hữu của đại đội cận vệ của ông des Essarts và đại đội ngự lâm của ông De Treville họp lại giao hữu. Họ chia tay nhau và sẽ gặp lại nhau khi nào Chúa thương và nếu Chúa thương. Đêm, vì vậy vô cùng ầm ĩ, cũng dễ hiểu thôi, bởi trong hoàn cảnh ấy, người ta chỉ có thể dẹp bỏ sự băn khoăn lo lắng cực điểm bằng việc thả sức vô tư.

Hôm sau, nghe tiếng kèn đầu tiên, những người bạn chia tay nhau. Ngự lâm quân về dinh trại ông De Treville, cận vệ dinh trại ông des Essarts. Mỗi ông đại úy dẫn ngay tức khắc đại đội của mình đến điện Louvre để nhà vua duyệt binh.

Nhà Vua buồn rầu và có vẻ ốm yếu làm mất đi một phần vẻ oai phong. Quả vậy, hôm trước nhà Vua lên cơn sốt lúc đang điều khiển một phiên chầu ngay giữa Nghị viện. Nhà Vua không vì thế mà kém dứt khoát ra đi ngay buổi tối. Và mặc những lời can ngăn, Ngài vẫn muốn ra duyệt binh, hy vọng bằng một đòn mạnh mẽ, đẩy lui được cơn bệnh bắt đầu xâm chiếm.

Duyệt binh đã xong, quân cận vệ tiến bước một mình, ngự lâm quân phải đợi lên đường cùng với nhà Vua, việc đó cho phép Porthos với đồ quân trang tuyệt vời của mình làm một vòng đến phố Lũ gấu.

Bà biện lý nhìn thấy chàng diễu qua trong bộ đồng phục mới toanh và trên con tuấn mã. Bà ta yêu Porthos quá nên không thể để chàng ra đi như thế, liền ra hiệu cho chàng xuống ngựa và đến bên bà. Porthos thật là lộng lẫy, đinh thúc ngựa vang vang, áo giáp lấp lánh, thanh gươm đập một cách ngạo nghễ vào ống chân. Lần này trông Porthos có vẻ như một kẻ chuyên xẻo tai, nên bọn học nghề ký lục không ai còn muốn cười nữa.

Chàng ngự lâm quân được dẫn vào chỗ ông Coquenard, con mắt ti hí màu xám của ông long lên giận dữ khi thấy người anh họ của mình, cái gì cũng chói lòa và mới. Tuy nhiên có một điều thầm an ủi ông, đó là đâu đâu người ta cũng nói chiến dịch sẽ gay go khốc liệt, ông thoáng hy vọng trong thâm tâm Porthos sẽ bị giết chết trong chiến dịch này.

Porthos chúc mừng thầy kiện Coquenard và chào từ biệt. Thầy Coquenard cũng chúc chàng mọi sự thuận lợi. Còn như bà Coquenard, bà không thể ngăn nổi rơi nước mắt, nhưng người ta cũng không quy kết gì xấu cho sự đau đớn của bà, người ta biết bà rất gắn bó với họ hàng và thường có những cuộc cãi nhau dữ dội với chồng mình vì họ.

Nhưng việc chia tay thực sự lại diễn ra trong buồng bà Coquenard. Ở đây mới tan nát cõi lòng.

Bà biện lý dõi mắt nhìn theo người tình, ngả đầu ra ngoài cửa sổ, vẫy vẫy khăn tay tưởng như bà đang muốn nhào theo.

Porthos nhận mọi dấu hiệu ấy như một gã đàn ông chai xạn với những trò như thế, chỉ mãi tới khi rẽ ngoặt góc phố, chàng mới nhấc mũ vẫy chào từ biệt.

Về phần mình, Aramis viết một bức thư dài. Cho ai? Không ai biết gì hết. Trong phòng bên cạnh, Ketty cũng phải ra đi ngay tối nay đến Tours, người ta đang chờ nàng.

Athos uống từng ngụm nhỏ chai rượu vang Tây Ban Nha cuối cùng.

Trong khi đó D Artagnan đang hành quân với đại đội của mình.

Đến ngoại ô Saint-Antoine, chàng quay đầu lại, vui vẻ nhìn ngục Bastille. Nhưng vì chàng chỉ nhìn ngục Bastille thôi, nên không hề thấy Milady cưỡi lên con ngựa màu hạt dẻ đang chỉ tay cho hai kẻ tướng mạo xấu xí đang tiến sát đến hàng quân để nhận mặt chàng. Bọn chúng đưa mắt nhìn có ý hỏi.

Milady ra hiệu trả lời đó chính là chàng. Rồi, sau khi đã đinh ninh mệnh lệnh của mình sẽ được thi hành không thể nhầm lẫn, Milady thúc ngựa và biến mất.

Hai người đàn ông kia liền đi theo đại đội và khi ra khỏi ngoại ô, liền nhảy lên hai con ngựa đã được chuẩn bị đầy đủ do một tên đầy tớ không mặc áo người hầu dắt tay và chờ bọn họ.

Chương 40

Một ảo ảnh khủng khiếp.

Giáo chủ chống khuỷu tay lên bản thảo, tỳ tay lên má, và nhìn chàng trai trẻ một lát. Không ai có cái nhìn soi mói sâu hút như Giáo chủ Richelieu và D Artagnan bị cái nhìn ấy chạy dọc mạch máu mình như một cơn sốt.

Tuy nhiên chàng vẫn giữ được bình tĩnh, tay cầm mũ, và chờ đợi thái độ dễ chịu hơn của Giáo chủ, không quá kiêu hãnh mà không quá khúm núm.

- Ông kia, - Giáo chủ bảo chàng - Ông có phải D Artagnan xứ Bearn không?

- Vâng, thưa Đức ông.

- Có nhiều chi họ D Artagnan ở Tácbơ và ở vùng phụ cận - Giáo chủ nói - Ông thuộc chi nào?

- Tôi là con trai người đã từng tham gia chiến tranh tôn giáo với Đại đế Henri, phụ thân của Hoàng thượng.

- Đúng là như thế. Chính ông, khoảng bảy tám tháng trước đây đã từ xứ xở mình ra đi, để tìm vận may trong kinh thành?

- Vâng, thưa Đức ông.

- Ông đi qua Măng đến, ở đấy ông đã gặp một chuyện gì đó, tôi không nhớ lắm, nhưng rút cục là một chuyện gì đấy.

- Thưa Đức ông - D Artagnan nói - Chuyện xảy ra với tôi là như thế này...

- Không cần thiết, không cần thiết - Giáo chủ đáp lại với một nụ cười tỏ ra ông đã biết hết chuyện chẳng kém gì người định kể cho ông nghe - Ông đã được tiến cử với ông De Treville, phải không?

- Vâng, thưa Đức ông, nhưng đúng ra, trong vụ việc lôi thôi ở Măng...

- Bức thư đã bị mất - Đức ông tiếp - phải, ta biết việc đó.

- Nhưng ông De Treville là một nhà tướng diện học có tài nhìn qua người là đã biết ngay, và ông ấy đã xếp ông vào đại đội em vợ ông ấy, ông des Essarts, để ông hy vọng ngày một ngày hai ông sẽ vào được ngự lâm quân.

- Đức ông biết hết mọi chuyện - D Artagnan nói.

- Từ buổi đó, đã xảy ra với ông nhiều chuyện. Một hôm ông đã đi dạo sau dãy Sáctrơ(1) mà giá như ông ở chỗ khác thì tốt hơn. Rồi ông đã cùng các bạn ông du hành đến suối nóng Foócgiơ. Các bạn ông bị dừng lại ở dọc đường. Nhưng ông, ông đã tiếp tục chuyến đi. Thật hoàn toàn đơn giản, ông có công việc ở Anh quốc.

- Thưa Đức ông - D Artagnan lặng người đi -Tôi đi...

- Đi săn, ở Uynxơ hay đâu đó, điều đó cũng chẳng quan hệ gì. Ta biết chuyện đó, ta, bởi ở cương vị ta, ta phải biết hết. Lúc trở về, ông đã nhận được từ một nhân vật chí tôn và ta rất thú vị khi thấy ông vẫn giữ được cái kỷ niệm mà người ấy đã ban tặng.

D Artagnan lấy tay che cái nhẫn kim cương nhận được của Hoàng hậu và vội xoay mặt nhẫn vào trong nhưng đã quá muộn.

- Sau hôm đó, ông Cavoa có tới thăm ông - Giáo chủ nói tiếp - Ông ấy định yêu cầu ông đến dinh phủ. Ông đã không đáp lại, và ông đã sai lầm.

- Thưa Đức ông, tôi sợ chuốc lấy sự ghét bỏ của Đức ông.

- Ồ! Sao thế được? Vì đã tuân theo mệnh lệnh của cấp trên, với trí thông minh và lòng dũng cảm mà người khác không có nổi lại chuốc lấy sự ghét bỏ trong khi ông xứng đáng được ngợi khen ư? Chỉ có những kẻ không tuân lệnh, ta mới trừng phạt chứ không phải những người như ông rất mực... tuân lệnh - và bằng chứng, đấy, ông hãy nhớ lại cái ngày ta cho gọi ông đến gặp ta, và ông hãy tìm xem trong trí nhớ của ông điều gì đã xảy ra ngay tối hôm đó.

Đó chính là tối bà Bonacieux bị bắt cóc, D Artagnan rùng mình và chàng nhớ lại nửa giờ trước đây, người đàn bà đáng thương còn diễu qua trước mắt chàng, và còn bị mang đi vẫn do cùng một thế lực đã bắt cóc nàng.

Giáo chủ nói tiếp:

- Cuối cùng, vì ta không nghe thấy nói về ông ít lâu nay, ta muốn biết ông đang làm chuyện gì. Vả lại ông còn phải cảm tạ ta ấy chứ, tự ông, ông cũng nhận ra ông đã nhúng tay vào bao nhiêu chuyện.

D Artagnan nghiêng mình kính cẩn.

Giáo chủ lại nói tiếp:

- Điều đó xuất phát không chỉ từ một tình cảm về sự công bằng tự nhiên mà còn từ một kế hoạch ta vạch ra liên quan đến ông.

D Artagnan mỗi lúc thêm ngạc nhiên.

- Ta định giải thích kế hoạch đó với ông từ hôm mà ông được mời đến lần đầu kia, nhưng ông không đến. May sao không có gì thiệt hại về sự chậm trễ đó, và hôm nay ông đã đến nghe. Ngồi xuống đi, trước mặt ta, ông D Artagnan. Ông là một nhà quý tộc tốt không đáng để phải đứng nghe ta nói.

Và Giáo chủ chỉ một chiếc ghế tựa cho chàng trai trẻ đang quá đỗi ngạc nhiên trước những gì vừa diễn ra đến nỗi phải chờ người đang cật vấn mình ra hiệu lần thứ hai mới dám ngồi.

- Ông can trường, ông D Artagnan ạ - Đức ông tiếp tục - Ông lại thận trọng, đáng quý lắm. Ta thích những con người có đầu óc và tâm huyết. Đừng sợ - Giáo chủ cười nói - Những người tâm huyết, ta nghĩ đó là những người dũng cảm. Nhưng tí tuổi như ông, và vừa mới bước vào đời mà đã có những kẻ thù hùng mạnh, nếu ông không cẩn thận, họ sẽ cho ông toi đời

- Than ôi, thưa Đức ông? - Chàng trai trả lời - việc đó chắc hẳn quá dễ thôi, bởi vì họ mạnh lại có chỗ dựa tốt, còn như tôi, tôi chỉ đơn độc một mình!

- Phải, đúng thế. Nhưng đơn độc như ông, ông đã làm được rất nhiều, và ta tin chắc sẽ còn làm được nhiều nữa. Tuy nhiên, ta tin rằng ông cần được dìu dắt trong nghề nghiệp phiêu lưu mà ông dốc tâm theo đuổi, bởi nếu ta không nhầm, ông đến Paris với tham vọng lập nghiệp.

- Thưa Đức ông, tôi đang ở tuổi có những cuồng vọng - D Artagnan nói.

- Này ông, chỉ có những thằng ngu mới có những cuồng vọng, còn ông là một người có trí tuệ. Xem nào, ông nói sao về chức thiếu úy trong đội cận vệ của ta, và về một đại đội sau khi kết thúc chiến dịch.

- Ôi, thưa Đức ông!

- Ông nhận chứ phải không nào?

- Thưa đức ông... - D Artagnan nhắc lại bối rối.

- Sao, ông từ chối à? - Giáo chủ kêu lên kinh ngạc.

- Tôi đã ở trong đội cận vệ của Hoàng thượng, thưa Đức ông, và tôi không có lý do gì để không bằng lòng.

- Nhưng hình như - Đức ông nói - cận vệ của ta cũng là cận vệ Hoàng thượng, và miễn là phục vụ trong một đơn vị quân Pháp, tức là phục vụ nhà Vua.

- Thưa Đức ông, Đức ông hiểu lầm tôi nói rồi.

- Ông muốn tìm một cớ để thoái thác chứ gì? Ta hiểu. Thế thì, cái cớ ấy, ông có rồi đấy. Chiến dịch mở, sự thăng chức, cơ hội ta dành cho ông, thế là đủ với mọi người. Đối với ông, nhu cầu được bảo hộ chắc chắn, bởi vì tốt nhất ông nên biết, ông D Artagnan ạ, ta nhận được những khiếu nại nghiêm trọng chống lại ông rằng ông không ngày đêm dốc lòng phụng sự Đức Vua đâu.

D Artagnan đỏ mặt.

- Hơn nữa - Giáo chủ, vừa nói tiếp, vừa để tay lên một tập giấy tờ - Ta có đây cả một tập hồ sơ liên quan đến ông, nhưng trước khi đọc nó, ta muốn nói chuyện với ông đã. Ta biết ông là một con người quyết đoán và những việc phục vụ của ông nếu được điều khiển tốt, đáng lẽ dẫn ông đến sự tồi tệ, lại có thể đem lại nhiều thứ cho ông. Nào suy nghĩ và quyết định đi.

- Thưa Đức ông, lòng nhân từ của Đức ông làm tôi bối rối - D Artagnan trả lời - và tôi nhận thấy trong Đức ông một tâm hồn cao cả khiến tôi cảm thấy mình càng nhỏ bé như loài giun dế. Nhưng chung quy một khi Đức ông cho phép tôi được nói thẳng - D Artagnan dừng lại.

- Được, nói đi.

- Vậy thì, tôi sẽ nói với Đức ông rằng tất cả các bạn tôi đều ở ngự lâm quân và cận vệ của nhà Vua, còn những kẻ thù của tôi, do định mệnh không thể lý giải nổi, đều là người của Đức ông, vì vậy nếu tôi nhận đặc ân Đức ông ban cho tôi thì tôi sẽ bị bên này khinh thường và bên kia tẩy chay.

- Có nhẽ ông đã có cái ý nghĩ kiêu căng là ta không đãi ông cho xứng với ông chăng? - Giáo chủ hỏi với nụ cười miệt thị.

- Thưa Đức ông, Đức ông quá tốt với tôi gấp trăm lần và trái lại tôi nghĩ còn chưa làm gì để tạm gọi là xứng đáng với lòng tốt của Đức ông. Cuộc bao vây thành La Rochelle sắp mở, thưa Đức ông, tôi sẽ phục vụ dưới sự quan sát của Đức ông, và nếu tôi may mắn xử sự trong cuộc vây hãm này để sao cho xứng đáng với sự quan tâm của Đức ông, thì sau đó ít nhất tôi cũng sẽ có được một chiến tích chói lọi để chứng minh sự che chở của Đức ông. Mọi việc đều phải được làm đúng lúc, thưa Đức ông, có thể sau này, tôi sẽ có quyền hiến thân, còn lúc này làm thế là tôi tự bán mình.

- Có nghĩa là ông từ chối phục vụ ta - Giáo chủ nói bằng một giọng hờn dỗi nhưng vẫn có vẻ coi trọng - Vậy ông cứ việc tự do và giữ lấy những hận thù và cảm tình của ông.

- Thưa Đức ông...

- Được được - Giáo chủ nói - ta không giận ông đâu. Nhưng ông hiểu đấy, người ta bảo vệ cho bạn và thưởng công cho họ là đủ lắm rồi. Không ai phải làm việc đó với kẻ thù đâu. Tuy nhiên, ta sẽ khuyên ông một điều, hãy giữ mình cẩn thận, ông D Artagnan ạ, bởi khi ta đã rút bàn tay khỏi sự che chở cho ông, thì tính mạng ông một xu nhỏ ta cũng sẽ không mua đâu.

- Tôi sẽ cố gắng, thưa Đức ông - chàng Gascogne trả lời bằng vẻ quả quyết đáng trân trọng.

- Sau này nếu lúc nào đó xảy đến điều gì không may - Richelieu nói với dụng ý - hãy nhớ chính ta là người đã từng tìm ông và ta đã làm những gì ta có thể để cái điều không may ấy không xảy ra với ông.

- Dù xảy ra chuyện gì... - D Artagnan vừa nói vừa để tay lên ngực và nghiêng mình - tôi vẫn sẽ vĩnh viễn chịu ơn Đức ông về những điều đã làm cho tôi trong lúc này.

- Thôi được. Ông D Artagnan, như ông nói, chúng ta sẽ gặp lại nhau sau chiến dịch vậy. Ta theo dõi ông chặt chẽ, bởi ta sẽ ở đấy - Giáo chủ vừa nói tiếp vừa giơ ngón tay chỉ cho D Artagnan bộ áo giáp lộng lẫy ông ta sẽ khoác lên vai - Thôi khi nào trở về, chúng ta sẽ bàn tính với nhau.

- Ôi! Thưa Đức ông! - D Artagnan kêu lên - Xin Đức ông tha cho tôi đừng trút sự ghét bỏ lên tôi. Xin Đức ông đừng thiên vị nếu thấy tôi hành động như một kẻ hào hoa.

- Chàng trai trẻ - Richelieu nói - Nếu ta có thể nói với ông một lần nữa cái điều mà ta đã nói với ông hôm nay, thì ta hứa ta sẽ nói.

Câu nói sau cùng này của Richelieu biểu lộ một mối nghi ngờ khủng khiếp. Nó làm cho chàng khiếp sợ hơn cả nếu ông ta hăm dọa, bởi đây là một lời cảnh báo. Giáo chủ vậy là vẫn tìm cách phòng tránh cho chàng khỏi một sự bất hạnh nào đó đe dọa chàng. Chàng mở miệng định trả lời, nhưng bằng một động tác cao ngạo, Giáo chủ đuổi chàng ra.

D Artagnan đi ra. Nhưng ra đến cửa, chàng như mất hết tinh thần suýt nữa thì đã quay lại. Nhưng một bộ mặt trang trọng và nghiêm khắc hiện ra với chàng. Nếu chàng thỏa thuận với Giáo chủ theo điều ông ta đưa ra, Athos sẽ không cộng tác với chàng nữa, Athos sẽ chối bỏ chàng.

Nỗi sợ đó đã ngăn chàng lại, đúng là một phẩm cách cao cả bao giờ cũng có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến xung quanh.

D Artagnan đi xuống vẫn chiếc cầu thang mà chàng đã đi lên và thấy trước cửa Athos và bốn người lính ngự lâm đang đợi chàng quay ra và đã bắt đầu lo lắng. D Artagnan nói vắn tảt cho mọi người vững tâm, còn Planchet chạy đi báo cho các trạm khác, không cần thiết phải cảnh giới lâu hơn nữa vì chủ mình ra đã ra khỏi lâu đài Giáo chủ bình yên vô sự.

Về đến nhà Athos, Aramis và Porthos hỏi nguyên nhân của cuộc hẹn hò lạ lùng đó. Nhưng D Artagnan chỉ nói qua với họ rằng Giáo chủ Richelieu cho gọi chàng đến để đề nghị chàng xung vào đội cận vệ của ông ta với chức thiếu úy và chàng đã từ chối.

- Cậu làm thế là đúng! - Cả Porthos lẫn Aramis đều đồng thanh nói.

Athos mơ mơ màng màng không nói sao nhưng khi chỉ còn lại hai người, chàng nói:

- Cậu đã làm cái việc cậu phải làm, D Artagnan ạ, nhưng có thể cậu đã sai lầm.

D Artagnan buông một tiếng thở dài. Bởi câu nói đó đã đáp ứng một tiếng nói thầm kín trong lòng chàng, bảo cho chàng biết những bất hạnh lớn đang chờ đợi chàng.

Suốt ngày hôm sau dành cho những việc chuẩn bị lên đường.

D Artagnan đến chào từ biệt ông De Treville. Đén lúc đó, người ta vẫn tin việc phân tách quân cận vệ và ngự lâm quân sẽ chỉ là tạm thời, nhà Vua họp Nghị viện ngay ngày hôm đó và hôm sau đã phải lên đường. Ông De Treville đành chỉ hỏi D Artagnan xem chàng có cần gì ở ông không, nhưng D Artagnan kiêu hãnh trả lời chàng đã có tất cả những gì cần có.

Ban đêm, tất cả các chiến hữu của đại đội cận vệ của ông des Essarts và đại đội ngự lâm của ông De Treville họp lại giao hữu. Họ chia tay nhau và sẽ gặp lại nhau khi nào Chúa thương và nếu Chúa thương. Đêm, vì vậy vô cùng ầm ĩ, cũng dễ hiểu thôi, bởi trong hoàn cảnh ấy, người ta chỉ có thể dẹp bỏ sự băn khoăn lo lắng cực điểm bằng việc thả sức vô tư.

Hôm sau, nghe tiếng kèn đầu tiên, những người bạn chia tay nhau. Ngự lâm quân về dinh trại ông De Treville, cận vệ dinh trại ông des Essarts. Mỗi ông đại úy dẫn ngay tức khắc đại đội của mình đến điện Louvre để nhà vua duyệt binh.

Nhà Vua buồn rầu và có vẻ ốm yếu làm mất đi một phần vẻ oai phong. Quả vậy, hôm trước nhà Vua lên cơn sốt lúc đang điều khiển một phiên chầu ngay giữa Nghị viện. Nhà Vua không vì thế mà kém dứt khoát ra đi ngay buổi tối. Và mặc những lời can ngăn, Ngài vẫn muốn ra duyệt binh, hy vọng bằng một đòn mạnh mẽ, đẩy lui được cơn bệnh bắt đầu xâm chiếm.

Duyệt binh đã xong, quân cận vệ tiến bước một mình, ngự lâm quân phải đợi lên đường cùng với nhà Vua, việc đó cho phép Porthos với đồ quân trang tuyệt vời của mình làm một vòng đến phố Lũ gấu.

Bà biện lý nhìn thấy chàng diễu qua trong bộ đồng phục mới toanh và trên con tuấn mã. Bà ta yêu Porthos quá nên không thể để chàng ra đi như thế, liền ra hiệu cho chàng xuống ngựa và đến bên bà. Porthos thật là lộng lẫy, đinh thúc ngựa vang vang, áo giáp lấp lánh, thanh gươm đập một cách ngạo nghễ vào ống chân. Lần này trông Porthos có vẻ như một kẻ chuyên xẻo tai, nên bọn học nghề ký lục không ai còn muốn cười nữa.

Chàng ngự lâm quân được dẫn vào chỗ ông Coquenard, con mắt ti hí màu xám của ông long lên giận dữ khi thấy người anh họ của mình, cái gì cũng chói lòa và mới. Tuy nhiên có một điều thầm an ủi ông, đó là đâu đâu người ta cũng nói chiến dịch sẽ gay go khốc liệt, ông thoáng hy vọng trong thâm tâm Porthos sẽ bị giết chết trong chiến dịch này.

Porthos chúc mừng thầy kiện Coquenard và chào từ biệt. Thầy Coquenard cũng chúc chàng mọi sự thuận lợi. Còn như bà Coquenard, bà không thể ngăn nổi rơi nước mắt, nhưng người ta cũng không quy kết gì xấu cho sự đau đớn của bà, người ta biết bà rất gắn bó với họ hàng và thường có những cuộc cãi nhau dữ dội với chồng mình vì họ.

Nhưng việc chia tay thực sự lại diễn ra trong buồng bà Coquenard. Ở đây mới tan nát cõi lòng.

Bà biện lý dõi mắt nhìn theo người tình, ngả đầu ra ngoài cửa sổ, vẫy vẫy khăn tay tưởng như bà đang muốn nhào theo.

Porthos nhận mọi dấu hiệu ấy như một gã đàn ông chai xạn với những trò như thế, chỉ mãi tới khi rẽ ngoặt góc phố, chàng mới nhấc mũ vẫy chào từ biệt.

Về phần mình, Aramis viết một bức thư dài. Cho ai? Không ai biết gì hết. Trong phòng bên cạnh, Ketty cũng phải ra đi ngay tối nay đến Tours, người ta đang chờ nàng.

Athos uống từng ngụm nhỏ chai rượu vang Tây Ban Nha cuối cùng.

Trong khi đó D Artagnan đang hành quân với đại đội của mình.

Đến ngoại ô Saint-Antoine, chàng quay đầu lại, vui vẻ nhìn ngục Bastille. Nhưng vì chàng chỉ nhìn ngục Bastille thôi, nên không hề thấy Milady cưỡi lên con ngựa màu hạt dẻ đang chỉ tay cho hai kẻ tướng mạo xấu xí đang tiến sát đến hàng quân để nhận mặt chàng. Bọn chúng đưa mắt nhìn có ý hỏi.

Milady ra hiệu trả lời đó chính là chàng. Rồi, sau khi đã đinh ninh mệnh lệnh của mình sẽ được thi hành không thể nhầm lẫn, Milady thúc ngựa và biến mất.

Hai người đàn ông kia liền đi theo đại đội và khi ra khỏi ngoại ô, liền nhảy lên hai con ngựa đã được chuẩn bị đầy đủ do một tên đầy tớ không mặc áo người hầu dắt tay và chờ bọn họ.

Chương 41

Cuộc vây thành La Rochelle.

Cuộc vây thành La Rochelle là một trong những sự kiện chính trị trọng đại dưới triều Vua Louis XIII, và là một trong những sự nghiệp quân sự lớn của Giáo chủ. Vì vậy sẽ thú vị và cần thiết nữa để nói đôi điều về việc đó. Vả lại nhiều tình tiết của cuộc vây hãm này liên hệ rất quan trọng đến câu chuyện này không thể bỏ qua.

Những quan điểm chính trị của Giáo chủ, khi ông quyết định cuộc vây hãm này rất quan trọng. Trước hết hãy trình nó ra, rồi sẽ chuyển sang những quan điểm riêng biệt có lẽ không kém ảnh hưởng đến Giáo chủ hơn những quan điểm trước của chính ông.

Những thành phố quan trọng mà Henri IV dành cho những người theo đạo Canvanh như những vị trí an toàn nay chỉ còn lại mỗi thành Rochelle, vị trí cuối cùng của giáo phái Canvanh này, cái mầm mống nguy hiểm không ngừng dính líu với những việc kích động nội loạn hay chiến tranh với nước ngoài.

Người Tây Ban Nha, người Anh, người Ý đều bất bình, khách lục lâm giang hồ, những binh lính gặp may của đủ mọi loại quân nghe thấy lời kêu gọi đầu tiên, đã đổ đến dưới cá cờ của bọn Tin lành, và tổ chức thành một hiệp hội rộng lớn mà các chi hội thoải mái phân nhánh trên khắp các điểm của châu Âu.

La Rochelle giữ một tầm quan trọng mới từ sự sụp đổ của những thành phố Canvanh khác, đã trở thành cái lò của những mối bất hòa và những tham vọng. Còn thêm nữa, hải cảng của nó là chiếc cửa cuối cùng mở ra cho bọn Anh vào vương quốc Pháp và nếu đóng nó lại với bọn Anh, kẻ thù vĩnh viễn của chúng ta, thì Giáo chủ sẽ hoàn tất được sự nghiệp của Janđa (1) và Công tước de Ghidơ, vậy nên, Bassompirre(2) vừa là Tin lành vừa Cơ đốc giáo, Tin lành trong tín ngưỡng và Cơ đốc giáo vì được ban tặng huân chương Thánh Trí tuệ(3). Bát xompie là người giữ vai trò chỉ huy đặc biệt cuộc bao vây thành La Rochelle, lại đi nhồi vào đầu nhiều lãnh chúa Tin lành khác như mình câu nói sau:

- Rồi các vị sẽ thấy là chúng ta khá ngu ngốc khi đánh chiếm thành La Rochelle!

Và Bassompirre đã đúng: Trận đại bác nã vào đảo Rê đã là khúc dạo đầu cho những vụ thảm sát ở Xêven(4) và việc đánh chiếm La Rochelle là phần lời tựa cho sắc lệnh Nante.

Nhưng như đã nói, bên cạnh những quan điểm của vị Thủ trướng muốn san bằng giai cấp, và đơn giản hóa bộ máy Nhà nước, thuộc về lịch sử, còn phải nhặn ra những mục tiêu nho nhỏ của một người đàn ông si tình và một tình địch cả ghen.

Richelieu đã từng si mê Hoàng hậu. Mối tình ấy ở ông là một mục đích chính trị hay chỉ hoàn toàn tự nhiên là một trong những mê đắm sâu sác mà Anne d Autriche đem lại cho mọi người xung quanh? Đó là điều chúng ta không thể nói sao cho đúng.

Nhưng dẫu sao, qua những sự phát triển trước đây của chuyện này, người ta cũng thấy Buckingham đã nẫng tay trên mất của Richelieu trong vài ba trường hợp và đặc biệt trong chuyện những nút kim cương, nhờ sự tận tâm của ba chàng ngự lâm và lòng can đảm của D Artagnan, đã chơi ông một vố tàn bạo.

Vì vậy đối với Richelieu, đây không những là tống cổ kẻ thù ra khỏi nước Pháp mà còn là trả hận một địch tình. Hơn nữa việc rửa hận phải lớn lao, rạng rỡ và hoàn toàn xứng đáng với một người nắm trong tay toàn bộ lực lượng vũ trang của vương quốc như thanh gươm chiến của mình.

Richelieu biết rằng trong khi chiến đấu với Anh quốc tức chiến đấu với Buckingham, thắng Anh quốc ông thắng luôn Buckingham, cuối cùng làm nhục nước Anh trước con mắt châu Âu cũng là làm nhục Buckingham trước mặt Hoàng hậu.

Về phía Buckingham, trong khi đặt danh dự nước Anh lên trước hết, cũng bị lay chuyển bởi những lợi ích tương đồng với những lợi ích riêng của Giáo chủ. Buckingham cũng theo đuổi một cuộc trả thù đặc biệt, Buckingham không thể viện được bất cứ cớ nào để có thể vào nước Pháp như một sứ thần, ông ta định vào đó như một kẻ chiến thắng.

Kết luận là khoản được thua đích thực trong canh bạc mà hai vương quốc hùng mạnh nhất chơi với nhau theo trò hứng trí của hai kẻ si tình chỉ đơn giản là cái liếc nhìn của Anne d Autriche.

Lợi thế ban đầu thuộc về Công tước De Buckingham.

Bất ngờ có mặt ở đảo Rê với chín mươi chiến hạm và khoảng hai mươi nghìn quân, ông ta đột kích Bá tước de Toiras, người thay mặt nhà Vua trấn giữ đảo. Sau một trận giao chiến đẫm máu, Buckingham đã đổ bộ được lên đảo. Và Nam tước de Săngtan đã tử trận ở đây, để lại cô con gái mồ côi mười tám tháng tuổi, chính là nữ nhà văn De Xêvinhê sau này.

Bá tước De Toiras rút lui vào thành Saint-Martin, cùng với quân đồn trú và tung một trăm quân vào một pháo đài nhỏ mà người ta gọi là pháo đài De La Prê.

Biến cố đó đẩy nhanh những quyết định của Giáo chủ. Trong khi chờ đợi nhà Vua, và đích thân mình chỉ huy cuộc bao vây thành La Rochelle, Giáo chủ đã phái Hoàng đệ chỉ huy những trận đánh đầu tiên, và đưa tất cả các đạo quân có thể bố trí lên sân khấu chiến tranh.

D Artagnan có mặt trong đạo quân tiên phong đó.

Nhà Vua, như đã nói, đáng lẽ đã đi theo, ngay khi họp xong Nghị viện, nhưng vừa đứng lên sau khi họp xong, ngày 23 tháng sáu, ông bị lên cơn sốt, không phải không muốn ra đi, nhưng thể trạng xấu thêm, buộc phải dừng lại ở Vilơroa.

Mà, nhà Vua dừng ở đâu, thì ngự lâm quân dừng ở đó, kết quả là D Artagnan vốn chỉ đơn thuần là quân cận vệ ít ra đã tạm thời bị tách rời khỏi các bạn tốt của mình là Athos, Porthos và Aramis. Cuộc xa cách này chỉ là một sự bực dọc đối với chàng, chắc chắn đã trở thành một mối lo nghiêm trọng nếu như chàng đoán được những hiểm nguy chưa biết đang vây bọc quanh chàng.

Chàng vẫn đến được doanh trại thiết lập trước thành La Rochelle mà không gặp tai họa nào vào ngày 10 tháng 9 năm 1627.

Mọi việc vẫn trong tình trạng cũ. Quận công De Buckingham và quân Anh, làm chủ đảo Rê, tiếp tục bao vây không có kết quả thành Saint-Martin và pháo đài La Prê, và những trận giao chiến với La Rochelle đã bắt đầu từ vài ba hôm, nhân một pháo đài Quận công vừa cho xây dựng gần thành phố.

Quân cận vệ, dưới quyền chỉ huy của ông des Essarts đóng ở Minim. Nhưng D Artagnan vẫn băn khoăn với tham vọng được chuyển sang Ngự lâm quân, ít thân mật với đồng đội, chàng thấy mình cô đơn, và đắm mình trong những suy nghĩ riêng tư.

Những suy nghĩ ấy không lấy gì làm vui vẻ lắm. Chàng đến Paris đã được hai năm. Chàng đã hòa mình vào những việc công. Những việc riêng tư như tình yêu và hạnh vận đều không được suôn sẻ lắm.

Về tình yêu, người đàn bà duy nhất chàng yêu là bà Bonacieux thì đã biến mất không để cho chàng khám phá ra được nàng đã ra sao.

Về hạnh vận, nhỏ nhoi như chàng mà lại biến mình thành kẻ thù của Giáo chủ, nghĩa là một con người mà đứng trước ông ta những bậc quyền quý nhất vương quốc bắt đầu từ nhà Vua, cũng phải run sợ.

Con người đó có thể nghiền nát chàng, tuy nhiên, ông ta lại không làm thế. Đối với một trí tuệ minh mẫn như D Artagnan, sự độ lượng đó như một ánh sáng qua đó chàng nhìn vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Thế rồi, chàng lại biến mình thành kẻ thù của một kẻ khác ít đáng sợ hơn, chàng nghĩ vậy, tuy nhiên linh tính báo cho chàng biết không thể coi thường, đó là Milady.

Đổi lại tất cả những điều đó chàng có được sự che chở và sự ưu ái của Hoàng hậu, nhưng sự ưu ái của Hoàng hậu chả mấy chốc lại là cái cớ để thêm nhiều ngược đãi, và sự che chở của bà lại rất tồi, bằng chứng là Cale(5) và bà Bonacieux.

Cái mà chàng kiếm được rõ rệt nhất trong mọi chuyện đó lại là cái nhẫn kim cương đáng giá năm sáu nghìn quan chàng vẫn đeo trên tay. Và còn nữa, cái nhẫn kim cương ấy, giả dụ D Artagnan trong những dự định đầy tham vọng của mình, giữ nó để một ngày nào đó minh chứng cho lòng biết ơn Hoàng hậu thì trong khi chờ đợi, vì không thể đem bán nó đi được, nên nó cũng chỉ có giá trị như viên sỏi lăn dưới chân chàng.

Nói tới viên sỏi lăn dưới chân chàng, bởi D Artagnan đang một mình dạo chơi trên con đường nhỏ đẹp từ doanh trại đến làng Ănggúttanh, vừa đi vừa suy nghĩ. Suy nghĩ miên man khiến đi quá xa mà cũng không biết, trời bắt đầu tà, trong tia nắng cuối cùng của mặt trời xế bóng, chàng như trông thấy lóe lên đằng sau một bờ giậu một họng súng hỏa mai.

D Artagnan mắt tinh và nhanh trí, hiểu ngay khẩu súng hỏa mai không đến đó một mình và kẻ đang mang nó không phải nấp sau bờ giậu với ý đồ thân thiện. Chàng quyết định lánh xa ra, thì bên kia đường, sau một tảng đá, chàng thấy đầu một nòng súng hỏa mai thứ hai.

Rõ ràng là một cuộc phục kích.

Chàng đưa mắt nhìn khẩu súng thứ nhất, có phần lo ngại khi thấy nó đang hạ xuống hướng về phía mình, nhưng ngay khi thấy họng súng bất động, chàng vội nằm sấp xuống đất. Vừa kịp lúc súng nổ và chàng nghe thấy tiếng đạn réo qua đầu.

Không để mất một phút, D Artagnan vùng ngay dậy và ngay lúc đó viên đạn của khẩu hỏa mai kia làm bay những viên sỏi đúng nơi chàng vừa nằm xuống đất.

D Artagnan không phải là một kẻ can trường vô ích đi tìm cái chết lố lăng để được người ta nói là hạng người không chịu lùi một bước. Vả lại không phải chuyện can đảm ở đây.

D Artagnan đã rơi vào một âm mưu sát hại. Chàng tự nhủ, nếu có phát thứ ba, mình chết rồi!

Thế là ngay lập tức chàng vắt chân lên cổ chạy trốn về phía doanh trại, với tốc độ nổi tiếng của dân xứ chàng. Nhưng dù có chạy nhanh đến đâu, thì tên bắn trước đã kịp nhồi lại thuốc súng và bắn chàng phát thứ hai khá trúng. Viên đạn xuyên qua mũ chàng và làm bay mũ xa đến mươi bước.

Thế nhưng D Artagnan không còn chiếc mũ nào khác, nên chàng phải vừa chạy vừa nhặt lấy mũ, vừa chạy vừa thở, mặt tái nhợt đi, về đến nơi trú quân, rồi ngồi xuống lẳng lặng bắt đầu suy nghĩ.

Sự cố đó có thể có ba nguyên nhân.

Nguyên nhân đầu tiên và cũng là tự nhiên nhất, có thể đây là một ổ phục kích của bọn Rochelle, chắc chẳng thấy phiền lòng khi giết một cận vệ của nhà Vua, trước hết bởi ít nhất đấy cũng là một kẻ thù, và kẻ thù biết đâu lại không có một bọc vàng trong túi.

D Artagnan cầm mũ, xem lỗ thủng viên đạn và lắc đầu.

- Không phải đạn súng hỏa mai, đó là viên đạn của loại súng có bệ tì, sự chính xác của viên đạn khiến chàng nghĩ nó phải được bắn ra từ một vũ khí đặc biệt, đây không phải một ổ phục kích quân sự một khi viên đạn không thuộc cỡ súng quân dụng.

Đó cũng có thể là một kỷ niệm quý hóa của Giáo chủ. Chàng nhớ lại lúc đó, nhờ có một tia sáng mặt trời may mắn, chàng mới nhìn thấy cái nòng súng và lấy làm ngạc nhiên về tính kiềm chế của Đức ông trong chuyện này.

Nhưng rồi D Artagnan lại lắc đầu. Đối với những kẻ mà Đức ông chỉ cần giơ tay ra, ông hiếm khi phải dùng đến những thủ đoạn đó.

Có thể đó là sự trả thù của Milady. Có thể có khả năng này hơn.

Chàng tìm cách nhớ lại những nét dạng hay trang phục những tên sát thủ nhưng vô ích. Chàng chạy quá nhanh để thoát khỏi chúng, còn thì giờ đâu để chú ý đến điều gì.

- Ôi các bạn chia sẻ đắng cay của tôi ơi - D Artagnan lẩm bẩm - các bạn ở đâu? Sao tôi nhớ các bạn đến thế!

D Artagnan trải qua một đêm thật là tồi tệ. Ba bốn lần chàng giật mình tỉnh dậy, như thấy có người lại gần giường cầm dao đâm mình. Tuy nhiên cho đến rạng sáng bóng đêm không đem đến sự cố gì.

Nhưng D Artagnan ngờ rằng cái công việc bị trì hoãn này không phải đã mất đi.

Suốt ngày chàng không ra khỏi nơi trú quân, tự bào chữa cho mình vì trời xấu.

Ngày hôm sau nữa, khoảng chín giờ, hai bên đánh nhau.

Quận công De Oóclêăng đi thị sát các vị trí chiến đấu, quân cận vệ vơ lấy vũ khí tập hợp lại, D Artagnan xếp hàng giữa các đồng ông Hoàng thị sát mặt trận. Các sĩ quan cao cấp, ông des Essarts, đại úy cận vệ, cũng như những người khác đến bên ông Hoàng để chúc tụng.

Một lát sau hình như ông des Essarts ra hiệu cho D Artagnan lại gần mình, chàng sợ mình hiểu nhầm, đang đợi ông ra hiệu lần nữa, quả nhiên ông ra hiệu lần nữa, chàng liền chạy ra khỏi hàng ngũ, tiến lên để nhận lệnh.

- Đức ông yêu cầu một số người tình nguyện làm một nhiệm vụ nguy hiểm, và sẽ thưởng huân chương cho người nào hoàn thành nhiệm vụ. Và ta đã ra hiệu cho ông hãy sẵn sàng.

- Xin cám ơn, ông đại uý! - D Artagnan trả lời, không đòi hỏi gì hơn là được tỏ ra nổi trội trước mặt ông trung tướng.

Quả thật, bọn Rochelle đã ra khỏi thành ban đêm và đã chiếm lại được một pháo lũy mà quân đội bảo hoàng đã chiếm trước đây hai ngày. Vấn đề là cần phải tung một nhóm trinh sát quyết tử để xem quân đối phương phòng thủ pháo lũy đó ra sao.

Một lát sau Đức ông cất cao giọng nói:

- Để làm nhiệm vụ này, ta cần ba bốn người tình nguyện do một người chín chắn điều khiển.

- Thưa Đức ông, về con người chín chắn, tôi đã có sẵn trong tay - Ông des Essarts vừa nói vừa chỉ D Artagnan, còn về bốn năm người tình nguyện, Đức ông chỉ việc cho biết ý đồ của ngài, người sẽ không thiếu đâu.

D Artagnan vung gươm nói:

- Bốn người quyết tâm cao sẵn sàng chết cùng tôi!

Hai trong số bạn cận vệ đồng ngũ lao ra ngay và hai người lính khác cũng ra theo họ, quân số yêu cầu đã đủ, D Artagnan từ chối mọi người khác dành ưu tiên cho mấy người trước.

Không biết liệu sau khi chiếm lại được pháo lũy, bọn Rochelle đã sơ tán hết hay để quân lại đồn trú, vậy nên phải đến rất gần địa điểm đã định để quan sát mới xác định được thực hư thế nào.

D Artagnan ra đi cùng bốn đồng đội, theo một đường hào, hai cận vệ đi ngang hàng với chàng và hai người lính đi phía sau.

Được che lấp bằng những lớp tường bao, họ cứ như thế tiến bước đến chỗ cách pháp lũy một trăm bước, tới đây, D Artagnan ngoảnh lại, thấy hai người lính biến mất. Chàng tưởng họ sợ đã tụt lại phía sau, nên tiếp tục tiến bước.

Tới chỗ ngoặt của bức tường bao ngoài, họ chỉ còn cách pháo lũy khoảng sáu mươi bước. Họ chẳng nhìn thấy ai và pháo lũy như thể bị bỏ hoang.

Ba người ngơ ngác bàn nhau có nên tiến nữa hay không, bất thình lình một vành khói bao quanh pháo lũy bằng đá khổng lồ, và một tá đạn véo véo xung quanh D Artagnan và hai đồng ngũ của chàng.

Thế là họ đã biết được điều họ muốn biết: pháo thành vẫn được canh giữ. Trụ lâu tại vị trí nguy hiểm này là một sự bất cẩn không cần thiết, D Artagnan và hai cận vệ quân quay lại, bắt đầu rút lui giống như một sự chạy trốn.

Đi đến góc hào có tác dụng với họ như một chiến lũy, một cận vệ quân ngã xuống, một viên đạn xuyên qua ngực. Người kia không việc gì tiếp tục chạy về trận tuyến của mình.

D Artagnan không muốn bỏ rơi đồng ngũ của mình liền cúi xuống nâng anh ta dậy và dìu trở về chiến tuyến của mình.

Nhưng cùng lúc đó hai phát súng bắn ra, một viên đạn bắn vỡ đầu người lính cận vệ đã bị thương, và viên khác bay đến bẹt ra trên một tảng đá, sau khi sượt qua D Artagnan hai đốt ngón tay.

Chàng quay phắt lại, bởi cuộc tấn công này không từ pháo lũy mà từ chỗ này ngay góc chiến hào. Nghĩ tới hai tên lính đã bỏ rơi chàng, chàng liền nhớ lại hai tên sát thủ hôm trước nữa.

Thế là chàng quyết định lần này phải tìm cho ra nguyên cớ, và ngã lên thi thể người bạn làm như mình đã chết.

Chàng thấy ngay hai cái đầu ngóc lên trên một công sự bỏ hoang cách đó ba mươi bước chân, đó chính là đầu hai người lính đã đi theo chàng.

D Artagnan đã không nhầm, hai tên đó đi theo chỉ để ám sát chàng, hy vọng sẽ đổ được cái chết của chàng trai trẻ cho kẻ thù.

- Có điều sợ rằng chàng có thể chỉ bị thương và sẽ tố cáo tội ác của chúng, chúng phải đến gần để kết liễu đời chàng. May sao, bị lừa bởi mưu kế của D Artagnan, bọn chúng không nạp lại thuốc súng.

Khi chúng đến cách chàng mười bước, D Artagnan khi vờ ngã vẫn cẩn thận không rời khỏi tay gươm, bất thình lình đứng vụt dậy và nhẩy phắt đến bên chúng.

Những tên sát thủ hiểu rằng nếu chúng chạy trốn về phía phòng tuyến quân Pháp mà chưa giết chết được người định giết, thì sẽ bị tố cáo. Cho nên ý nghĩ đầu tiên đến với chúng là nhảy sang hàng ngũ kẻ thù. Một trong hai tên cầm nòng súng quay ngược lại dùng làm cây chùy và phang một đòn khủng khiếp vào D Artagnan, chàng nhảy sang một bên và tránh thoát, nhưng do vậy, chàng đã để lối thoát cho tên cướp lao ngay về phía pháo lũy.

Vì bọn Rochelle canh giữ không biết rõ ý đồ của kẻ chạy đến với chúng, chúng nhả đạn về phía tên này. Y ngã xuống vì bị trúng một phát đạn vỡ vai.

Trong khi đó, D Artagnan đã nhảy vào tên thứ hai, dùng gươm tấn công hắn, trận đấu không kéo dài, tên kia chỉ chống đỡ bằng khẩu súng có bệ tì chưa nạp thuốc, mũi gươm của chàng cận vệ lướt qua nòng súng đã trở nên bất lực và xuyên qua đùi tên sát thủ. Hắn ngã xuống. D Artagnan dí ngay mũi gươm và họng hắn.

- Ôi! Đừng giết tôi! - Tên cướp kêu lên - xin tha chết, xin tha chết, ngài sĩ quan? Tôi sẽ nói ra hết với ngài.

Chàng dừng tay lại hỏi:

- Bí mật của mày có bõ công tao tha chết cho mày không?

- Có, có, nếu ông coi cuộc sống còn đáng chút gì đó khi người ta mới hăm hai tuổi như ông và đẹp trai, can trường như ông, và có thể đạt tới mọi điều tốt đẹp.

- Đồ khốn! - D Artagnan nói - Có nói mau lên không nào, ai sai mày ám sát tao?

- Một người đàn bà tôi không quen biết, nhưng người ta gọi là Milady.

- Nhưng nếu mày không biết mụ ấy, làm sao mày lại biết tên?

- Bạn tôi biết bà ta và gọi tên như vậy, và bà ta làm việc với hắn chứ không phải với tôi. Hắn còn có trong túi hắn một bức thư của bà ta, chắc phải rất quan trọng đối với ông theo như tôi được nghe hắn nói.

- Nhưng làm sao mày lại dự phần một nửa trong cuộc mai phục đó?

- Hắn đề nghị tôi hai người cùng làm và tôi đã nhận lời.

- Và mụ ta đã trả cho chúng mày bao nhiêu cho cuộc mạo hiểu đẹp đẽ này?

- Một trăm louis.

- Thế à, trả hậu đấy! - Chàng vừa nói vừa cười - Mụ cho là tao cũng đáng giá đấy chứ, những một trăm louis cơ mà - Một số tiền lớn cho hai tên khốn kiếp chúng mày, vì vậy tao hiểu tại sao chúng mày nhận, và tao tha chết cho mày với một điều kiện?

- Điều kiện gì? - Tên cướp hỏi và lo lắng vì thấy mọi chuyện chưa xong.

- Mày phải đi lấy bức thư trong túi bạn mày cho tao.

- Nhưng - Tên cướp kêu lên - Đó là cách khác để giết tôi. Làm sao tôi có thể đi tìm bức thư ấy dưới hỏa lực của pháo luỹ?

- Tuy nhiên mày vẫn phải đi tìm, nếu không tao thề sẽ tự tay tao giết chết mày.

Tên cướp quỳ sụp xuống và chống tay lên vì bắt đầu yếu sức do mất máu và kêu lên:

- Xin tha tội chết! Thưa ngài, xin rủ lòng thương! Hãy vì người đàn bà trẻ mà ngài yêu và vẫn tưởng có lẽ đã chết, nhưng không phải thế!

- Và do đâu mày biết có một người đàn bà trẻ tao yêu và tao tưởng người ấy đã chết? - D Artagnan hỏi.

- Do bức thư trong túi bạn tôi.

- Thế thì mày càng thấy tao cần bức thư thế nào - D Artagnan nói - như vậy đừng chậm trễ thêm nữa, đừng ngần ngừ thêm nữa, nếu không cho dù tao có ghê tởm đến đâu phải nhúng mũi gươm của tao lần thứ hai vào máu một tên khốn kiếp như mày, tao xin thề trước lòng tin của một người lương thiện...

Nói đến đấy, D Artagnan làm một động tác hăm dọa khủng khiếp khiến kẻ bị thương vội đứng dậy, nỗi khiếp hãi khiến y lấy lại được can đảm, cuống cuồng kêu lên:

- Xin dừng lại! xin dừng lại! Tôi sẽ đi... Tôi sẽ đi!...

D Artagnan cầm lấy súng của tên lính, bắt nó đi trước, tỳ mũi gươm vào mạng mỡ đẩy nó đến chỗ bạn nó.

- Thật là một điều ghê rợn khi nhìn tên khốn kiếp để lại trên đường nó đi qua một vệt máu dài, mặt tái nhợt vì cầm bằng cái chết, cố lê đi để không bị phát hiện tới chỗ xác tên đồng mưu nằm chết cách đó hai mươi bước! Nỗi khiếp hãi in lên trên khuôn mặt lạnh toát mồ hôi, khiến D Artagnan động lòng thương, chàng nhìn y một cách khinh bỉ và bảo y:

- Nghe đây, ta sẽ tỏ ra cho mày thấy sự khác nhau giữa một con người dũng cảm và một kẻ hèn nhát như mày. Mày cứ ở lại, tao đi tiếp.

Và với bước chân nhanh nhẹn, mắt theo dõi, quan sát những động thái của quân thù, lợi dụng những địa hình lồi lõm, chàng đến được chỗ tên lính thứ hai.

- Có hai cách đạt được mục đích của mình: lục soát ngay tại chỗ hoặc lôi hắn đi dùng hắn như một cái khiên che thân chàng rồi lục soát hắn trong đường hào.

D Artagnan thích dùng cách thứ hai hơn và xốc tên sát thủ lên vai vừa đúng lúc hỏa lực của địch quân bắn ra. Một cái giật nhẹ, tiếng kêu đục của ba viên đạn cắm vào thịt, một cái rùng mình hấp hối đã chứng tỏ cho D Artagnan thấy kẻ địch ám sát chàng vừa cứu mạng chàng.

D Artagnan về tới đường hào, ném cái thây ma xuống cạnh tên bị thương cũng nhợt nhạt như một người chết.

Ngay tức khắc chàng bắt đầu lục soát xác chết: một ví da, một túi tiền đương nhiên có một nửa số tiền tên cướp đã nhận được, một ống sừng gieo xúc xắc và mấy con xúc xắc, hợp thành tài sản của kẻ bị chết.

Chàng để mặc ống gieo và xúc xắc rơi ra đất, ném túi tiền cho tên bị thương và mở ví ra.

Giữa vài thứ giấy tờ không quan trọng, chàng tìm thấy bức thư, chính là bức thư chàng đã liều mạng để tìm ra.

"Một khi các anh đã mất dấu vết của mụ đàn bà và bây giờ mụ đang an toàn trong một tu viện mà các anh đáng lẽ không được để mụ đến đó, vậy hãy cố ít nhất đừng để hụt gã đàn ông. Nếu không, các anh sẽ biết ta có bàn tay dài như thế nào và các anh sẽ phải trả đắt món một trăm đồng louis nhận của ta".

Không có chữ ký. Tuy nhiên rõ ràng bức thư là của Milady.

Do đó, chàng giữ nó như một tang chứng và để an toàn, chàng tiến hành thẩm vấn tên bị thương ở góc chiến hào. Tên này thú nhận cùng với bạn mình, vẫn cái tên vừa bị giết ấy, được giao trách nhiệm bắt cóc một thiếu phụ sẽ phải ra khỏi Paris qua trạm La Vilét nhưng vì dừng lại chén chú chén anh trong một quán rượu, chúng tóm hụt chiếc xe mươi phút.

- Nhưng chúng bay sẽ làm gì người đàn bà ấy? - D Artagnan lo lắng hỏi.

- Chúng tôi phải giao người ấy cho một tòa nhà ở quảng trường Hoàng gia - Tên bị thương nói.

- Đúng rồi! Đúng rồi! - D Artagnan lẩm bẩm - Đúng là như vậy, đến chính nhà Milady.

Lúc đó, D Artagnan mới rùng mình hiểu ra cơn khát trả thù khủng khiếp đã đẩy mụ đàn bà đó đến mức làm hại chàng và cả những người rất mực yêu chàng, và một khi mụ đã phát hiện ra tất cả như thế, đủ biết mụ thông thạo công việc triều chính đến thế nào. Chắc chắn mụ phải lấy những tin tức Từ Giáo chủ.

Nhưng ở giữa tất cả mọi cái đó, chàng hiểu, với một tình cảm vui mừng thực sự là Hoàng hậu cuối cùng đã tìm ra nhà tù mà nàng Bonacieux tội nghiệp vì tận tậm hết sức phải chịu, và đã giải thoát nàng khỏi nhà tù đó. Vậy là bức thư chàng nhận được của thiếu phụ và việc nàng đi qua con đường Sayô, đi qua như một sự hiện hình đã được giải thích rõ.

Từ đó, như Athos đã tiên đoán, có thể tìm lại được bà Bonacieux và một tu viện không phải là không với tới được.

Nghĩ vậy nên lòng độ lượng trở lại với chàng. Chàng quay lại tên bị thương đang lo lắng theo dõi những biểu hiện khác nhau trên nét mặt chàng và chìa cánh tay ra bảo:

- Vịn vào đây rồi cùng trở về chiến tuyến, tao không muốn bỏ lại mày như thế.

- Vâng - Tên bị thương không tin nổi có sự đại lượng đến thế - Nhưng không phải để treo cổ tôi lên đấy chứ?

- Mày đã được tao hứa rồi - Chàng nói - và lần thứ hai, tao hứa tha chết cho mày.

Tên bị thương liền quỳ xuống và lại hôn chân lần nữa người đã tha mạng hắn, nhưng D Artagnan không có lý do nào để cảm nhận quá gần kẻ thù như thế, liền cắt phăng những biểu lộ biết ơn ấy đi.

Người lính cận vệ trở về sau loạt súng đầu tiên của pháo lũy đã báo bốn đồng đội bị chết cả, nay thấy chàng trai trẻ lại hiện ra bình an vô sự, mọi người trong binh đoàn đều hết sức ngạc nhiên và vui sướng.

D Artagnan giải thích vết gươm đâm của tên đồng đội bằng cách bịa ra chuyện phá vây. Chàng kể lại cái chết của tên lính kia và những nguy hiểm mà họ đã trải qua. Câu chuyện kể lại đối với chàng là một cuộc khải hoàn đích thực. Toàn đơn vị nói suốt ngày về cuộc trinh sát này và Đức ông đã gửi lời khen ngợi và chúc mừng chàng.

Hơn nữa, vì mọi hành động đẹp đẽ đều đáng được phần thưởng của chính nó nên hành động đẹp đẽ của D Artagnan cũng có kết quả là trả lại cho chàng sự bình yên đã mất. Quả vậy, D Artagnan tin có thể được bình yên, vì hai kẻ thù, một đã bị chết, và kẻ kia trở nên trung thành với chàng.

Sự bình yên này chứng tỏ một điều, là D Artagnan còn chưa hiểu hết Milady.

Chương 42

Rượu vang Ăngju.

Sau những tin gần như thất vọng về nhà Vua, tin đồn Ngài đã bình phục lại bắt đầu lan ra khắp chiến tuyến, và vì nhà Vua rất vội thân chinh tới vòng vây, người ta còn nói, cưỡi nổi ngựa là nhà vua lên đường ngay.

Trong khi đó, Hoàng đệ biết rằng sớm muộn gì ngài cũng bị mất chức tổng chỉ huy hoặc bởi Quận công Ănggulêm, hoặc ông Bassompirre hay Xkombéc đang tranh giành nhau chức ấy, nên Ngài không làm gì mấy, thường cứ mất hàng ngày trời vào những việc thăm dò, và không dám mở một trận đánh lớn để đuổi quân Anh khỏi đảo Rê, nơi chúng đang bao vây thành Saint-Martin và pháo đài Laprê, trong khi về phía mình, quân Pháp vây thành Rochelle.

D Artagnan như đã nói, trở nên điềm tĩnh hơn lúc bình thường, sau trận nguy hiểm đã qua, và khi mối nguy đã hình như tàn lụi - lúc đó chàng chỉ còn một điều lo lắng là không hề được tin tức gì về các bạn mình.

Nhưng, một buổi sáng đầu tháng mười một, tất cả đều được giải thích bằng một bức thư gửi từ Vilroa.

"Thưa ông D Artagnan.

Các ông Athos, Porthos, và Aramis, sau một bữa tiệc lớn tại chỗ tôi, đã quá vui và gây chuyện ầm ĩ khiến ông hiên binh của pháo đài, một người rất cứng rắn đã phạt cấm trại họ mấy ngày.

Nhưng tôi phải hoàn tất lệnh của mấy ông trao cho tôi là gửi đến ông một tá chai vang Ăngju của tôi mà các ông ấy rất ngưỡng mộ. Họ muốn ông uống thử rượu vang các ông ấy chuộng để chúc sức khỏe các ông ấy.

Tôi đã làm việc đó và xin trân trọng kính chào ông.

Kẻ rất hân hạnh được phục vụ ông tận tình

Gôđô,

Chủ lữ quán của các ngài ngự lâm quân".

- Tuyệt vời! - D Artagnan reo lên - họ nghĩ đến ta trong lúc họ vui chơi, không như ta nghĩ đến họ lúc ta phiền muộn. Nhất định ta sẽ uống chúc sức khỏe họ với tất cả tấm lòng của ta nhưng ta sẽ không uống một mình.

- Và D Artagnan chạy đến hai chàng cận vệ thân thiết với chàng hơn cả mời họ uống với chàng món Ăngju mê hồn gửi từ Vilơroa đến. Nhưng một người đã được mời ngay tối đó, còn người kia được mời hôm sau mất rồi, đành để ngày hôm sau nữa tụ hội với nhau vậy.

Khi trở về, D Artagnan sai đem gửi mười hai chai vang tại quầy rượu của quân cận vệ, dặn họ giữ cẩn thận cho. Rồi đến ngày long trọng, bữa trưa được ấn định lúc mười hai giờ trưa.

Từ chín giờ, D Artagnan đã sai Planchet chuẩn bị đầy đủ.

Planchet hoàn toàn kiêu hãnh đã được nâng lên hàng quản gia, quyết định hoàn thành nhiệm vụ của mình như một người thông minh. Để làm việc đó có hiệu quả, gã nhờ một người hầu của một thực khách của chủ mình đến phụ giúp, tên là Fuarô và cái tên lính giả mạo đã từng muốn giết D Artagnan, không thuộc đơn vị nào, đã vào phục vụ D Artagnan hay đúng hơn là phụ việc cho Planchet, từ khi D Artagnan cứu mạng hắn.

Giờ dự tiệc đã tới, hai thực khách đến ngồi vào chỗ, các món ăn được bày thành hàng trên bàn, Planchet tay khoác khăn đứng hầu, Fuarô mở nút chai, và Bridơmông, tên của kẻ đã bình phục chuyển rượu vang bị nổi bọt do sóc ở dọc đường sang một cái bình nhỏ. Chai rượu đầu tiên hơi bị cặn ở đáy chai, Bridơmông rót chỗ rượu cặn vào một cốc, D Artagnan cho phép hắn uống cốc vang cặn vì thấy tên tội nghiệp đó vẫn còn yếu quá.

Thực khách sau khi chén món xúp khai vị, vừa đưa cốc lên môi thì bất thình lình, tiếng đại bác đùng đoàng ở pháo đài Louis và pháo đài Nớp.

Mấy người lính cận vệ tin là một cuộc đột kích của bọn bị bao vây hoặc của quân Anh, vồ lấy gươm. D Artagnan không kém nhanh nhẹn, cũng làm như họ, rồi cả ba cùng chạy về vị trí của mình.

Nhưng vừa ra khỏi quầy rượu, họ thấy ngay nguyên nhân tiếng nổ đó. Những tiếng hô: "Đức Vua muôn năm! Giáo chủ muôn năm!" vang động khắp bốn bề và tiếng trống khua khắp mọi hướng.

Quả vậy, nhà Vua sốt ruột như người ta nói, đã đi gấp đôi các chặng đường, vừa mới tới với cả triều đình và mười nghìn quân tiếp viện, ngự lâm quân đi trước và theo sau. D Artagnan đứng làm hàng rào cùng với đại đội của mình, ra hiệu chào các bạn mình cũng đang dõi mắt nhìn chàng. Và ông De Treville nhận ra chàng trước tiên.

Lễ đón tiếp đã xong, bốn người bạn ôm chầm lấy nhau.

- Mẹ kiếp! - D Artagnan kêu lên - Không thể nào đến đúng lúc hơn thế này nữa. Thịt còn chưa kịp nguội! Phải thế không các vị?

Chàng quay lại hai người lính cận vệ hỏi và giới thiệu với các bạn mình.

- Chà chà! - Hình như chúng ta chén tiệc thì phải Porthos nói.

- Mình hy vọng - Aramis nói - không có đàn bà trong bữa chén.

- Có món rượu khớ khớ nào trong lều của cậu không? Athos nói.

- Ồ mẹ kiếp! Có rượu của chính bọn anh mà, bạn thân mến ạ! D Artagnan trả lời.

- Rượu của bọn mình? - Athos ngạc nhiên.

- Phải, loại các anh gửi cho tôi ấy.

- Bọn mình gửi cho cậu rượu vang ư?

- Thôi đi, các anh biết quá rồi, cái thứ vang từ nho đồi Ăngju ấy?

- Phải, mình thừa biết loại vang cậu định nói.

- Thứ vang anh thích ấy.

- Chắc chắn rồi, khi mình không có sâmbanh sămbéctanh.

- Vậy thì, do không có sâmbanh hay sămbéctanh, thì anh bằng lòng tạm loại này vậy.

- Vậy bọn mình, lũ sành rượu gừi vang Ăngju đến cho cậu thật à?

- Ồ không, đó là vang mà nhân danh các anh, người ta gửi cho tôi.

- Nhân danh bọn mình? - Cả ba người ngự lâm cùng hỏi. - Là cậu ư, Aramis - Athos - cậu đã gửi vang đến?

- Không, còn cậu, Porthos?

- Không, còn anh thế nào, Athos?

- Không.

- Nếu không phải các anh - D Artagnan nói - thì là chủ quán của các anh.

- Chủ quán của bọn mình?

- Chứ gì nữa! Chủ quán của các anh, lão Gôđô, chủ lữ quán ngự lâm.

Porthos nói:

- Mẹ kiếp, của đếch ai chẳng được, cần cóc gì, cứ nếm thử, nếu ngon thì ta uống.

- Không được - Athos nói - không được uống thứ rượu vang không rõ nguồn gốc.

- Anh nói đúng, Athos - D Artagnan nói - Không ai trong các anh trao cho chủ quán việc gửi vang cho tôi phải không?

- Không! Thế mà nó lại nói bọn mình bảo gửi cho cậu? Bức thư đây! - D Artagnan nói và đưa mẩu thư ngắn cho các bạn xem.

- Không phải chữ của hắn? - Athos nói - Tôi biết chữ hắn mà.

- Chính tôi trước khi đi đã thanh toán cho cả bọn với hắn.

Porthos nói:

- Thư giả mạo, bọn mình có bị phạt cấm trại đâu.

D Artagnan - Aramis nói bằng giọng trách móc - làm sao cậu có thể tin được bọn mình lại làm ầm ĩ?

D Artagnan tái người, chân tay run lên bần bật.

- Mày làm tao sợ đấy - Athos nói và chỉ mày tao trong những trường hợp trọng đại - Có chuyện gì xẩy ra vậy?

- Chạy thôi, chạy thôi, các bạn! - D Artagnan kêu lên - một mối nghi ngờ khủng khiếp vừa lọt qua đầu tôi. Lại vẫn là sự trả thù của mụ đàn bà đó chăng?

Đến lượt Athos cũng tái mặt.

D Artagnan lao đến quầy rượu, ba người ngự lâm và hai người cận vệ đi theo.

Vật đầu tiên đập vào mắt D Artagnan khi bước vào phòng ăn là Bridơmông đang nằm lăn dưới đất, lăn lóc và quằn quại dữ dội.

Planchet và Fuarô tái nhợt như những xác chết đang cố cứu hắn, nhưng rõ ràng mọi sự cứu giúp đều vô ích. Nét mặt kẻ sắp chết co giật trong cơn hấp hối.

- A? - khi thấy D Artagnan hắn kêu lên - A, thật ghê tởm, ông làm như đã tha tội cho tôi rồi đầu độc tôi!

- Tao! - D Artagnan kêu lên - Tao ư, đồ khốn kiếp! Nhưng mày nói gì vậy?

- Tôi nói rằng chính ông đã cho tôi uống thứ rượu vang đó, tôi nói rằng chính ông đã bảo tôi uống nó, tôi nói rằng ông định trả thù tôi, tôi nói rằng thế là ghê tớm quá!

- Đừng nghĩ như thế, Bridơmông - D Artagnan nói - Đừng tin như thế - Ta xin thề với anh, ta cam kết với anh...

- Ồ nhưng có Chúa ở đó! Chúa sẽ trừng phạt ông! Chúa ơi, cầu Chúa có ngày cho ông ta đau đớn như con đang đau đớn!

- Thề trên Kinh Thánh - D Artagnan vừa kêu lên vừa nhảy xổ đến bên người sắp chết - tôi xin thề với anh rằng tôi không biết rượu vang đó bị cho thuốc độc và tôi cũng sắp uống nó như anh!

- Tôi không tin ông - người kia nói.

Và anh ta thở hắt ra sau khi bị đau đớn gấp bội.

- Khủng khiếp quá! - Khủng khiếp quá! - Athos lẩm bẩm, trong khi đó Porthos đập vỡ các chai rượu và Aramis ra lệnh hơi chậm, đi tìm một thày tu rửa tội.

- Ôi các bạn của tôi ơi! - D Artagnan nói - Các bạn lại đến cứu mạng tôi một lần nữa, không những tôi mà còn cả mấy vị đây nữa. Thưa các vị - Chàng tiếp tục nói với mấy người lính cận vệ - Tôi xin các vị giữ kín mọi chuyện này, những nhân vật quyền thế có thể nhúng vào những việc mà các vị đã nhìn thấy, và điều tồi tệ sẽ rơi lên đầu chúng ta.

- Ôi thưa ông - Planchet như người chết rồi, ấp úng - Ôi thưa ông, may mà tôi thoát đấy!

- Sao, đồ khốn - D Artagnan nói to - Ra mày cũng định uống rượu vang của tao?

- Để chúc sức khỏe nhà Vua mà thưa ông, tôi đang định uống một cốc vơi thôi nếu Fuarô không bảo có người gọi tôi.

- Than ôi! - Fuarô nói, răng vẫn run cầm cập vì sợ hãi - Tôi cũng định đẩy cậu ta đi để uống một mình!

- Thưa các vị - D Artagnan nói với mấy người bạn cận vệ - Các vị cũng hiểu một bữa tiệc như thế chỉ có thể rất đáng buồn sau những gì vừa xảy ra, như vậy xin nhận cho mọi lời xin lỗi của tôi và xin khất bữa tiệc vào một ngày khác.

Hai người lính cận vệ lịch thiệp nhận lời xin lỗi của D Artagnan và hiểu bốn người muốn được ở riêng với nhau, họ rút lui.

Khi chỉ còn lại bốn người, họ nhìn nhau như muốn nói ai nấy đều hiểu tình cảnh nghiêm trọng.

- Trước hết - Athos nói - Ta hãy ra khỏi cái phòng này - Dây dưa với người chết chỉ có dại, lại chết vì bạo lực nữa.

- Planchet! - D Artagnan nói - Ta giao cho anh thi thể của con người xấu số này. Phải được chôn nơi đất thánh. Anh ta phạm một tội. Đúng vậy. Nhưng anh ta đã hối hận rồi.

Và bốn người bạn ra khỏi phòng, để mặc Planchet và Fuarô lo việc mai táng cho Bridơmông.

Chủ quán đưa họ tới một phòng khác, đem lên món trứng nhúng lòng đào và nước thì Athos tự mình đi múc ở suối về.

Bằng vài câu thôi, Porthos và Aramis đều hiểu ngay được tình thế.

- Thế đấy? - D Artagnan bảo Athos - Anh thấy đấy, bạn thân mến, đây là một cuộc chiến sinh tử.

Athos lắc đầu:

- Phải - Chàng nói - tôi thấy rõ lắm, nhưng cậu tin đúng là mụ ta.

- Tôi tin chắc.

- Thế mà tôi xin thú thực với cậu tôi còn ngờ đấy.

- Nhưng còn bông huệ trên vai thì sao?

- Đó là một mụ đàn bà người Anh mắc tội gì đó ở Pháp, và người ta đóng dấu chín để ghi tội phạm đó.

- Athos, đó là vợ anh, tôi bảo thật anh đấy - D Artagnan nhắc lại, vậy anh không nhớ hai cái dấu chín ấy giống nhau đến thế nào ư?

- Thế nhưng mình vẫn tin là cô kia chết rồi, mình đã treo cổ ả rất cẩn thận cơ mà.

Đến lượt D Artagnan phải lắc đầu.

- Nhưng chung quy phải làm gì nào? - chàng trai trẻ hỏi.

- Sự thể là người ta không thể cứ để một thanh gươm treo mãi trên đầu mình như thế - Athos nói - Phải thoát ra khỏi tình cảnh này.

- Nhưng thoát ra thế nào?

- Nghe đây, cố gắng nối lại với mụ và giải thích với mụ, hãy bảo mụ: Hòa bình hay chiến tranh đây! Ta lấy danh dự một nhà quý tộc thề với nàng rằng sẽ không bao giờ nói động đến nàng, sẽ không bao giờ làm gì chống lại nàng, về phía nàng, hãy long trọng thề sẽ trung lập đối với ta. Nếu không ta sẽ tìm ông chánh án, ta sẽ tìm đến tận đức Vua, ta sẽ tìm đao phủ, ta sẽ kích động triều đình chống lại nàng, ta sẽ tố cáo nàng đã bị đóng dấu chín, ta sẽ đưa nàng ra tòa, và nếu người ta tha tội cho nàng, Ồ, ta sẽ giết nàng, ta thề danh dự của một nhà quý tộc, giết nàng ở xó xỉnh nào đó như giết một con chó dại.

- Tôi cũng thích cách ấy đấy - D Artagnan nói - Nhưng làm thế nào liên hệ được với mụ?

- Thời gian, bạn thân mến, thời gian đem lại cơ hội. Cơ hội, đó là canh bạc tố thêm tiền của con người. Càng tố thêm, lại càng được bẫm nếu người ta biết chờ đợi.

- Được, nhưng chờ đợi, khi xung quanh đầy sát thủ và những kẻ đầu độc mình ư?

- Chứ sao? - Athos nói - Chúa đã canh giữ cho ta đến nay, Chúa sẽ còn canh giữ cho chúng ta.

- Phải, chúng ta, vả lại chúng ta, chúng ta là những thằng đàn ông, chấp nhận tất, không kể chi đến tính mạng, nhưng mà nàng? - Chàng nói thêm bằng giọng khe khẽ.

- Nàng nào? - Athos hỏi.

- Constance ấy.

- Bà Bonacieux ư! A, đúng rồi! - Athos nói - Anh bạn đáng thương! Tôi quên là cậu đang si tình.

- Khoan nào - Aramis nói - thế cậu đã chẳng xem bức thư cậu tìm thấy ở tên khốn kiếp bị chết là nàng đang ở trong một tu viện ư? Ở tu viện thì yên tâm lắm rồi - Chừng nào cuộc bao vây thành La Rochelle kết thúc ngay tức khắc về phần mình, mình xin hứa với cậu...

- Tốt! - Athos - Tốt lắm! Phải, Aramis thân mến ạ, chúng mình biết nguyện vọng của cậu là hướng về tôn giáo.

- Tôi chỉ là ngự lâm quân tạm thời thôi - Aramis nhã nhặn nói.

- Có vẻ như đã lâu anh chàng không nhận được tin tức của người tình - Athos nói rất khẽ - nhưng đừng bận tâm, chúng mình đều biết chuyện đó mà.

- Ồ! Porthos nói - Tôi thấy hình như có một cách rất đơn giản.

- Cách gì? - D Artagnan hỏi

- Nàng ở trong một tu viện, cậu nói thế phải không? - Porthos hỏi lại.

- Phải - Thế thì, cuộc bao vây kết thúc một cái, chúng ta bốc ngay nàng ra khỏi tu viện.

- Nhưng còn phải biết tu viện nào đã chứ?

- Đúng vậy, - Porthos nói.

- Nhưng tôi nghĩ rồi - Athos nói - Này D Artagnan, có phải cậu cho là chính Hoàng hậu đã chọn tu viện ấy cho nàng không?

- Đúng, ít ra tôi cũng tin như thế.

- Thế thì Porthos sẽ giúp được chúng ta trong chuyện này rồi.

- Vậy làm thế nào, làm ơn nói cho biết?

- Thì bằng bà Hầu tước, bà Công tước, bà Quận chúa của cậu, bà ấy chắc phải có cánh tay dài.

- Suỵt! - Porthos để ngón tay lên môi - mình tin nàng thuộc phái Giáo chủ và chắc không biết gì đâu.

- Vậy thì - Aramis nói - tôi xin đảm nhiệm, sẽ có được tin tức.

- Cậu, Aramis ư? - Cả ba cùng reo lên - Cậu ư và làm thế nào?

- Qua thày tư tế của Hoàng hậu, người có quan hệ mật thiết với tôi Aramis vừa nói vừa đỏ mặt.

Và được đảm bảo như thế, bốn người bạn đã ăn xong bữa cơm đạm bạc, liền chia tay nhau và hứa ngay tối đó sẽ lại gặp nhau.

D rtagnan quay lại Minim, và ba người ngự lâm thì trở về khu nhà Vua ngự.

Chương 43

Quán trọ chuồng bồ câu đỏ

Trong khi đó, nhà Vua vừa mới đến, đã rất vội vã giáp mặt kẻ thù với lý do giống hệt như Giáo chủ và chia sẽ cùng Giáo chủ mối căm hận chống lại Buckingham, muốn bố trí tất cả mọi lực lượng, trước hết để đánh đuổi quân Anh khỏi đảo Rê, tiếp đó siết chặt thêm vòng vây La Rochelle. Nhưng dù muốn vậy, nhà Vua vẫn không vội được do những bất hòa đã nổ ra giữa các vị

De Bassompirre và Skombéc chống lại Quận công Ănggulêm.

De Bassompirre và Xkombée là Thống chế nước Pháp và họ đòi quyền chỉ huy quân đội dưới mệnh lệnh của nhà Vua, nhưng Giáo chủ lại sợ Batxompie, trong lòng mang tinh thần giáo phái Tin lành sẽ không cho quân ép mạnh bọn Anh và bọn La Rochelle, những giáo hữu của ông ta, nên Giáo chủ trái lại đã đẩy Quận công Ănggulêm lên xui Vua phong ông ta chức trung tướng. Kết quả là vì lo Bassompirre và Xkombée làm suy yếu tinh thần quân đội, người ta buộc phải để mỗi người chỉ huy một mặt trận riêng.

Bassompirre giữ các khu phía bắc thành phố từ sông La Lơ đến Đôngpie, Quận công Ăngulêm phía đông và Xkombéc cánh quân trung tâm từ Pêrfmky đến Ăngutanh. Hành dinh của Hoàng đệ ở Đôngpie.

Hành dinh của nhà Vua lúc ở Éttrê lúc ở Lajari.

Cuối cùng hành dinh của Giáo chủ là trên các đụn cát ở cầu La Pie, trong một ngôi nhà đơn giản không có công sự.

Theo cách đó Hoàng đệ sẽ giám sát Bassompirre, nhà Vua giám sát Công tước Ăngulêm và Giáo chủ giám sát ông Xkombéc.

Sau khi đã bố trí như vậy xong, họ lập tức lo chuyện đánh đuổi quân Anh khỏi đảo Rê.

Thời cơ đang thuận lợi. Quân Anh trước hết cần phải có lương thực thực phẩm tốt cho binh lính tốt, lại chỉ được ăn thịt ướp muối, và lương khô tồi, đã có những người bị ốm trong doanh trại. Đã thế, vào mùa này trong năm, biển động dữ dội khắp ven bờ đại dương, ngày nào cũng làm những thuyền nhỏ hư hỏng và bãi biển từ mũi Eghiông đến chiến hào mỗi khi thủy triều lên lại phủ đầy những mảnh vỡ của thuyền thoi, xuồng và thuyền buồm có tay chèo. Kết quả là binh lính của nhà Vua cũng phải ở lì trong trại, đương nhiên Buckingham, vẫn còn trụ lại ở đảo do bướng bỉnh buộc lòng sớm muộn phải bỏ vây.

Nhưng vì ông De Toiras lại loan tin doanh trại quân thù đang chuẩn bị một cuộc tập kích mới, nhà Vua quyết định phải thanh toán chuyện này và ban những mệnh lệnh cần thiết để giải quyết dứt điểm việc này.

Cuộc tấn công thành công đến mức khiến nhà Vua vô cùng kinh ngạc và đem lại vinh quang lớn cho Giáo chủ. Quân Anh bị đẩy lùi từng bước, bị đánh bại trong mọi cuộc giáp chiến, bị đè bẹp trên con đường qua đảo Loa buộc phải xuống tàu, bỏ lại trên chiến trường hai nghìn người trong đó có năm đại tá, ba trung tá, hai trăm năm mươi đại úy, và hai mươi nhà quý tộc danh giá, bốn khẩu đại bác và sáu mươi lá cờ được Clốt de Saint-Simon đem về Paris trang trí dưới các vòm cửa nhà thờ Đức Thánh ca tạ ơn được hát khắp mọi nơi và rồi từ đó lan ra khắp nước Pháp.

Giáo chủ vì vậy được tự do theo đuổi cuộc bao vây, tạm thời ít ra cũng không phải e ngại về phần quân Anh nữa.

Nhưng sự nghỉ ngơi chỉ là tạm thời.

Một phái viên của Công tước De Buckingham, tên là Môngtequy bị bắt giữ và người ta đã thu được bằng chứng một sự liên minh giữa các đế chế Tây BanNha, Anh quốc và vùng Loren.

Liên minh đó hướng vào việc chống nước Pháp.

Thêm nữa, trong hành dinh của Buckingham mà ông ta buộc phải vội vã bỏ lại một cách không ngờ tới, người ta tìm thấy những giấy tờ khẳng định liên minh đó và như giáo chủ cam đoan trong những tập hồi ký của mình, đều phương hại nhiều đến bà De Chevreuse và do đó cả Hoàng hậu nữa.

Trách nhiệm đè nặng lên chính Giáo chủ, bởi không thể là một Thủ tướng chuyên chế mà lại không chịu trách nhiệm. Vì thế đầu óc của thiên tài rộng lớn của ông ngày đêm bị căng ra, và bận rộn nghe ngóng từng tin đồn nhỏ bung ra từ một trong những vương quốc của châu Âu.

Giáo chủ biết rõ hoạt động và nhất là lòng hận thù của Buckingham. Nếu liên minh đe dọa nước Pháp thắng lợi, mọi ảnh hưởng của ông sẽ tiêu tan, chính trị Tây Ban Nha và chính trị Áo quốc sẽ có những đại diện trong triều đình Louvre, nơi lúc này họ mới chỉ có những tên bè phái. Chính ông, Richelieu, thủ tướng Pháp, một Thủ tướng ưu tú của quốc gia cũng tiêu ma.

Nhà Vua hoàn toàn phục tùng ông, căm ghét ông như một đứa trẻ như nó căm ghét ông thầy của mình và sẽ bỏ rơi ông, mặc cho Hoàng đệ và Hoàng hậu trả thù. Vậy là ông sẽ đi toi, và có thể cả nước Pháp theo ông. Phải ngăn chặn lại tất cả những cái.

Vì thế, người ta thấy những phu trạm mỗi lúc một nhiều hơn ngày đêm kế tiếp nhau đến ngôi nhà nhỏ ở cầu Pi-e nơi Giáo chủ thiết lập hành dinh của mình.

Đó là những thày tu khoác vụng về chiếc áo tu hành mà người ta dễ nhận ra họ hầu hết thuộc giáo phái Thánh chiến, là những phụ nữ hơi vụng về trong y phục thị đồng mà những ống quần không thể che nổi hoàn toàn vẻ ngoài mũm mĩm, cuối cùng là những nông dân với hai bàn tay đen nhẻm, nhưng chân lại mảnh mai và cách xa một dặm đã sặc mùi phẩm giá.

Rồi còn những cuộc thăm viếng khác kém thi vị hơn, bởi hai ba lần từ đấy loan ra tin đồn Giáo chủ bị ám sát hụt.

Đúng là những kẻ thù của Đức ông đã tuyên bố chính Đức ông đã từng phái những sát thủ vụng về đi hành thích, cốt để khi lâm sự có quyền sử dụng việc báo thù. Nhưng không nên tin vào các vị bộ trưởng nói cũng như chẳng nên tin vào những gì kẻ thù đã nói ra.

Vả lại điều đó cũng không ngăn nổi Giáo chủ, mà những kẻ phỉ báng ông gay gắt nhất cũng chưa bao giờ bác bỏ lòng can trường của ông, khi ông tiến hành những chuyến đi đêm khi thì để thông báo cho Quận công Ănggulêm những mệnh lệnh quan trọng, khi thì để đến thống nhất với nhà Vua, khi thì đến hội đàm với một sứ giả nào đó mà ông không muốn người ta để viên này đến chỗ ông.

Về phần mình, những ngự lâm quân chẳng có việc gì lớn phải làm trong cuộc vây thành, nên không bị quản lý nghiêm ngặt lắm, và được sống thảnh thơi vui vẻ. Điều đó đối với ba chàng lại càng dễ dàng hơn, nhất là họ đều là những người thân thiết của ông De Treville, họ được ông cho phép dễ đàng về muộn và được lưu lại bên ngoài sau giờ cấm trại với sự cho phép đặc biệt.

Một tối, D Artagnan phải ở chiến hào không thể đi theo họ được, Athos, Porthos và Aramis cưỡi trên ba con ngựa chiến, mặc áo khoác nhà binh, tay để trên cò súng ngắn, từ một quán rượu ra về, cái quán rượu đó, Athos đã phát hiện ra hai ngày trước đây trên đường Lajari và người ta gọi là quán Chuồng chim câu Đỏ. Họ đi theo con đường dẫn về doanh trại, luôn ở tư thế phòng bị vì sợ bị phục kích, khi đến cách làng Boana khoảng một phần tư dặm, họ nghe tiếng vó ngựa phi về phía họ. Cả ba liền dừng ngay lại, đứng sát vào nhau ở giữa đường và đợi xem chuyện gì. Một lát sau, khi trăng vừa ló ra khỏi một đám mây, họ thấy ở chỗ ngoặt của con đường hai kỵ sĩ. Thấy họ, hai người này cũng dừng lại, hình như bàn với nhau cứ tiếp tục lên đường hay quay lại phía sau. Sự ngập ngừng đó khiến ba người bạn nghi ngờ, và Athos tiến lên mấy bước, quát lên bằng một giọng đanh thép:

- Ai?

- Vậy chính các người là ai? - Một trong hai kỵ sĩ trả lời.

- Thế không phải là trả lời! - Athos nói - Ai? Nói ngay không chúng ta bắn.

Thế là một giọng ngân lên có vẻ như đã quen với việc ra lệnh:

- Hãy coi chừng điều đang định làm đấy, các vị!

- Hình như đó là một sĩ quan cao cấp nào đó đi tuần đêm - Athos nói - Các vị muốn làm gì?

- Các ông là ai đã? - Vẫn cái giọng chỉ huy ấy nói - hãy trả lời đi, nếu không các ông có thể gặp chuyện không may vì tội không phục tùng đó.

- Ngự lâm quân của nhà Vua - Athos nói, mỗi lúc càng tin hơn người đang hỏi bọn chàng có cái quyền đó.

- Đại đội nào?

- Đại đội ông De Treville.

- Tiến lên theo lệnh ta, và báo cáo rõ các người làm gì ở đây vào giờ này.

Cả ba người bạn cùng tiến lên, tai hơi cúp xuống, bởi cả ba lúc này đều tin là họ đang gặp chuyện với những người mạnh hơn họ.

Một trong hai kỵ sĩ, người lần sau lên tiếng đó tiến lên mười bước trước người đồng bọn. Athos ra hiệu cho Porthos và Aramis cứ ở lại phía sau, rồi một mình tiến lên.

- Xin lỗi, ngài sĩ quan! - Athos nói - nhưng chúng tôi không biết chúng tôi đang tiếp chuyện ai, và ngài có thể thấy chúng tôi phải đề phòng rất cẩn thận.

- Tên ông? - Viên sĩ quan nói, và che mặt bớt đi bằng áo khoác.

- Nhưng tên ông đã, thưa ông - Athos nói, và bắt đầu nổi cáu trước sự lục vấn này - Xin ông hãy cho tôi rõ bằng chứng ông có quyền thẩm vấn tôi.

- Tên ông? - Kỵ sĩ vừa nhắc lại câu hỏi, vừa buông rơi áo khoác để lộ mặt ra.

- Đức ông Giáo chủ! - Chàng ngự lâm bàng hoàng kêu lên.

- Tên ông? - Đức ông nhắc lại lần thứ ba.

- Athos - Chàng ngự lâm trả lời.

Giáo chủ ra hiệu cho viên tùy tùng lại gần.

- Ba lính ngự lâm này sẽ theo ta - Ông nói khẽ - Ta không muốn ai biết ta ra khỏi doanh trại, và trong khi đi theo chúng ta, chúng ta tin chắc họ sẽ không nói ra với ai.

- Thưa Đức ông, chúng tôi là những nhà quý tộc - Athos nói - - Xin Đức ông yêu cầu chúng tôi hứa một lời là Đức ông không còn phải lo gì hết. Ơn Chúa, chúng tôi biết giữ bí mật mà.

Giáo chủ chằm chằm đôi mắt sắc nhìn vào kẻ đối thoại dầy dạn:

- Ông Athos, ông có đôi tai thính lắm - Giáo chủ nói - nhưng bây giờ, nghe đây: nếu nghi ngờ ta đã không yêu cầu ông đi theo ta, mà chính để ta được an toàn. Chắc hẳn hai người bạn kia của ông là Porthos và Aramis?

- Vâng, thưa Đức ông - Athos nói, trong khi đó hai chàng ngự lâm ở lại phía sau cũng lại gần, tay ngả mũ ra chào.

- Các vị, ta hiểu các vị - Giáo chủ nói - ta biết các vị không hoàn toàn thuộc loại các bạn ta và ta lấy làm phiền lòng vì điều đó, nhưng ta biết các vị là những nhà quý tộc trung thực và can trường, có thể tin cậy được. Ông Athos, hãy cho ta vinh dự tháp tùng ta, cả ông và hai bạn ông, và thế là ta bỗng có một đoàn hộ tống khiến Hoàng thượng cũng phải ghen thầm nếu chúng ta gặp Người.

Ba người ngự lâm quân cúi rạp mình xuống tận cổ ngựa, Athos nói:

- Ồ, tôi xin lấy danh dự tin rằng Đức ông có lý khi mang chúng tôi đi theo. Chúng tôi đã gặp trên đường những bộ mặt ghê rợn và chúng tôi cũng đã cãi lộn với bốn tên có những bộ mặt ấy ở quán Chuồng chim câu Đỏ.

- Một cuộc cãi lộn à, và tại sao, các vị? - Giáo chủ nói - Ta không thích những cuộc cãi lộn, các ông biết rồi đấy.

- Chính vì thế mà tôi có vinh dự được báo trước cho Đức ông những gì vừa xảy ra, Đức ông có thể biết được điều đó qua người khác chứ không phải qua chúng tôi, và trên cơ sở một báo cáo sai, ngài có thể tưởng rằng chúng tôi có lỗi.

Giáo chủ nhíu lông mày hỏi:

- Và kết quả của cuộc cãi lộn?

- Dạ, ông bạn Aramis của tôi đây bị mỗi một mũi gươm nhẹ vào cánh tay, điều đó sẽ không thể ngăn nổi ông ấy, như Đức ông có thể thấy, ngày mai ông ấy vẫn leo lên xung phong nếu Đức ông ra lệnh công thành.

- Nhưng các ông không phải những người dễ bị gươm đâm như thế - Giáo chủ nói - nào, nói thực đi, các vị, các vị chắc đã trả đũa được vài tên, thú nhận đi, các vị biết ta có quyền đặc xá mà.

- Thưa Đức ông, tôi đâu có được gươm trong tay, nhưng tôi túm lấy kẻ có chuyện với tôi trong hai cánh tay và ném nó qua cửa sổ, hình như khi rơi - Athos tiếp giọng ngập ngừng, - nó bị gẫy đùi.

- Chà, chà! - Giáo chủ nói - Còn ông, Porthos?

- Tôi, thưa Đức ông, tôi biết quyết đấu bị cấm, tôi cầm chiếc ghế dài và tôi choang cho tên cướp một đòn, tôi tin nó bị gãy vai.

- Được - Giáo chủ nói - Còn ông, ông Aramis?

- Tôi, thưa Đức ông, vì tôi bẩm tính rất hiền lành và hơn nữa, có thể Đức ông chưa biết, tôi đang định thụ giáo, tôi muốn ngăn các bạn tôi ra, thì một tên trong lũ khốn kiếp ấy đã phản trắc đâm tôi một mũi gươm vào tay trái, thế là tôi không kiên nhẫn được nữa, tôi cũng tuốt gươm ra và vì nó lại xông vào tấn công, tôi cảm thấy khi chồm lên tôi, nó bị gươm xuyên qua người, tôi chỉ biết nó ngã lăn ra và hình như người ta khênh nó và hai tên đồng bọn đi.

- Đồ quỷ, lũ các ông! - Giáo chủ nói - ba người bị loại khỏi vòng chiến đấu vì một cuộc cãi lộn nơi quán rượu, các ông không nhẹ tay được sao, mà về chuyện gì đến nỗi sinh cãi nhau?

- Bọn khốn ấy say - Athos nói - và biết có một người đàn bà đã đến tửu quán lúc tối, chúng định phá cửa phòng.

- Phá cửa phòng? - Giáo chủ nói - và để làm gì?

- Chắc để cưỡng bức - Athos nói - tôi đã có vinh dự nói với Đức ông là bọn khốn kiếp ấy say.

- Và người đàn bà đó trẻ và đẹp không? - Giáo chủ hỏi, hơi có vẻ lo lắng.

- Thưa Đức ông, chúng tôi không nhìn thấy bà ta - Athos nói.

- Các ông không nhìn thấy bà ta, chà! Tốt lắm! - Giáo chủ nhanh nhảu nói tiếp - các ông bảo vệ danh dự một phụ nữ như vậy là rất tốt, và vì chính là quán Chuồng chim câu Đỏ, ta phải đích thân đến, ta sẽ biết liệu các ông có nói đúng sự thực với ta không.

- Thưa Đức ông - Athos kiêu hãnh nói - Chúng tôi là những nhà quý tộc và dù để cứu mình khỏi mất đầu, chúng tôi cũng không nói dối một câu.

- Như vậy, ta chẳng còn gì để nghi ngờ điều ông nói nữa, ông Athos ạ, một giây thôi ta cũng không nghi ngờ gì nữa, nhưng... - ông nói thêm để chuyển hướng câu chuyện - người phụ nữ ấy chỉ có một mình à?

- Người phụ nữ ấy có một kỵ sĩ giấu mình trong phòng với bà ta - Athos nói - nhưng mặc cho những tiếng xô xát, gã kỵ sĩ ấy vẫn không ló mặt, có thể cho gã là một thằng hèn.

Giáo chủ đáp lại:

- Kinh thánh nói: "Đừng xét đoán liều!"

Athos nghiêng mình.

- Và bây giờ, tốt lắm - Giáo chủ tiếp tục - ta biết điều ta muốn biết rồi, các ông hãy theo ta.

Ba người lính ngự lâm đi đằng sau Giáo chủ.

Giáo chủ lại kéo áo khoác lên che mặt và cho ngựa đi thong thả, giữ cự ly chừng tám chín bước đằng trước bốn người đồng hành.

Chẳng mấy chốc họ đến chiếc quán trọ im lìm và đơn độc, chắc chắn chủ quán đã biết mình đang chờ một vị khách danh tiếng, do đó, đã tống khứ hết bọn quấy rối đi rồi.

Đến trước cửa quán mươi bước, Giáo chủ ra hiệu cho viên tùy tùng của mình và ba lính ngự lâm dừng ngựa. Một con ngựa yên cương sẵn sàng buộc ở cửa chắn gió, Giáo chủ gõ ba tiếng theo ám hiệu riêng.

Một người khoác áo choàng ra ngay và trao đổi nhanh vài câu với Giáo chủ, sau đó lại lên ngựa ra đi về hướng Xuagerơ cùng hướng về Paris.

- Tiến lên, các ông - Giáo chủ nói - các ông đã nói đúng sự thật, mấy nhà quý tộc của ta ạ - Ông nói thêm với ba chàng lính ngự lâm - Cuộc chạm trán giữa chúng ta tối nay có lợi hay không cho các ông, không phụ thuộc vào ta, trong khi chờ đợi, hãy theo ta.

Giáo chủ xuống ngựa. Ba chàng cùng xuống ngựa theo. Giáo chủ ném cương cho viên tùy tòng, ba chàng buộc ngựa mình vào cửa chắn gió.

Chủ quán đứng đón ở ngưỡng cửa, với hắn, Giáo chủ chỉ là một viên sĩ quan đến thăm một người đàn bà.

- Ông có một cái phòng nào đó ở tầng trệt mà các ông này có thể đợi ta bên lò sưởi ấm không? - Giáo chủ hỏi.

Chủ quán liền mở cửa một căn phòng lớn, trong phòng người ta vừa thay chiếc lò sưởi tồi bằng một lò sưởi mới và rất tốt.

- Tôi có chiếc phòng này.

- Tốt lắm - Giáo chủ nói - Vào đi, các vị và đợi ta, ta sẽ không lâu hơn nửa giờ đâu.

- Và trong khi ba chàng ngự lâm vào căn phòng ở tầng trệt đó, Giáo chủ chẳng cần hỏi han gì thêm nữa, lên thẳng cầu thang như một người không cần phải chỉ đường.

Chương 44

Tiện ích của ống khói lò sưởi.

Rõ ràng là do lòng hào hiệp và ưa mạo hiểm, không ngờ mấy chàng ngự lâm lại trở nên được việc cho một nhân vật nào đấy được Giáo chủ vinh dự che chở đặc biệt.

- Nhưng kẻ đó là ai? Đó là vấn đề trước tiên ba chàng ngự lâm đặt ra. Rồi vì không một câu trả lời nào có thể thỏa mãn được họ bằng óc phán đoán: Porthos gọi chủ quán và hỏi quân xúc xắc.

Porthos và Aramis ngồi vào bàn chơi xúc xắc. Athos vừa đi đi lại lại vừa suy nghĩ, vô tình đi qua chiếc lò sưởi bị gãy một nửa, nửa trên thông với phòng trên. Và mỗi lần đi qua đi lại, chàng lại nghe thấy tiếng thì thầm khiến chàng đâm chú ý.

Athos lại gần và phân biệt được vài câu có vẻ rất đáng quan tâm nên chàng ra hiệu cho các bạn im đi rồi khòng người áp tai vào lỗ dưới của ống khói.

- Nghe đây, Milady - Giáo chủ nói - việc quan trọng đấy, ngồi xuống đi, rồi ta nói chuyện.

"Milady ư?" - Athos lẩm bẩm.

- Tôi đang hết sức chăm chú nghe Đức ông đây - Một giọng đàn bà trả lời làm chàng ngự lâm giật nảy mình.

- Một tàu nhỏ với thủy thủ người Anh, nhưng thuyền trưởng là của ta đang đợi bà ở pháo đài La Poăng tại cửa sông Sarăng. Sáng mai sẽ giương buồm.

- Vậy tôi phải đến đấy đêm nay?

- Ngay bây giờ, nghĩa là khi bà đã nhận được chỉ thị của ta. Hai người bà sẽ gặp ngoài cửa khi đi ra sẽ hộ tống bà, bà để ta ra trước, nửa giờ sau bà hãy ra.

- Vâng, thưa Đức ông. Bây giờ, trở lại nhiệm vụ Đức ông định trao cho tôi. Và vì tôi mong tiếp tục xứng đáng với lòng tin của Đức ông, xin chiếu cố trình bày rõ ràng chính xác cho tôi để sao tôi không phạm bất cứ một sai lầm nào.

Hai người im lặng một lúc lâu. Rõ ràng Giáo chủ đang cân nhắc trước ngôn từ mình sắp nói và Milady đang tập trung hết khả năng trí tuệ để hiểu được những điều ông sắp nói ra và ghi khắc chúng trong trí nhớ của mình.

Athos lợi dụng lúc đó để bảo hai bạn khóa trái cửa lại và ra hiệu đến nghe cùng chàng.

Hai chàng ngự lâm kia thích được thoải mái, mỗi người mang theo một chiếc ghế và thêm một chiếc cho Athos. Cả ba cùng ngồi, đầu chụm lại, tai rình nghe.

- Bà sẽ đi London - Giáo chủ tiếp tục - Đến London, bà sẽ đi tìm Buckingham.

- Tôi xin lưu ý Đức ông - Milady nói - từ khi có vụ những nút kim cương, Quận công luôn nghi ngờ tôi, và không còn mặn mà với tôi mấy.

- Vì vậy lần này - Giáo chủ nói - vấn đề không phải là lấy lại lòng tin của ông ta mà là ra mắt một cách thẳng thắn và trung thực với tư cách một nhà thương thuyết.

- Thẳng thắn và trung thực? - Milady nhắc lại với vẻ mặt hai mang khó tả.

- Phải, thẳng thắn và trung thực - Giáo chủ lắp lại cùng một giọng điệu - Toàn bộ cuộc thương thuyết đó phải được công khai.

- Tôi sẽ tuân theo từng chữ những chỉ dụ của Đức ông và tôi đang đợi ngài trao cho tôi.

- Bà sẽ thay mặt ta tìm gặp Buckingham nói với ông ta rằng, ta biết hết những chuẩn bị ông ta tiến hành, nhưng ta không lo lắng mấy đâu, bởi vì nếu ông ta liều lĩnh, thì ngay từ hành động đầu tiên của ông ta, ta sẽ làm cho Hoàng hậu điêu đứng.

- Liệu ông ta có tin Đức ông sẵn sàng hoàn tất lời đe dọa của mình không?

- Có chứ, bởi ta có những bằng chứng.

- Tôi có nên cho ông ta biết những bằng chứng ấy không?

- Hẳn rồi, và bà hãy nói với ông ta rằng ta sẽ cho công bố báo cáo của Boa Rôbe và Hầu tước de Bôtơruy về cuộc gặp gỡ giữa ông ta và Hoàng hậu tại nhà của phu nhân thống tướng, cái buổi tối mà phu nhân tổ chức vũ hội hóa trang. Bà hãy bảo để ông ta đừng ngờ gì cả, rằng ông ta đến đó bằng trang phục của Đại đế Môgôn(1) mà đáng ra ông hiệp sĩ De Ghiơ phải mặc, và ông ta đã mua nó với giá thỏa thuận là ba nghìn đồng vàng Pítxtơn.

- Hay lắm, thưa Đức ông.

- Mọi chi tiết về việc ông ta ra vào hoàng cung cái đêm ông ta đội lốt tên thầy bói người Italia, bà sẽ bảo cho ông ta biết đừng có nghi ngờ gì nữa về độ chính xác những tin tức của ta, rằng ông ta mặc trong áo khoác một chiếc áo dài trắng lác đác những giọt lệ đen và đầu lâu xương chéo, bởi vì trong trường hợp bất ngờ bị bắt, ông ta phải làm ra như con ma Đàn bà áo trắng, như mọi người đồn đại, lại trở lại điện Louvre mỗi lần có sự cố lớn sắp xảy ra.

- Có thế thôi, thưa Đức ông?

- Bảo ông ta rằng ta biết mọi chi tiết của cuộc phiêu lưu ở Amiêng và ta sẽ viết thành cuốn tiểu thuyết nhỏ, được sắp xếp một cách khéo léo với bố cục của mảnh vườn và chân dung những diễn viên chính của cái kịch cảnh ban đêm đó.

- Tôi sẽ nói cho ông ta nghe điều đó.

- Bảo thêm với ông ta rằng ta tóm được Môngteguy, rằng Môngteguy đã ở trong ngục Bastille, rằng người ta không bắt quả tang bức thư nào trên người hắn, đúng vậy, nhưng cực hình có thể làm hắn khai những gì hắn biết và cả những gì hắn... không biết.

- Tuyệt diệu.

- Cuối cùng hãy thêm rằng Huân tước trong lúc cuống cuồng cuốn gói khỏi đảo Rê, đã để quên trong hành dinh mình bức thư nào đó của bà De Chevreuse, phương hại đặc biệt đến Hoàng hậu ở chỗ nó chứng tỏ không những Hoàng hậu có thể yêu những kẻ thù của nhà Vua, mà bà còn âm mưu với kẻ thù của nước Pháp. Bà nhớ kỹ được tất cả những gì ta nói với bà, phải không?

- Đức ông cứ việc thử xem: vũ hội ở chỗ phu nhân thống tướng, đêm ở điện Louvre này, chiều tối ở chỗ Amiêng, rồi việc bắt giữ Môngteguy, bức thư của bà De Chevreuse.

- Là thế đấy - Giáo chủ nói - là những chuyện ấy đấy, Milady, bà có trí nhớ tốt lắm.

- Nhưng - Người vừa được Giáo chủ tâng bốc nói tiếp - nếu mặc dầu tất cả những lý lẽ đó, Quận công vẫn không chịu và tiếp tục đe dọa nước Pháp?

- Quận công si tình như một thằng điên hoặc đúng hơn là một thằng đần - Richelieu nói tiếp bằng một giọng vô cùng chua chát - giống như lũ hiệp sĩ giang hồ thời xưa, ông ta lao vào cuộc chiến này chẳng qua chỉ để chiếm được mắt những của người đẹp. Nếu ông ta biết rằng cuộc chiến này có thể đáng giá danh dự và có lẽ cả tự do của người đàn bà vương vấn trong tâm trí ông ta như ông ta nói, ta đảm bảo với bà ông ta sẽ quan tâm tới chuyện đó gấp đôi.

Milady muốn thấy rõ ngọn ngành nhiệm vụ sắp được giao nên vẫn gặng hỏi:

- Tuy nhiên nếu ông ta vẫn một mực như thế?

- Nếu ông ta một mực - Giáo chủ nói -... không thể như thế.

- Có thể đấy - Milady nói.

- Nếu ông ta một mực... - giáo chủ dừng một lúc rồi nói tiếp - Nếu ông ta một mực, thì nghe đây, ta sẽ hy vọng vào một trong sự kiện làm thay đổi bộ mặt các quốc gia.

Milady nói:

- Nếu Đức ông vui lòng kể ra cho tôi một vài sự biến như thế trong lịch sử, có thể tôi sẽ chia sẻ niềm tin của Đức ông vào tương lai chăng.

- Thì đấy! Đấy nhé, ví dụ vào năm 1610 - Richelieu nói - do một nguyên nhân gần giống như nguyên nhân khiến Quận công Anh quốc dấy quân, vua Henri IV lưu danh muôn thuở đã xâm lược đồng thời cả xứ Flăngđrơ và nước Ý để tấn công nước Áo đồng thời cả hai mặt, thế là, chẳng phải đã xảy ra một sự biến đã cứu nước Áo ư? Tại sao nhà Vua nước Pháp lại không có được cái may như hoàng đế Áo nào?

- Đức ông, muốn nói đến nhát dao găm ở phố Hàng sắt(2).

- Đúng thế!

- Đức ông không e việc hành hình Ravayắc làm cho những kẻ thoáng có ý nghĩ bắt chước việc đó hoảng sợ sao?

- Ở bất cứ thời kỳ nào và trong bất cứ nước nào, nhất là nếu những nước đó bị chia rẽ về tôn giáo, sẽ có những tên cuồng tín không đòi hỏi gì hơn là được tử đạo, mà này, đúng lúc ta nhớ ra là các tín đồ Thanh giáo đang giận dữ chống lại Quận công Buckingham và các nhà truyền giáo của họ gọi ông ta là tên phản Chúa.

- Rồi sao ạ? - Milady hỏi.

- Rồi sao ư? - Giáo chủ tiếp tục vẻ hửng hờ - Ví dụ lúc này tìm được một người đàn bà đẹp, trẻ, khôn khéo, có thù riêng phải trả với Quận công. Có thể gặp một người đàn bà như thế lắm. Quận công là một người thường gặp may trong tình ái và nếu như ông ta đã gieo rắc những mối tình bằng những lời nguyện ước chung thủy suốt đời, ông ta hẳn cũng đã gieo bấy nhiêu mối hận thù về sự bội bạc vĩnh hằng của ông ta.

- Chắc chắn sẽ gặp được một người đàn bà như thế - Milady lạnh lùng nói.

- Ồ vậy thì một người đàn bà như thế sẽ đặt vào tay một kẻ cuồng tín con dao găm của Jắcclêmăng(3) hay của Ravayxắc, và sẽ cứu nước Pháp.

- Vâng, nhưng nàng sẽ là kẻ đồng mưu của một vụ sát nhân.

- Đã ai biết những kẻ đồng mưu của Ravayxắc hay Jắcclêmăng bao giờ chưa?

- Chưa, nhưng có lẽ những kẻ đồng mưu ấy ở địa vị quá cao sang nên người ta không dám truy tìm nơi vị thế của họ. Người ta không đốt cháy tòa công lý vì tất cả mọi người, thưa Đức ông.

- Bà tin rằng đám cháy của tòa công lý có nguyên nhân khác với nguyên nhân rủi ro sao? - Giáo chủ hỏi bằng một giọng không có gì là quan trọng.

- Thưa Đức ông, tôi - Milady trả lời - tôi không tin gì cả tôi chỉ kể ra một sự kiện, có thế thôi. Có điều, tôi nói nếu tôi là công nương Môngpăngsiê(4) hay Hoàng hậu Marie đờ Médicis(5) tôi sẽ ít phải đề phòng hơn, khi tên tôi đơn giản chỉ là phu nhân Clerics.

- Đúng thế - Richelieu nói - Vậy ý bà định thế nào?

- Tôi muốn có một lệnh phê chuẩn trước tất cả những gì tôi tin phải làm cho quyền lợi tối cao của nước Pháp.

- Nhưng trước hết phải tìm được người đàn bà mà ta đã nói là phải trả thù ông Quận công.

- Người đàn bà ấy đã được tìm thấy - Milady nói.

- Rồi còn phải tìm ra tên khốn kiếp cuồng tín sẽ dùng như một công cụ cho công lý của Chúa.

- Sẽ tìm được thôi.

- Vậy thì! - Quận công nói - sẽ kịp thỉnh cầu lệnh mà bà vừa yêu cầu thôi.

- Đức ông nói đúng - Milady nói - Và chính tôi đã nhầm khi nhìn vào nhiệm vụ mà ngài đã vinh dự trao cho tôi khác hẳn trong thực tế, nghĩa là phải nhân danh Đức ông báo cho Huân tước rằng ngài biết rõ những trò cải trang khác nhau, nhờ chúng, ông ta đã đạt được việc đến gần Hoàng hậu trong đêm vũ hội do phu nhân thống tướng tổ chức, rằng ngài có những bằng chứng về cuộc gặp mặt của Hoàng hậu với nhà chiêm tinh người Ý không ai khác ngoài Quận công Buckingham, ở điện Louvre, rằng ngài đã đặt một cuốn tiểu thuyết nhỏ, loại sắc sảo nhất về cuộc phiêu lưu ở Amiêng với bố cục là khu vườn mà cuộc mạo hiểm ấy đã diễn ra, và chân dung những diễn viên đã hiện diện, rằng Môngteguy đã ở ngục Bastille và cực hình có thể khiến hắn nói ra những điều hắn nhớ ra và cả những điều hán có nhẽ đã quên, cuối cùng là ngài đã chiếm hữu được bức thư nào đó của bà De Chevreuse, tìm thấy trong hành dinh của Huân tước sẽ phương hại đặc biệt không những đến người đã viết nó mà còn cả người có tên được viết tới trong bức thư. Rồi nếu như ông ta khăng khăng bất chấp tất cả những cái đó, như nhiệm vụ của tôi giới hạn ở những điều tôi vừa nói, thì tôi sẽ chỉ còn biết cầu Chúa tạo ra một kỳ tích để cứu nước pháp. Có phải thế không, thưa Đức ông, và tôi không có việc gì khác phải làm nữa chứ?

- Có thế thôi - Giáo chủ trả lời cộc lốc.

- Và bây giờ - Tôi đã nhận được những chỉ thị của Đức ông về những kẻ thù của ngài, Đức ông có cho phép tôi được nói đôi điều về những kẻ thù của tôi không?

- Vậy ra bà cũng có những kẻ thù? - Richelieu hỏi.

- Vâng, thưa Đức ông, những kẻ thù mà chống lại chúng tôi phải dựa vào Đức ông, bởi tôi đã biến họ thành kẻ thù khi phục vụ Đức ông.

- Và những tên nào? - Quận công đáp lại.

- Trước hết là con mụ Bonacieux nhỏ bé lắm mưu nhiều kế.

- Nó đang bị giam trong nhà tù ở Nante kia mà.

- Nghĩa là nó từng bị giam ở đấy - Milady lắp lại - nhưng Hoàng hậu đã nhận được lệnh của nhà Vua, nhờ đó, đã cho chuyển mụ ta đến một tu viện.

- Đến một tu viện? - Giáo chủ nói.

- Vâng trong một tu viện.

- Trong tu viện nào?

- Tôi không biết, bí mật được giữ gìn cẩn thận lắm.

- Ta sẽ biết.

- Và Đức ông sẽ nói với tôi mụ ta ở trong tu viện nào?

- Ta không thấy có gì bất tiện trong việc này - Giáo chủ nói.

- Thế thì tốt rồi. Bây giờ tôi có một kẻ thù khác nữa còn đáng sợ hơn là cái mụ Bonacieux bé nhỏ đó đối với tôi.

- Là ai?

- Người tình của mụ.

- Tên là gì?

- Ồ, Đức ông biết nó quá mà - Milady la lên, bừng bừng giận dữ - đó chính là tên ác thần của cả hai chúng ta, chính là kẻ trong cuộc chạm trán với quân cận vệ của Đức ông đã quyết định chiến thắng về phần ngự lâm quân của nhà Vua, là kẻ đã đâm De Wardes, phái viên của Đức ông, ba nhát gươm và đã làm thất bại vụ nút kim cương, cuối cùng chính là kẻ biết tôi đã bắt cóc mụ Bonacieux của hắn và thề sẽ giết tôi.

- À, à! - Giáo chủ nói - Ta biết bà nói về ai rồi.

- Tôi muốn nói về tên D Artagnan khốn kiếp.

- Đó là một tay đồng ngũ táo tợn - Giáo chủ nói.

- Thì chính vì nó là một tên táo tợn nên nó càng đáng sợ hơn.

- Cần phải có một bằng chứng về sự tư thông của nó với Buckingham.

- Một bằng chứng ư? - Milady hét lên - Tôi có đến mười cơ.

- Vậy thì, đó là điều đơn giản nhất trên đời, hãy cho ta bằng chứng ấy, ta sẽ tống nó vào ngục Bastille.

- Thưa Đức ông, rồi tiếp đó?

- Khi đã ở ngục Bastille thì không có tiếp đó nữa - Giáo chủ nói bằng một giọng bí hiểm - Chà, mẹ kiếp! Nếu ta thanh toán kẻ thù của ta cũng dễ như ta thanh toán kẻ thù của bà, và nếu như chính đối những kẻ như thế mà bà lại xin ta xá tội?

- Thưa Đức ông, có đi có lại mà, mạng đổi mạng, người đổi người. Cho tôi kẻ này, tôi sẽ cho lại kẻ kia.

- Ta không hiểu bà muốn nói gì - Giáo chủ lặp lại - và cũng chẳng muốn hiểu nữa - Nhưng ta lại mong làm vừa lòng bà và không thấy bất cứ sự trở ngại nào để đáp ứng những gì bà yêu cầu đối với một tên vô danh tiểu tốt ấy, huống hồ bà đã nói với ta cái tên D Artagnan ranh con đó là một kẻ vô sừng sẹo, một tên chuyên thách đấu, một tên phản trắc.

- Một tên đê tiện, thưa Đức ông, một tên đê tiện!

- Đưa giấy bút mực đây cho ta.

- Đây thưa Đức ông.

Một phút im lặng, chắc Giáo chủ bận tìm ngôn từ để viết.

Athos không bỏ sót một lời nào cuộc nói chuyện, hai tay kéo hai bạn ra đầu phòng bên kia.

- Ơ hay? - Porthos nói - Anh muốn gì, tại sao không để chúng tôi nghe nốt câu chuyện?

Khẽ chứ! - Athos hạ giọng nói - Chúng ta đã nghe được mọi điều cần thiết phải nghe, vả lại, tôi không ngăn cậu nghe nốt chuyện đâu, nhưng bây giờ tôi phải đi đây.

- Anh phải đi! - Porthos nói - Nhưng nếu Giáo chủ hỏi anh, chúng tôi sẽ trả lời ra sao cậu đừng đợi ông ta hỏi tôi, cậu nói luôn ra trước tôi phải đi trinh sát tiền trạm bởi vài câu nói của chủ quán khiến tôi nghĩ con đường không an toàn lắm. Trước hết tôi sẽ nói đôi lời với viên tùy tùng của Giáo chủ, còn lại mặc tôi, đừng lo gì hết.

- Hãy cẩn thận, anh Athos - Aramis nói.

- Yên tâm - Athos trả lời - Cậu biết đấy, tôi rất bình tĩnh.

Porthos và Aramis trở lại chỗ cũ bên ống khói lò sưởi.

Còn Athos, chàng đi ra hoàn toàn công khai, tháo ngựa buộc ở cửa quay, thuyết phục viên tùy tùng bằng mấy câu về sự cần thiết phải đi tiền trạm cho đường về. Chàng làm bộ xem xét lại mồi súng ngắn, cắn gươm, như một quyết tử quân theo con đường trở về doanh trại.

Chương 45

Một cảnh vợ chồng.

Như Athos đã đoán trước, một lát sau Giáo chủ đã đi xuống, ông mở của căn phòng mấy chàng ngự lâm chờ ở đó, thấy Porthos đang chơi xúc xắc mất còn với Aramis. Liếc nhanh mắt khắp phòng thấy thiếu một người, ông hỏi:

- Ông Athos đi đâu rồi?

Porthos trả lời:

- Thưa Đức ông, anh ấy đi trinh sát, vì căn cứ vào mấy lời của chủ quán, anh ấy nghĩ con đường không được an toàn.

- Còn ông, ông làm gì, ông Porthos?

- Tôi được Aramis năm pítxtôn.

- Và bây giờ, các ông có thể trở về với ta!

- Xin tuân lệnh Đức ông.

- Lên ngựa đi! Muộn rồi.

Viên tùy tùng đứng ở cửa, tay dắt cương ngựa của Giáo chủ.

Xa hơn một chút, một nhóm hai người và ba con ngựa thấp thoáng trong bóng tối, hai người này là những người phải dẫn Milady đến pháo đài La Poăng và lo việc xuống tàu cho nàng.

Viên tùy tùng xác nhận với Giáo chủ những gì hai chàng ngự lâm đã nói về Athos. Giáo chủ ra hiệu tỏ vẻ hoan nghênh và tiếp tục lên đường trở về cũng hết sức thận trọng như khi ra đi.

Lại nói về Athos, khoảng trăm bước đầu tiên, chàng cho ngựa đi đều đều, nhưng khi đã khuất, chàng cho ngựa rẽ phải rồi quay ngoắt lại, được khoảng hai mươi bước, liền vào một khu rừng thưa, rình chờ tốp nhỏ đi qua, rồi khi đã nhận ra những chiếc mũ rộng vành của các bạn mình và những tua nạm vàng chiếc áo khoác của Giáo chủ, chàng đợi cho những kỵ sĩ khuất hẳn ở khúc ngoặt mới phi nước đại về quán trọ, người ta mở cửa ngay vì chủ quán đã nhận ra chàng, Athos nói:

- Vị sĩ quan của tôi quên không dặn bà ở tầng một, một việc quan trọng. Ông ấy sai tôi đến để dặn lại.

- Ông cứ lên - chủ quán nói - Bà ấy vẫn còn ở trong phòng đấy!

Athos liền nhẹ nhàng bước lên cầu thang lên đến bậc nghỉ, qua cánh cửa hé mở, chàng thấy Milady đang buộc lại dải mũ.

Chàng bước vào phòng và đóng cửa lại. Nghe tiếng cài chốt cửa, Milady quay lại, Athos đứng trước cửa, mình trùm kín áo khoác, mũ sụp xuống mắt.

Thấy bộ mặt câm lặng và trơ tơ như pho tượng, Milady hoảng sợ và kêu to:

- Ông là ai? Cần gì tôi?

"Đúng mụ rồi!" Athos lẩm bẩm.

Và buông rơi chiếc áo choàng, kéo mũ lên, tiến lại phía Milady, chàng hỏi:

- Bà nhận ra tôi chứ?

Milady tiến lên một bước rồi lùi lại như thấy một con rắn:

- Thế nào - Athos nói - Tôi thấy bà đã nhận ra tôi.

- Bá tước de la Fe! - Milady lẩm bẩm, tái nhợt đi và lùi lại đến sát tường.

- Đúng, Milady ạ - Athos trả lời - Bá tước de La Fe bằng xương bằng thịt từ thế giới bên kia hiện ra sờ sờ để có được niềm vui nhìn thấy bà đây. Nào ta ngồi xuống rồi nói chuyện như kiểu Giáo chủ nói ấy.

Milady bị khống chế bởi một nỗi kinh hoàng khó tả, không nói nổi một lời.

- Bà là một con quỷ được phái xuống trần gian! - Athos nói - Thế lực của bà rất mạnh, ta biết lắm. Nhưng bà cũng biết với sự giúp đỡ của Chúa, con người thường thắng được lũ yêu quái ghê gớm nhất. Bà đã từng hiện ra trên đường đời ta, ta vẫn tưởng đã đè bẹp bà, nhưng hoặc ta đã nhầm, hoặc địa ngục đã cho bà hồi sinh.

Nghe những lời nói ấy, những kỷ niệm rùng rợn như trỗi dậy, Milady cúi đầu cất một tiếng rên khan.

- Phải, địa ngục đã cho bà hồi sinh - Athos nhắc lại - địa ngục đã làm cho bà giàu có, đã cho bà một cái tên khác, đã hầu như tạo cho bà một bộ mặt khác, nhưng địa ngục đã không xóa đi những nhơ nhớp trong tâm hồn bà, không xóa đi sự tàn tạ trên thân xác bà.

Milady bật dậy như một chiếc lò xo, đôi mắt long lên như tóe lửa, Athos vẫn ngồi.

- Bà tưởng ta chết, phải không? Cũng giống như ta tưởng bà đã chết? Và cái tên Athos che giấu tên Bá tước de la Fe, giống như cái tên Milady Clerics đã che giấu Anne đờ Bơi! Chẳng phải tên bà như thế khi người anh đáng kính của bà làm lễ cưới cho chúng ta sao? Vị trí của chúng ta thật là kỳ lạ - Athos vừa cười vừa nói tiếp - Chúng ta còn sống được cho đến nay, bởi người này cứ tưởng người kia đã chết, và vì một kỷ niệm thôi thì vẫn đỡ bức bối hơn là một con người bằng xương bằng thịt, cho dù kỷ niệm đôi khi vẫn là một điều vò xé lòng ta.

- Nhưng rốt cuộc - Milady nói bằng một giọng khô khan - ai đưa ông đến chỗ tôi? Và ông muốn gì ở tôi?

- Ta muốn bảo bà rằng trong khi bà hoàn toàn mất hút tăm hơi ta, thì ta lại không mất hút bà!

- Ông biết những gì tôi đã làm?

- Ta có thể kể cho bà nghe từng ngày, từng ngày một những hành động của bà từ khi bà làm việc cho Giáo chủ cho tới buổi tối nay.

Một nụ cười nghi hoặc thoáng trên đôi môi nhợt nhạt của Milady.

- Nghe đây, chính bà, người đã cắt mất hai nút kim cương trên vai Quận công De Buckingham, chính bà là người đã cho bắt cóc bà Bonacieux, chính bà, si mê ông De Wardes và tin rằng đã qua đêm với ông ta, lại mở cửa phòng bà cho ông D Artagnan, chính bà tưởng De Wardes đã lừa dối bà, nên đã muốn giết ông ta bằng tay tình địch của ông ta. Chính bà, khi gã tình địch ấy phanh phui cái bí mật đê mạt của bà, lại muốn giết hắn bởi hai sát thủ mà bà đã phái đi theo, chính bà, khi biết đạn đã bắn hụt liền gửi rượu pha thuốc độc cùng một bức thư giả để nạn nhân của bà tưởng nhầm là rượu của các bạn gửi đến. Cuối cùng, chính bà đến đây, trong căn phòng này, ngồi trên chiếc ghế ta đang ngồi, cam kết với Giáo chủ Richelieu tổ chức ám sát Quận công De Buckingham để đổi lấy lời hứa của ông ta cho phép bà ám sát D Artagnan.

Milady tái mét lại và nói:

- Vậy ông là quỷ satan ư?

- Có thể lắm - Athos nói - nhưng dẫu sao hãy nghe đây đã: Ám sát hoặc cho ám sát quận công De Buckingham, ta mặc xác Ta không quen biết ông ta. Hơn nữa, đó là một người Anh. Nhưng chớ có đụng đầu ngón tay vào chỉ một sợi tóc của D Artagnan, một người bạn chung thủy của ta mà ta yêu, ta bảo vệ, nếu không, ta thề trên linh hồn của cha ta, tội ác mà bà sắp phạm phải sẽ là tội ác cuối cùng.

Milady nói bằng một giọng khô khan:

- D Artagnan đã làm nhục tôi tàn tệ, D Artagnan phải chết.

- Thực tế, như thế có thể gọi là làm nhục bà không? - Athos vừa nói vừa cười - Ông ta đã làm nhục bà và ông ta sẽ chết ư?

- Hắn sẽ chết - Milady nhắc lại - Trước hết là mụ ấy rồi đến hắn.

Athos như bị choáng. Nhìn cái con người không còn một chút gì tính đàn bà nữa. Nó gợi lại cho chàng những kỷ niệm xé lòng.

Chàng nghĩ tới một hôm, trong một tình thế không nguy hiểm bằng tình thế này, chàng đã muốn hy sinh người đàn bà này vì danh dự của mình. Lòng khát khao giết người lại trở lại cháy bỏng và xâm chiếm lòng chàng như một cơn sốt bừng bừng. Đến lượt chàng đứng lên, đưa tay vào đai lưng rút súng ngắn và lên cò.

Milady nhợt nhạt như một thây ma, muốn kêu, nhưng lưởi đông cứng lại, chỉ có thể thốt ra được một tiếng khàn khàn không có vẻ gì là tiếng người mà giống như tiếng kêu khan của một con thú hoang. Dán người vào tấm thảm tối màu, tóc xõa tung, mụ hiện ra như một hình ảnh khiếp đảm của nỗi kinh hoàng.

Athos từ từ nâng súng, chĩa gần sát vào trán Milady, rồi bằng một giọng còn khủng khiếp hơn của một sự bình thản đến cao độ của một quyết định không thể lay chuyển, chàng nói:

- Bà kia, hãy trao ngay cho ta mẩu giấy mà Giáo chủ đã ký, nếu không ta thề sẽ bắn vỡ sọ bà.

Với một người khác, Milady có lẽ còn giữ đôi chút nghi ngờ, nhưng mụ biết Athos, tuy nhiên mụ vẫn đứng im.

Bà có một giây để quyết định - chàng nói.

Nhìn thấy cơ mặt chàng co rút và sắp bắn, vội vàng đưa tay lên ngực rút tờ giấy ra đưa cho Athos và nói:

- . Đây cầm lấy, đồ quỷ tha ma bắt!

Athos cầm tờ giấy, cài súng vào đai lưng, đưa lại gần đèn để đảm bảo đúng là tờ giấy đó, chàng mở ra và đọc.

"Theo lệnh của ta và vì quyền lợi quốc gia, người cầm giấy này đã làm điều người đó phải làm"

Ngày 3 tháng 12 năm 1627

Richelieu

- Và bây giờ - Athos vừa nói vừa khoác lại áo khoác, đội lại mũ lên đầu - bây giờ ta đã nhổ răng mày, đồ rắn độc, cắn đi nếu mày có thể.

Rồi chàng ra khỏi phòng không thèm ngoái lại đằng sau.

Ra đến cửa, chàng gặp hai ngươi và con ngựa họ dắt trong tay.

- Các vị - chàng nói - lệnh của Đức ông, các ông biết đó, là dẫn người đàn bà này đến pháo đài La Poăng và chỉ được rời khỏi bà ấy khi bà ấy đã tới bến.

Vì những câu nói ấy hoàn toàn phù hợp với lệnh họ nhận được, họ nghiêng đầu tỏ ý tán thành.

Còn Athos, chàng nhẹ nhàng lên yên rồi phi nước đại, có điều, đáng lẽ đi theo đường cái, chàng thúc ngựa băng qua đồng ruộng, thỉnh thoảng dừng lại để nghe ngóng.

Trong một lần dừng ngựa, chàng nghe thấy trên đường nhiều tiếng vó ngựa. Chàng tin chắc đó là Giáo chủ và đoàn tùy tùng của ông ta. Lập tức chàng vọt lên phía trước theo một hướng khác mặc cho ngựa bị cành cây lá cây bụi rậm cọ vào, phi ra chắn ngang đường cách doanh trại khoảng gần hai trăm bước.

- Ai đó? - Chàng quát lên từ xa khi nhìn thấy các kỵ sĩ.

- Ta tin là chàng ngự lâm dũng cảm của chúng ta đấy - Giáo chủ nói.

- Vâng, thưa Đức ông - Athos trả lời - Chính hắn đây.

- Ông Athos - Richelieu nói - Ông hãy nhận những lời cảm ơn của ta vì công việc bảo vệ cẩn thận ông đã làm. Các vị, thế là chúng ta đã về đến nơi. Hãy đi theo cổng bên trái, mật khẩu là Vua và Rê.

Vừa nói Giáo chủ vừa gật đầu chào ba người bạn và đi theo cổng phải, có viên tùy tùng đi theo, bởi đêm đó, chính ông ngủ ở doanh trại.

- Thế nào! - Cả Porthos và Aramis cùng nói khi Giáo chủ đã ở ngoài tầm nghe thấy - Thế nào hẳn ông ta đã ký giấy mà mụ ta yêu cầu?

- Tôi biết chứ - Athos điềm tĩnh nói - vì nó đây này.

Và cả ba không trao đổi thêm một lời nào nữa trừ nói khẩu lệnh cho lính canh cho đến khi về đến phân trại của họ.

Họ chỉ làm mỗi một việc là sai ngay Mousqueton đến bảo Planchet là yêu cầu chủ nó khi rời khỏi chiến hào hãy đến ngay chỗ ở của ngự lâm quân.

Mặt khác, như Athos đã tiên đoán, Milady khi gặp hai người đàn ông ngoài cổng đang đợi mình mụ đã lẳng lặng đi theo họ, tuy có lúc đã muốn họ dẫn trở về gặp Giáo chủ, kể hết với ông, nhưng nếu lộ chuyện Athos ra thì cũng dẫn đến việc Athos tiết lộ hết về mụ. Mụ sẽ bảo Athos đã từng treo cổ mụ thì Athos cũng sẽ bảo mụ đã bị đóng dấu chín.

Mụ nghĩ tốt nhất là nên im đi, kín đáo lên đường, dùng sự khôn khéo vốn có hoàn thành nhiệm vụ khó khăn đã được trao cho, rồi khi mọi việc đã được hoàn tất, Giáo chủ hài lòng, sẽ đến lúc thỉnh cầu Giáo chủ trả thù cho mụ.

Sau khi đã đi suốt đêm, bẩy giờ sáng hôm sau, mụ đã ở pháo đài La Poăng, lúc tám giờ mụ xuống tàu, và chín giờ, con tàu, với những chứng chỉ của Giáo chủ, được kiểm tra cho phép đi Bayon, lại nhổ neo căng buồm sang Anh quốc.

Chương 46

Pháo thành Saint Giécve.

- Đến nơi, D Artagnan thấy ba người tụ họp trong một căn phòng. Athos đang nghĩ ngợi, Porthos vê ria mép. Aramis đang đọc kinh trong một cuốn sách nhỏ đẹp, bì bọc nhung xanh.

- Mẹ kiếp, ôi các vị! - Chàng nói - Tôi hy vọng các vị có chuyện gì nói với tôi cho nó bõ công, nếu không, tôi báo trước tôi không tha thứ cho các vị đã gọi tôi đến đây, nhẽ ra tôi đã được nghỉ ngơi sau suốt đêm tấn công và phá tung một pháo thành. Chà, thế mà các vị không có ở đấy! Ác liệt ra phết!

Porthos vừa trả lời vừa gấp ngược ria mép lên, vốn là tật riêng của chàng:

- Bọn mình ở chỗ khác, ở đấy cũng không lạnh lẽo đâu.

- Suỵt! Athos nói.

- Ồ, ồ, - D Artagnan hiểu ra ngay khi Porthos khẽ cau mày - có vẻ như có chuyện gì mới ở đây?

- Aramis - Athos nói - Hôm kia cậu ăn điểm tâm ở quán ăn Pácpayô phải không?

- Phải.

- Ở đấy thế nào?

- Ồ, theo ý tôi, tôi đã ăn một bữa rất tệ. Hôm kia là ngày ăn chay, thế mà họ chỉ có thịt.

- Sao cơ? - Athos nói - Ở một hải cảng mà lại không có cá ư?

- Họ nói - Aramis vừa trả lời vừa đọc kinh tiếp - con đê mà Giáo chủ cho đắp đã xua hết chúng ra ngoài khơi.

Nhưng đó không phải là điều tôi hỏi cậu, Aramis, tôi hỏi cậu có được thoải mái không, và có ai quấy rầy cậu không cơ?

- Hình như cũng không bị làm phiền mấy, Athos này, thật ra, về điều anh muốn nói ấy, ta cứ đến Pácpayô, là biết ngay.

- Vậy thì đến Pácpayô! - Athos nói - bởi ở đây vách mỏng như tờ giấy!

D Artagnan vốn quen với cung cách của bạn mình, và chỉ cần một câu nói, một cử chỉ, một dấu hiệu là đã hiểu ngay ra tình thế nghiêm trọng, liền khoác tay Athos đi ra không nói một lời. Porthos chệnh choạng theo sau cùng với Aramis.

Dọc đường, họ gặp Grimaud, Athos ra hiệu cho gã đi theo.

Grimaud theo thói quen, im lặng vâng theo, gã trai tội nghiệp gần như đã quên mất cả nói.

Họ đến quán Pácpayô vào lúc bẩy giờ, ngày đã bắt đầu rạng, ba người bạn(1) đặt ăn điểm tâm và vào một phòng theo như chủ quán nói, chắc không bị quấy rầy.

Chẳng may, giờ này lại không thích hợp với một cuộc thương nghị. Tiếng trống hiệu ban mai vừa điểm, ai nấy tỉnh dậy sau giấc ngủ ban đêm đều đến uống tí chút ở quầy rượu để xua cái lạnh ẩm buổi sáng - lính long kỵ, lính Thụy Sĩ, cận vệ, ngự lâm, khinh kỵ nối tiếp nhau kéo đến mau đến nỗi chỉ có lợi cho việc kinh doanh của chủ quán, nhưng lại làm chướng mắt bốn người.

Vì vậy mà họ đáp lại rất nhấm nhẳng những lời chào hỏi, chúc uống, và bông đùa của các đồng đội khác.

Athos nói:

- Chúng ta rồi cũng rơi vào tình trạng cãi lộn mất thôi, mà ta lại không muốn có chuyện đó lúc này, D Artagnan, cậu hãy kể chuyện đêm qua của cậu đi, rồi chúng mình sẽ kể chuyện bọn mình.

Một lính khinh kỵ, tay cầm cốc rượu mạnh, vừa lảo đảo từ từ nếm rượu vừa nói:

- Đúng là các ông đã ở chiến hào tối qua, các ông cận vệ ạ, và tôi thấy hình như các ông đã kiếm cớ gây sự với bọn La Rochelle phải không?

D Artagnan đưa mắt hỏi Athos có cần trả lời cái tay nhiễu sự đi xen vào chuyện người khác không.

- Này, cậu không hiểu ông De Buyxinhi đây đang hân hạnh ngỏ chuyện với cậu ư? Cứ kể hết những gì diễn ra đêm qua đi, một khi các vị này đang khao khát muốn biết.

- Chẳng phải các ông kiếm được một páo tành ư? - Một lính Thụy Sĩ uống rượu room trong một cái cốc uống bia hơi nói.

- Vâng, thưa ông - D Artagnan nghiêng mình trả lời - chúng tôi có cái vinh dự đó, chúng tôi còn đưa vào dưới một góc thành cả một thùng thuốc nổ, khi nổ, như các ông có thể nghe thấy đấy, đã tạo thành một lỗ hổng tuyệt đẹp, không kể pháo thành không còn nguyên vẹn như hôm qua nữa, mà toàn bộ nền móng đều bị rung chuyển mạnh.

- Và đó là pháo thành nào? - Một lính long kỵ binh lấy kiếm xiên ruột con ngỗng đem đi quay hỏi chàng.

Pháo thành Saint Giécve - D Artagnan trả lời - Đằng sau pháo thành, bọn Rochelle gây khó khăn cho bọn đào công sự chúng ta.

- Và đánh nhau ác liệt chứ?

- Ồ tất nhiên. Bên ta chết năm. Bọn Rochelle tám đến mười đứa.

- Mẹ kiếp! - Người lính Thụy Sĩ văng tục, mặc dầu anh ta có hẳn một mớ câu chửi bằng tiếng Đức, vẫn có thói quen chửi thề bằng tiếng Pháp.

- Nhưng có thể sáng nay - Người lính khinh kỵ nói - Bọn chúng phái công binh đến gia cố lại pháo thành.

- Đúng, có thể lắm - D Artagnan nói.

- Các vị - Athos nói - Cược nào!

- Cát ông! Tánh cuộc ư? - Lính Thụy sĩ nói.

- Cuộc gì nào? - Lính khinh kỵ hỏi.

- Khoan đã - Người lính long kỵ đặt kiếm như cái xiên chả lên cái vỉ lớn trên bếp lò nói - Tôi cược, ông chủ quán chết người ơi, đưa ngay cho tôi cái chảo, tôi không chịu mất một giọt mỡ nào của con chim quý này đâu.

- Ông có lý tấy, - Người lính Thụy Sĩ nói - Mớ ngỗn ăn với mứt ngon lám.

- Thế chứ - Người lính long kỵ nói - Bây giờ xem cược thế nào. Chúng tôi nghe đây, ông Athos!

- Đúng, cược đi? - Người lính khinh kỵ nói.

- Thế này nhé? Ông De Buyxinhi, tôi cược với ông - Athos nói - Rằng bốn người lính ngự lâm chúng tôi, các ông Porthos, Aramis và D Artagnan và tôi, chúng tôi sẽ điểm tâm trong pháo thành Saint Giécve, và sẽ ở đấy trong một tiếng đồng hồ, bất kể quân thù dùng biện pháp gì để đánh bật chúng tôi đi.

Porthos và Aramis nhìn nhau, họ bắt đầu hiểu ra mọi chuyện.

- Nhưng anh định làm chúng ta chết cả lũ mà không thương tiếc ư? - D Artagnan ghé tai Athos hỏi.

Athos trả lời:

- Không đến đó thì chúng ta còn chết hơn.

Porthos ngả người tựa lưng vào ghế vừa vê ria mép nói:

- Các vị ạ, thật tình, đây là một cuộc đánh cược rất hay đó, tôi hy vọng thế.

- Vậy, tôi nhận cược - Ông De Buyxinhi nói - Bây giờ vấn đề là cược gì Athos:

- Các ông bốn, chúng tôi bốn, một bữa tối thả cửa cho tám người, ông thấy có được không?

- Tuyệt vời - Ông De Buyxinhi nói.

- Miễn chê - Người lính long kỵ nói.

- Tui thấy được lắm - Người lính Thụy Sĩ nói.

Người thính giả thứ tư từ đầu đến cuối chuyện cược vẫn chỉ lặng im, gật đầu tỏ ý tán thành đề xuất đó.

Chủ quán nói:

- Bữa điểm tâm của các vị đã sẵn sàng.

- Vậy mang đến đây! - Athos nói.

Chủ quán vâng lời. Athos gọi Grimaud, chỉ cho gã cái thúng lớn đặt ở góc phòng và ra hiệu gói các món thịt vào khăn ăn.

Grimaud hiểu ngay đây là bữa điểm tâm ngoài trời, liền cầm thúng gói thịt lại cho vào thúng và cho thêm mấy chai rượu vào rồi cắp thúng lên.

- Nhưng các ông định ăn điểm tâm ở đâu? - Chủ quán hỏi:

- Không việc gì đến ông, miễn là người ta trả tiền cho ông.

Rồi chàng ném hai đồng pítxôn vàng lên bàn.

- Có phải trả lại không, thưa ông sĩ quan? - Chủ quán hỏi.

- Không, chỉ thêm hai chai Sămpanhơ thôi, còn lại là tiền khăn ăn.

Lúc đầu chủ quán đã tưởng bở, nhưng ông ta gỡ lại bằng cách thay hai chai Sămpanơ bằng loại vang Ăngju cho bốn thực khách.

- Thưa ông De Buyxinhi - Athos nói - Mong ông chỉnh đồng hồ của ông cho đúng với đồng hồ tôi hoặc cho phép tôi chỉnh của tôi so với ông cũng được.

- Được lắm, thưa ông! - Người lính khinh kỵ, rút từ một chiếc túi nhỏ ra một chiếc đồng hồ rất đẹp xung quanh nạm kim cương - Bảy giờ rưỡi.

- Bảy giờ ba nhăm -Athos nói - Của tôi nhanh hơn của ông năm phút.

- Và chào mấy người đánh cược đang trợn tròn mắt, bốn người lên đường tới pháo thành Saint Giécve, theo sau có Grimaud bưng thúng, không hiểu mình đang đi đến đâu, vì quen vâng lời Athos thụ động nên không buồn hỏi nữa.

Lúc vẫn còn trong phạm vi chiến tuyến quân Pháp bốn người không trao đổi với nhau một lời, vả lại có nhiều người hiếu kỳ đi theo, hiểu rõ việc đánh cược, muốn xem bốn người gỡ khỏi ra sao. Nhưng một khi đã ra khỏi phòng tuyến bao vây, và ở giữa chốn đồng không mông quạnh, D Artagnan hoàn toàn chưa hiểu phải làm gì, liền cho rằng đã đến lúc phải yêu cầu giải thích.

- Nào bây giờ, anh Athos thân mến - Chàng nói - Vì tình cảm bạn bè, cho tôi biết chúng ta đi đâu thế này?

- Thì cậu biết rõ rồi đấy - Athos nói - Đi đến pháo thành.

- Nhưng đến đấy để làm gì?

- Thì cậu hiểu rồi đấy, chúng ta ăn điểm tâm ở đấy.

- Nhưng tại sao chúng ta không ăn ở Pácpayô?

- Bởi vì chúng ta có những điều quan trọng để nói với nhau, và không thể chuyện trò trong năm phút thôi trước cái bọn phá đám đi đi lại lại, chào hỏi, lân la đến gần. Ở đây, ít nhất - Athos vừa nói vừa chỉ pháo thành - họ cũng sẽ không đến quấy rầy chúng ta.

D Artagnan với tính thận trọng đi đôi một cách tự nhiên và rất thích hợp với tính can trường thái quá, nói:

- Tôi thấy có lẽ chúng ta có thể tìm một địa điểm xa xa ra trong các đụn cát ở bờ biển.

- Ở đấy chẳng khác gì mời người ta nhìn thấy chúng mình hội họp với nhau, rồi thì chỉ trong vòng mươi lăm phút là Giáo chủ đã được bọn gián điệp của ông ta cho biết.

- Đúng Aramis nói - Anh Athos nói đúng. Animadvertuntur in desertis(2)

- Sa mạc thì không tồi đâu - Porthos nói - Nhưng kiếm đâu ra sa mạc.

- Không có nơi hoang vắng nào mà chim lại không thể bay qua đầu, cá không nhảy lên nổi mặt nước, thỏ không thể ra khỏi tổ được và tôi tin, chim, cá, thỏ, tất cả đều tự nguyện làm gián điệp cho Giáo chủ. Tốt nhất là cứ làm theo toan tính táo tợn của chúng ta. Vả lại, bây giờ ta không thể lùi bước mà không hổ thẹn được nữa rồi. Chúng ta đã đánh cược, một cuộc cá cược không thể tiên đoán và tôi đố bất cứ ai đoán ra nguyên nhân đích thực. Để thắng cuộc, chúng ta sẽ phải trụ vững một tiếng đồng hồ trong pháo thành. Hoặc chúng ta sẽ bị tấn công hoặc không bị. Nếu không bị, ta sẽ có đủ thì giờ để bàn bạc, và sẽ chẳng ai nghe thấy chúng ta, bởi tôi đảm bảo những bức tường của pháo thành không có tai. Nếu bị tấn công ta vẫn sẽ bàn bạc được công việc của chúng ta, và thêm nữa, chống cự được, như vậy chúng ta càng vinh quang. Các cậu có thấy đằng nào cũng có lợi không.

- Đúng - D Artagnan nói - nhưng chắc chắn chúng ta sẽ xơi đạn.

- Ồ, bạn thân mến - Athos nói - Cậu thừa biết những viên đạn đáng sợ nhất không phải là đạn của kẻ thù.

- Nhưng chơi cái trò mạo hiểm này, đáng lẽ ít nhất chúng ta phải mang theo súng trường.

- Cậu ngốc lắm Porthos ạ, tại sao ta lại phải cõng theo cái gánh nặng không cần thiết ấy?

- Tôi chẳng thấy vô ích khi có một khẩu súng trường cỡ đạn lớn với mười hai viên đạn, một gói thuốc súng trước mặt quân thù đâu.

- Này, Athos nói - cậu không nghe D Artagnan đã nói gì à?

- D Artagnan nói gì? - Porthos hỏi.

- D Artagnan đã nói trong cuộc tấn công đêm ấy, có tám đến mười quân Pháp chết và cũng ngần ấy bọn Rochelle ư?

- Thì sao?

- Người ta không kịp vơ vét hết của họ, có phải không? Vì lúc đó, họ còn có những việc khác khẩn cấp hơn phải làm.

- Rồi thế nào?

- Thế này, chúng ta sẽ tìm súng, thuốc súng, và đạn của họ, thế là đáng lẽ bốn khẩu súng trường và mười hai viên đạn, chúng ta sẽ có mười lăm khẩu và hàng trăm phát đạn.

- Ồ, Porthos - Athos nói - Anh đúng là một vĩ nhân!

Porthos gật đầu tỏ ý tán thành.

Chỉ có mỗi D Artagnan là tỏ vẻ chưa tin lắm.

- Chắc là Grimaud cũng nghĩ như D Artagnan, vì khi thấy mọi người đi tiếp về phía pháo thành, điều mà đến lúc đó gã vẫn nghi ngờ, gã kéo vạt áo chủ mình và hỏi bằng cách ra hiệu:

- Chúng ta đi đâu thế này?

Athos chỉ pháo thành.

- Nhưng - gã Grimaud câm lặng vẫn nói bằng thứ biệt ngữ ấy - chúng ta sẽ bỏ xác ở đấy mất thôi.

Athos ngước mắt và chỉ tay lên trời.

Grimaud đặt thúng thức ăn xuống đất và lắc đầu.

Athos rút súng ngắn ở đai lưng ra nhìn xem đã mồi thuốc chưa, bẻ cò và dí nòng súng vào tai Grimaud.

Grimaud đứng phắt dậy như một chiếc lò xo.

Athos liền ra hiệu cho gã bê thúng lên và đi ở phía trước.

Grimaud vâng lời.

Tất cả những gì mà Grimaud kiếm được ở màn kịch câm chóng vánh ấy là đã được chuyển từ vị trí hậu vệ sang vị trí tiên phong.

Đến pháo thành, bốn người cùng quay đầu lại.

Hơn ba trăm binh lính thuộc mọi thứ quân tụ tập ở trước cửa doanh trại, và trong một toán đứng tách riêng ra, có thể thấy ông De Buyxinhi, chàng long kỵ binh, chàng lính Thụy Sĩ và người cá cược thứ tư.

Athos liền bỏ mũ ra đặt trên mũi gươm và vẫy vẫy.

Tất cả những khán giả đều chào lại chàng kèm theo cừ chỉ lịch sự đó là một tiếng hoan hô vang dội đến tận chỗ họ.

Sau đó, cả bốn biến mất vào trong pháo thành, có Grimaud dẫn đầu.

Chương 47

Hội nghị ngự lâm quân.

Như Athos tiên đoán, pháo thành chỉ có mười hai người chết cả Pháp lẫn Rochelle.

Athos giữ vị trí chỉ huy cuộc hành quân nói:

- Thưa các vị, trong khi Grimaud chuẩn bị bữa ăn, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc thu lượm súng đạn, vả lại chúng ta vừa có thể bàn bạc vừa hoàn thành việc đó. Các vị này - Athos chỉ những xác chết nói thêm - không nghe chúng ta nói đâu.

- Nhưng ta có thể ném họ xuống hố - Porthos nói - tuy nhiên sau khi chúng ta được đảm bảo họ không còn gì trong túi.

- Đúng - Athos nói - đó là việc của Grimaud.

- Ồ! Vậy thì cứ để Grimaud lục soát họ và ném họ qua tường thành.

- Giữ họ lại thì hơn - Athos nó - Họ có thể phục vụ chúng ta.

- Những xác chết có thể phục vụ ta ư? - Porthos hỏi - Ái chà, anh điên rồi, bạn thân mến ạ.

- "Chớ có phán xử liều", Kinh Thánh và cả Giáo chủ đều nói thế - Athos trả lời - bao nhiêu súng, các vị?

- Mười hai - Aramis trả lời.

- Bao nhiêu đạn?

- Một trăm.

- Thế là đủ cho chúng ta rồi - Nhồi thuốc đi!

Bốn người tiến hành nhồi thuốc. Khi nhồi xong khẩu súng cuối cùng thì Grimaud ra hiệu bữa điểm tâm cũng vừa xong.

Athos trả lời, vẫn luôn bằng điệu bộ, tốt lắm, và chỉ một góc pháo thành và Grimaud hiểu là mình phải đứng canh ở đó. Có điều để làm vơi nỗi buồn phiền khi canh gác, Athos cho gã mang theo một cái bánh, hai dẻ sườn rán và một chai vang.

- Và vây giờ ta ngồi chén thôi - Athos nói.

Bốn người ngồi xuống đất, chân xếp bằng tròn như người Thổ Nhĩ Kỳ hoặc các bác phó may.

- Nào, bây giờ - D Artagnan nói - Anh không sợ ai nghe thấy nữa, mong anh cho chúng tôi biết bí mật của anh đi.

- Tôi hy vọng đem lại cho các vị sự hài lòng và cả vinh quang nữa. - Athos nói - Tôi đã đem lại cho các vị một cuộc dạo chơi thú vị, đây là một trong những bữa điểm tâm ngon lành nhất, và năm trăm con người ngoài kia mà các vị có thể nhìn thấy họ qua lỗ châu mai, đang cho chúng ta là những thằng điên hay là những bậc anh hùng, hai hạng ngu ngốc này đều khá giống nhau.

- Nhưng còn cái bí mật ấy? - D Artagnan nói.

- Bí mật - Athos nói - đó là hôm qua tôi đã gặp Milady.

D Artagnan đang đưa cốc rượu lên môi, nhưng vừa nghe thấy cái tên Milady, tay chàng đã run bắn lên, khiến chàng phải đặt xuống đất để khỏi sánh rượu ra ngoài.

- Anh đã gặp vợ...

Athos ngắt lời:

- Im nào? Cậu quên rằng các vị đây chưa được am tường như cậu về cái bí mật của nội bộ gia đình mình hay sao - Ừ mình đã gặp Milady.

- Và ở đâu? - D Artagnan hỏi.

- Cách đây chưa đến hai dặm, ở quán trọ Chuồng chim câu Đỏ

- Nếu thế thì tôi toi mất! - D Artagnan nói.

- Không, chưa hoàn toàn thế đâu - Athos lại nói - bởi vì giờ này, mụ chắc đã rời bờ biển nước Pháp rồi.

D Artagnan thở phào.

Porthos hỏi:

- Nhưng rút cục, cái mụ Milady này là thế nào?

- Một người đàn bà duyên dáng - Athos vừa nói vừa nhấp một cốc rượu vang sủi bọt. Tên chủ quán chó má! - Chàng hét lên - Nó tráo rượu sămpanhơ bằng vang Ăngju, và tưởng cánh ta dùng mà không biết gì! Phải - chàng tiếp tục - một phụ nữ duyên dáng, đã đối xử rất tử tế với D Artagnan của chúng ta thế mà anh chàng chẳng biết đã làm điều gì hắc ám với nàng khiến nàng cố tìm cách trả thù, cách đây một tháng định cho bắn chết anh chàng, và tám ngày gần đây định đầu độc chàng ta, còn hôm qua thì hỏi xin Giáo chủ cái thủ cấp của chàng.

- Thế nào? Hỏi xin Giáo chủ cái thủ cấp của tôi? D Artagnan hỏi, tái xanh vì sợ hãi.

Porthos nói:

- Việc đó, đúng như kinh Phúc âm rồi. Tôi nghe thấy tận tai điều đó

- Tôi cũng vậy Aramis nói.

- Thế thì - D Artagnan buông thõng hai cánh tay chán nản nói - đánh nhau thêm làm gì cho phí công, thà tôi cứ tự bắn vỡ óc mình còn hơn và thế là chấm hết tất cả.

Athos nói:

- Thế thì đấy là điều xuẩn ngốc cuối cùng cần phải làm vì đó là cách duy nhất vô phương cứu chữa.

- Nhưng với loại kẻ thù như thế tôi không phải bao giờ cũng thoát khỏi đâu. Trước tiên, kẻ xa lạ ở Măng, tiếp đến là De Wardes, kẻ tôi đã đâm cho ba nhát gươm, rồi Milady mà tôi nắm được bí mật của mụ, cuối cùng là Giáo chủ mà tôi đã làm cho việc trả thù của ông ta thất bại.

- Này cậu! - Athos nói - Tất cả như thế mới là bốn và chúng ta có bốn, một chọi một. Mẹ kiếp! Nếu chúng ta tin vào những gì mà Grimaud đang ra hiệu cho chúng ta, thì chúng ta sắp sửa có chuyện với một số đông kẻ khác đây. Có chuyện gì vậy Grimaud? - Athos nói - Căn cứ vào tình hình nghiêm trọng, ta cho phép anh nói, anh bạn ạ, nhưng xin anh vắn tắt thôi. Anh nhìn thấy gì?

- Một toán.

- Độ bao nhiêu?

- Hai chục người.

- Loại người nào?

- Mười sáu công binh, bốn lính.

- Cách khoảng bao nhiêu bước?

- Năm trăm bước.

- Tốt, chúng ta còn đủ thì giờ để chén nốt con ngỗng này và uống một cốc vang chúc sức khỏe cậu, D Artagnan!

- Chúc sức khỏe cậu! - Porthos và Aramis cùng nói theo.

- Vậy thì, chúc sức khỏe tôi? Cho dù tôi không tin lời chúc của các anh giúp tôi được gì nhiều.

- Ô hay! - Athos nói - Thượng đế vô biên, như các tín đồ của Mahômét thường nói, và tương lai nằm trong tay Người.

Rồi, uống nốt cốc vang, đặt cốc bên cạnh, Athos uể oải đứng lên, vơ lấy khẩu súng đầu tiên và lại gần một lỗ châu mai.

Porthos, Aramis, và D Artagnan đều làm theo như thế.

- Còn Grimaud thì nhận lệnh đứng phía sau để nạp lại thuốc súng.

Một lát sau, họ thấy toán người đó xuất hiện, bọn chúng đi theo một đường hào ống ăn thông giữa thành phố vào pháo thành.

- Mẹ kiếp! - Athos nói - Thật không bõ công chúng ta thanh toán hai chục tên vô lại trang bị bằng cuốc bàn, cuốc chim, xẻng.

Grimaud chỉ việc vẫy tay ra hiệu cho chúng đi đi, tôi tin chắc chúng sẽ để ta yên.

- Tôi thì lại ngờ chuyện đó đấy - D Artagnan nói - bởi chúng tiến rất kiên quyết. Vả lại, cùng với bọn lính thợ còn có bốn lính chiến đấu và một toán trưởng, đều trang bị súng hỏa mai.

- Chính vì chúng không trông thấy bọn ta đấy - Athos nói.

Aramis nói:

- Thú thật, tôi cảm thấy tởm lợm khi phải bắn vào lũ thị dân đáng thương này.

- Một thày tu tồi mới đi thương bọn tà đạo.

- Thật ra, Athos nói - Aramis nói đúng đấy, tôi sẽ báo trước cho họ.

- Anh định làm trò quỷ gì vậy? - D Artagnan nói - Anh định làm bia À, anh Athos thân mến.

Nhưng Athos không chút để ý đế ý kiến ấy, trèo lên lỗ hổng, một tay cầm súng, tay kia cầm mũ, và nói với bọn lính và bọn lính thợ đang kinh ngạc trước sự xuất hiện của chàng, và dừng lại cách pháo thành khoảng năm mươi bước lại còn chào chúng rất lịch thiệp:

- Các vị, chúng tôi gồm mấy người bạn và tôi, đang ăn điểm tâm trong pháo thành. Mà các vị biết rằng không gì khó chịu bằng bị làm phiền trong khi đang ăn điểm tâm, vì vậy chúng tôi yêu cầu các vị hãy đợi chúng tôi ăn xong, nếu các vị thấy nhất định phải làm việc ở đây thì xin để sau hãy đến, trừ khi các vị có thiện ý rời bỏ bọn phiến loạn và đến uống cùng chúng tôi chúc sức khỏe nhà Vua Pháp.

Coi chừng, Athos! - D Artagnan kêu lên - Anh không thấy chúng đưa súng lên ngắm ư?

- Thấy quá chứ - Athos nói - Nhưng đấy toàn là thị dân bắn tồi lắm và như tránh bắn vào mình ấy.

Quả nhiên, cùng một lúc bốn phát súng nổ, và những viên đạn đều dính bẹt vào xung quanh Athos và chẳng viên nào trúng vào người chàng.

Bốn phát bắn trả lại hầu như đồng thời nhưng đều ngắm trúng hơn bọn xâm lược, ba tên hnh ngã lăn ra chết thẳng cẳng và một lính thợ bị thương.

- Grimaud, đưa khẩu khác! Athos vẫn đứng ở lỗ hổng nói.

Grimaud vâng lệnh ngay. Về phía ba người kia, họ tự nhồi thuốc lấy - loạt bắn thứ hai tiếp theo loạt thứ nhất, viên toán trưởng và hai lính công binh ngã ra chết, số còn lại bỏ chạy.

- Nào, các vị ra thôi - Athos nói.

- Và cả bốn người bạn lao ra khỏi pháo thành, đến tận chỗ quân Rochelle giao chiến, nhặt lấy bốn khẩu hỏa mai và cây giáo ngắn của tên toán trưởng. Tin chắc bọn chạy trốn phải về đến thành phố mới dừng lại, bốn người cùng trở lại pháo thành, mang theo chiến lợi phẩm.

- Nạp thuốc vào súng đi, Grimaud, Athos nói - và chúng ta các vị ạ, ta lại chén bữa điểm tâm và tiếp tục câu chuyện của chúng ta. Chuyện đến đâu rồi nhỉ?

D Artagnan nói:

- Tôi nhớ câu chuyện đến chỗ đang bận tâm xem lộ trình mà Milady phải theo như thế nào.

Athos trả lời:

- Mụ đi sang Anh với mục đích gì?

- Mục đích ám sát hay cho người ám sát Buckingham.

D Artagnan thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc và tức tối:

- Nhưng thế thì thật đê tiện!

- Ồ! Về chuyện đó - Athos nói - tôi xin cậu hãy tin là tôi chẳng quan tâm mấy đâu. Bây giờ Grimaud, người đã nạp xong rồi, hãy cầm lấy cây giáo ngắn của tay toán trưởng, buộc vào đấy chiếc khăn và cắm lên đỉnh pháo thành để cho bọn phản nghịch Rochelle thấy được là chúng đã gặp phải những binh sĩ can trường và trung thành của nhà Vua.

Grimaud vâng lời mà không trả lời. Một lát sau, lá cờ trắng phấp phới bay bên trên đầu bốn người bạn. Tiếng hoan hô vang dậy như sấm, chào mừng sự xuất hiện lá cờ, một nửa doanh trại đổ ra xem.

- Thế nào? - D Artagnan nhắc lại - Anh không quan tâm mấy việc mụ giết hay cho người giết Buckingham ư?

- Nhưng quận công là bạn của chúng ta.

- Quận công là người Anh, Quận công đánh lại chúng ta, vậy mặc xâc mụ muốn làm gì Quận công thì làm, tôi chỉ quan tâm đến việc ấy như một cái chai hết nhẵn rượu thôi.

Và Athos quăng cái chai chàng đang cầm và vừa rót hết nhẵn sang một cái bình ra xa chàng hai nhăm bước.

- Một giây thôi - D Artagnan nói - tôi cũng không bỏ rơi ông ta như thế, ông ta đã tặng chúng ta những con tuấn mã.

- Và nhất là những bộ yên cương cực đẹp nữa - Porthos nói, và ngay lúc đó thôi, áo khoác của chàng vẫn còn đeo cái ngự của chiếc yên đó.

- Thêm nữa - Aramis nói - Chúa muốn sự cải hối chứ không phải là cái chết của tội đồ.

- Amen - Athos nói - để sau chúng ta hãy quay lại chuyện đó, nếu đó là sở thích của các vị, còn lúc này, điều làm tôi lo lắng hơn cả và tôi tin cậu sẽ hiểu tôi, D Artagnan ạ, là đoạt lại ở mụ đàn bà ấy tấm bạch thư mà mụ đã bóp nặn được ở Giáo chủ và nhờ bức thư ấy mụ sẽ thanh toán được cậu và có thể cả bọn tôi nữa.

- Thế thì nó là một con quỷ chứ không phải là người nữa.

D Artagnan hỏi:

- Tờ bạch thư ấy vẫn trong tay mụ chứ?

- Không, nó đã chuyển sang tay tôi rồi. Tôi không bảo là không vất vả đâu, bởi như thế sẽ là nói dối.

- Anh Athos thân mến - D Artagnan nói - Tôi không đếm nổi những lần anh cứu sống tôi.

- Vậy ra để đến gặp mụ nên anh bỏ lại chúng tôi? Aramis hỏi.

- Đúng thế.

- Và anh có tấm bạch thư ấy của Giáo chủ? D Artagnan hỏi.

- Nó đây này - Athos nói.

Và chàng rút mẩu giấy quý giá đó ra khỏi túi áo khoác.

D Artagnan mở thư, cũng chẳng buồn giấu đôi tay run rẩy, và đọc:

"Theo lệnh của ta và vì lợi ích của quốc gia, người mang tờ gìấy này đã làm điều người đó phải làm".

3 tháng 12 năm 1627

Richelieu

Quả là một sự miễn trừ đối với mọi điều luật - Aramis nói.

D Artagnan cảm thấy như đọc bản án treo cổ chính mình, chàng nói:

- Phải xé mảnh giấy này đi!

- Hoàn toàn trái lại - Athos nói - Ta phải giữ nó như một báu vật. Phủ đầy vàng, tôi cũng không cho mảnh giấy này đâu.

- Và bây giờ mụ sẽ làm gì được nữa nào? - D Artagnan hỏi.

- Ồ - Athos hững hờ nói - Có thể mụ ta sẽ viết thư cho Giáo chủ rằng một tên ngự lâm trời chu đất diệt tên là Athos đã dùng vũ lực tước đoạt tờ thông hành vạn năng của mụ, trong thư, mụ cũng sẽ khuyên nên trừ khử đồng thời cả tên Athos lẫn hai bạn nó là Porthos và Aramis. Giáo chủ sẽ nhớ ra ông luôn chạm trán với những con người đó trên đường đi của mình, rồi một buổi sáng ngày kia, ông sẽ cho bắt giữ D Artagnan, và để cho hắn khỏi phải buồn phiền một mình, ông ta sẽ phái cả lũ chúng ta đến bầu bạn với hắn trong ngục Bastille.

Porthos nói:

- Ôi, anh đùa mà nghe cứ não cả ruột, Athos ạ!

- Tôi không đùa đâu.

- Anh có biết không - Porthos nói - thà cắn cổ cái con Milady trời đánh đó còn nhẹ tội hơn cắn cổ cái bọn Tin lành khốn khổ chả bao giờ mắc tội gì khác là đi hát Thánh ca bằng tiếng Pháp chứ không bằng tiếng Latinh như chúng ta.

- Ngài nói sao, tu viện trưởng? - Athos bình thản hỏi Aramis.

- Tôi nói tôi tán thành ý kiến Porthos - Aramis trả lời.

- Tôi cũng thế - D Artagnan nói.

- Cũng may mà mụ ấy ở xa - Porthos nói - bởi tôi thú thật, nếu mụ ở đây thì ngứa ngáy chân tay tôi lắm.

- Mụ làm phiền tôi ở Anh cũng như ở Pháp - Athos nói.

- Mụ làm phiền tôi ở khắp nơi - D Artagnan nói.

- Nhưng khi cậu tóm được mụ, - Porthos hỏi - cậu không dìm chết, bóp cổ, treo cổ mụ lên chứ? Chỉ có chết rồi, mụ mới không trở lại được.

- Cậu tin vậy ư? Porthos? - Athos hỏi với một nụ cười u tối mà chỉ D Artagnan mới hiểu.

- Tôi có một ý kiến - D Artagnan nói.

- Nói xem nào? - Cả mấy người cùng bảo chàng.

Grimaud bỗng hét lên:

- Cầm súng!

Lần này một toán nhỏ khoảng hai mươi đến hai nhăm người, nhưng không còn là lính thợ nữa đó là bọn lính đồn trú.

Porthos nói:

- Ta quay về doanh trại chăng? Tôi thấy có vẻ không cân sức.

- Không được - Athos trả lời - vì ba lý do. Thứ nhất, chúng ta chưa xong bữa điểm tâm. Thứ hai, chúng ta vẫn còn những điều quan trọng phải bàn. Thứ ba, còn thiếu mười phút nữa mới hết hạn cược.

- Vậy thì, Aramis nói - phải vạch ra một kế hoạch tác chiến chứ.

- Rất đơn giản - Athos nói - ngay khi quân địch ở đúng tầm, là ta bắn. Nếu chúng tiếp tục tiến, ta bắn nữa cho kỳ hết súng đã nạp sẵn, nếu bọn còn lại muốn leo lên xung phong, chúng ta để cho bọn vây ta xuống đến tận hào, lúc đó ta mới đẩy những vạt tường đã lung lay chỉ còn trụ lại nhờ ở thế cân bằng kỳ quái lên đầu chúng.

- Hoan hô! - Porthos nói - Athos ạ, nhất định anh sinh ra là để làm tướng rồi, và Giáo chủ cứ tưởng mình là nhà quân sự đại tài cũng chưa nước mẹ gì so với anh.

- Thưa các vị - Athos nói - Đừng lải nhải vô tích sự nữa, tôi xin đấy, mỗi người hãy nhằm một tên đi.

- Tôi nhằm tên của tôi rồi - D Artagnan nói.

- Tôi cũng có rồi - Porthos nói.

- Tôi cũng thế - Aramis nói.

- Vậy bắn! - Athos nói.

Bốn phát súng cùng nổ thành một tiếng và bốn tên ngã.

Lập tức tiếng trống đánh thúc giục tốp lính xông lên theo nhịp trống.

- Thế là tiếng súng nối tiếp nhau nổ, lúc mau lúc thưa, nhưng luôn luôn chính xác. Tuy nhiên vì biết được sự yếu thế về quân số của bọn họ, quân Rochelle tiếp tục tiến bước.

Cứ ba phát bắn ra thì hai tên ngã, nhưng việc tiến quân của những tên còn vững vẫn không chịu chậm lại. Đến chân pháo thành, quân thù còn mười hai hay mười lăm tên gì đó, một loạt đạn cuối cùng bắn ra đón chúng nhưng chúng không hề dừng lại, chúng nhảy xuống hào và chuẩn bị leo lên lỗ hổng.

- Bây giờ, các bạn - Athos nói - Một đòn nữa cho xong đi, ra chỗ tường, ra chỗ tường đi!

Và bốn người, có Grimaud giúp, lấy nòng súng bẩy tường, một mảng tường khổng lồ ngả xuống như bị gió đẩy, long khỏi chân, rơi đánh rầm xuống hào thành một tiếng khủng khiếp, rồi người ta nghe thấy tiếng kêu thét lớn, một đám mây bụi bốc lên cao - và thế là hết.

- Liệu chúng có cho bẹp dí từ đứa đầu đến đứa cuối không? - Athos hỏi.

- Tôi thấy hình như thế - D Artagnan nói.

- Không - Porthos nói - có hai ba đứa đang bò lê chạy trốn kia kìa.

Quả nhiên ba bốn tên khốn khổ, người đầy bùn và máu chạy trốn trên con đường trống vắng về thành phố, đó là tất cả những gì còn lại của toán nhỏ ấy.

Athos nhìn đồng hồ rồi nói:

- Thưa các vị, chúng ta ở đây đã được một giờ rồi, và đã thắng cược. Nhưng chúng ta phải là những tay chơi đẹp. Hơn nữa D Artagnan còn chưa nói ý kiến của mình.

- Và chàng ngự lâm, với vẻ bình tĩnh vốn có, ra ngồi trước những món ăn còn lại của bữa điểm tâm.

- Ý kiến của tôi ư? - D Artagnan nói.

- Phải, cậu đã nói cậu có một ý kiến kia mà - Athos nói.

- À, phải rồi! - D Artagnan nói tiếp - tôi sẽ qua bên Anh lần thứ hai, tôi sẽ tìm Buckingham.

- Cậu sẽ không làm điều đó được, D Artagnan - Athos lạnh lùng nói.

- Tại sao vậy? Tôi đã từng sang đó mà?

- Phải, lần đó, chúng ta không đang có chiến tranh, ông De Buckingham là một đồng minh chứ không phải là một kẻ thù. Điều cậu định làm sẽ bị quy là phản bội.

D Artagnan hiểu sức mạnh của lý lẽ đó nên im mất.

- Nhưng - Porthos nói - hình như tôi cũng có ý kiến đây!

- Im để nghe ý kiến của Porthos nào! -Aramis nói.

- Tôi xin ông De Treville nghỉ phép, viện một cái cớ nào đó mấy người sẽ tìm hộ, vì tôi không giỏi về chuyện viện cớ. Milady không biết tôi, tôi đến gần mụ, mụ cũng không nghi ngại gì, và khi tôi tìm được người đẹp, tôi sẽ bóp chết mụ.

- Ờ được đấy! Athos nói - có thể chấp thuận ý kiến ấy được.

- Thôi đi! - Aramis nói - Giết một người đàn bà ư! Không, nghe đây, tôi có một ý kiến thiết thực.

Athos vốn rất tôn trọng chàng ngự lâm trẻ này nên nói:

- Để xem ý kiến của Aramis nào!

- Phải báo trước cho Hoàng hậu.

- Hay! Phải rồi - cả Porthos lẫn D Artagnan đều reo lên -

- Thế là cũng đã có cách rồi.

- Báo trước cho Hoàng hậu ư? - Athos nói - Và báo thế nào?

- Chúng ta có ai thân thích trong triều không? Ta có thể cử ai đến Paris mà ở doanh trại người ta không biết không? Đây đến Paris là bốn trăm dặm. Thư của chúng ta chưa tới Ănggiê thì chúng ta đã bị tống vào hầm tối rồi.

- Về việc làm thế nào để chuyển thư an toàn cho Hoàng hậu - Aramis đỏ mặt nói - tôi xin đảm nhiệm, tôi quen một người ở Tours rất khôn khéo.

Aramis thấy Athos mỉm cười liền dừng lại.

- Thế nào, anh Athos, anh không chấp nhận cách đó ư? - D Artagnan nói.

- Tôi không hoàn toàn bác bỏ - Athos nói - nhưng chỉ muốn lưu ý Aramis là không thể rời khỏi doanh trại được, mà mọi người khác ngoài chúng ta đều không an toàn, chỉ cần hai giờ sau khi phái viên ra đi là bọn tu sĩ dòng Frăngxít, bọn mật vụ, bọn mũ nồi đen của Giáo chủ đã thuộc lòng bức thư, và người ta sẽ bắt giữ cậu cùng với con người khôn khéo của cậu nữa.

- Chưa kể - Porthos nói - Hoàng hậu sẽ cứu De Buckingham nhưng không cứu chúng ta đâu.

- Thưa các vị - D Artagnan nói - điều Porthos nói đầy ý nghĩa đấy.

- Ơ kìa? Có chuyện gì xảy ra trong thành ấy nhỉ! - Athos hỏi.

- Chúng đánh trống ra quân.

Bốn người lắng tai nghe, và tiếng trống vang đến tận chỗ họ.

- Các cậu sẽ thấy chúng sắp phái cả một binh đội đến đánh chúng ta đấy - Athos nói.

- Anh không định chống chọi với cả một binh đội đấy chứ?

Porthos hỏi.

- Tại sao không? - Chàng ngự lâm quân đáp - Tôi cảm thấy mình đang hăng máu đây. Và tôi sẽ trụ vững trước cả một đạo quân, chỉ cần chúng ta phòng bị trước bằng cách có thêm mười hai chai rượu nữa.

D Artagnan nói:

- Tôi thề là tiếng trống đang đến gần đấy. Cứ để cho nó đến gần - Athos nói - Đường đi từ đây đến thành phố chỉ mất mười lăm phút và do đó từ thành phố đến đây cũng vậy. Còn khối thì giờ để ta vạch ra kế hoạch của ta. Nếu đi khỏi đây, chẳng bao giờ chúng ta còn tìm lại được một chỗ thuận lợi như thế. Và xem này, đúng là mình vừa có một ý rất hay, các vị ạ.

- Nói xem nào.

Cho phép mình ra lệnh cho Grimaud một vài điều cần thiết.

Athos ra hiệu cho người hầu của mình lại gần.

- Grimaud - Athos chỉ những người chết nằm yên trong pháo thành - Anh đem những vị này dựng lên tựa vào tường thành, đội mũ lên đầu họ, và đặt súng vào tay họ(1).

- Ôì, vĩ nhân! - D Artagnan nói - Tôi hiểu anh rồi - Cậu hiểu ư? - Porthos hỏi - Còn anh, Grimaud, anh có hiểu không? Aramis nói.

Grimaud ra hiệu có hiểu.

- Chỉ cần có thế thôi - Aramis nói - ta trở lại ý kiến của tôi đã.

- Tôi muốn hiểu cặn kẽ cơ - Porthos nói.

- Không cần thiết.

- Có chứ, có chứ, phải hiểu cặn kẽ ý kiến của anh Athos chứ? cả D Artagnan và Aramis cùng nói.

- Cái mụ Milady ấy, mụ đàn bà ấy, con súc sinh ấy, con quỷ ấy có một gã em chồng, theo như cậu nói với tôi có phải không, D Artagnan?

- Phải, tôi còn biết ông ta rất rõ nữa, và tôi cũng tin ông ta không có cảm tình mấy với chị dâu mình.

- Điều đó không phải là dở, nhưng nếu ông ta ghét mụ thì tốt hơn.

- Trong trường hợp đó, chúng ta càng được việc.

- Thế nhưng - Porthos nói - tôi vẫn muốn biết Grimaud làm cái gì?

- Tên gã em chồng là gì?

- Huân tước De Winter.

- Bây giờ hắn ở đâu?

- Trở về London ngay khi có tin chiến tranh rồi.

- Thế thì, đó chính là người mà chúng ta cần, Athos nói - đó chính là người thích hợp với cậu để báo trước. Chúng ta sẽ cho ông ta biết là chị dâu ông ta đang định ám sát ai đó, và chúng ta sẽ yêu cầu ông ta đừng rời mắt khỏi mụ ta. Tôi hy vọng ở London chắc cũng có một cơ sở nào đó chứa những mụ đàn bà con gái sa ngã để hoàn lương, để ông ta tống chị dâu mình vào đó, thế là ta yên tâm.

- Yên tâm - D Artagnan nói - cho đến khi mụ ta ra khỏi đây.

- Chà, thật tình - Athos nói - cậu đòi hỏi nhiều quá đấy, D Artagnan à, tôi đã hiến cho cậu tất cả những gì tôi có, và xin báo trước thế là cạn túi rồi.

- Tôi thì tôi lại thấy thế này tốt hơn - Aramis nói, chúng ta báo trước cho cả Hoàng hậu lẫn Huân tước De Winter.

- Đúng, nhưng chúng ta sẽ nhờ ai mang thư đến thành Tours và đến London?

- Tôi đảm bảo Bazin đi được - Aramis nói.

- Và tôi, là Planchet - D Artagnan nói.

Porthos nói:

- Quả là nếu chúng ta không thể rời doanh trại, thì những người hầu của chúng ta có thể rời đi lắm chứ.

- Hẳn rồi - Aramis nói - và ngay hôm nay, ta viết thư, ta sẽ cho họ tiền và họ ra đi.

- Chúng ta cho họ tiền? - Athos hỏi lại - vậy các cậu có tiền không?

Bốn người nhìn nhau, và một áng mây lướt trên trán họ vừa mới rạng ra được một lúc.

- Báo động! - D Artagnan hét lên - tôi thấy những chấm đen và những chấm đỏ đang động đậy dưới kia, vậy mà anh nói là một binh đội được ư, Athos, cả một đạo quân đấy!

- Phải, chúng đấy! - Athos đáp - Cậu thấy lũ thâm hiểm này đang đến không kèn, không trống chứ? A, làm xong rồi hả Grimaud?

Grimaud ra hiệu xong rồi, và chỉ mười hai xác chết hắn đã đặt trên những độ cao rất ngoạn mục số này thì cầm súng, số kia thì nhắm bắn, số khác tay cầm gươm.

- Hoan hô? - Athos nói - trí tưởng tượng của người như thế là đáng tôn vinh đó.

- Thì cũng đến thế thôi - Porthos nói - Tôi muốn hiểu cặn kẽ cơ.

- Hãy chuồn đã - D Artagnan nói - anh sẽ hiểu sau.

- Khoan tí đã các vị! Khoan một tí cho Grimaud có thì giờ dọn dẹp đi đã.

- Này này! - Aramis nói - Những chấm đen và chấm đỏ mỗi lúc một to thêm và trông rõ quá rồi, tôi đồng ý với D Artagnan, tôi tin chúng ta không còn dềnh dàng việc rút về doanh trại được nữa đâu.

- Thì tôi có gì để chống lại việc rút lui nữa đâu. Chúng ta đánh cược một giờ, ta đã ở đây một giờ rưỡi, có gì đáng nói nữa, đi thôi, các vị, đi thôi.

Grimaud bê thúng thức ăn thừa đi trước.

Bốn người đi sau gã cách khoảng mươi bước.

- Ê này các vị - Athos nói - Chúng ta làm cái quỷ gì thế?

- Anh quên cái gì ư? - Aramis hỏi.

- Mẹ kiếp, còn lá cờ? Không thể để cờ lọt vào tay quân thù được, ngay cả khi nó chỉ là một cái khăn ăn.

Và Athos lao trở lại pháo thành, leo lên bậc thềm, nhổ lấy lá cờ lên, có điều quân Rochelle đã đến đúng tầm bắn, chúng bắn chát chúa vào phía chàng đang phơi mình ra như một thú vui.

Athos vừa vẫy cờ vừa quay lưng lại bọn Rochelle và chào những người của doanh trại. Từ hai mặt tiếng reo hò vang dội, một mặt là những tiếng la hét giận dữ, mặt kia lại là những tiếng reo cuồng nhiệt.

Một loạt đạn thứ hai tiếp theo loạt thứ nhất và ba viên khoan thủng biến chiếc khăn ăn thành một lá cờ thực sự. Tiếng la vang lên từ khắp doanh trại.

- Xuống đi, xuống đi!

Athos đi xuống. Các bạn đang rất đỗi lo âu đợi chàng, rất vui mừng thấy chàng trở lại.

- Nào, nào - D Artagnan nói - Bước dài chân ra, mau lên, giờ thì chúng ta đã giải quyết được tất cả rồi, trừ mỗi tiền thôi, để bị giết thì ngu ngốc quá.

Nhưng Athos vẫn bước một cách đường hoàng, mặc kệ những lời chỉ trích của các đồng đội, rồi thấy chỉ trích cũng vô ích, họ đành phải bước theo kiểu đường hoàng theo chàng.

Grimaud bê thúng đi trước đã ra khỏi tầm bắn.

Một lát sau lại vang lên tiếng súng bắn tới.

- Thế là thế nào? - Porthos hỏi - Chúng bắn vào cái gì vậy?

- Tôi không nghe thấy tiếng đạn réo và chẳng nhìn thấy ai cả.

- Chúng bắn vào những xác chết đấy - Athos trả lời.

- Nhưng những xác chết của chúng ta sẽ không đáp lại.

- Đúng thế, thế là chúng liền tưởng là một ổ phục kích, chúng sẽ bàn bạc, rồi sẽ cử một tên đến thương nghị, và khi chúng nhận ra đó là một trò đùa, chúng ta đã ở ngoài tầm bắn.

- Bởi thế làm gì phải vội vã cho nó hết hơi.

- Ồ, tôi hiểu rồi? - Porthos kinh ngạc nói.

- Thế thì sung sướng quá! - Athos nhún vai nói.

Về phía mình, những người Pháp thấy bốn người bạn lững thửng trở về, reo lên cuồng nhiệt.

Cuối cùng một loạt đạn súng trường lại vang lên, và lần này đạn tới bệt dí trên sỏi đá xung quanh bốn người bạn, và réo lên thê thảm bên tai họ. Bọn Rochelle cuối cùng cũng đã chiếm được pháo thành.

- Đúng là một lũ vụng về - Athos nói - Chúng ta giết được bao nhiêu đứa? Mười hai phải không?

- Hoặc mười lăm gì đó.

- Bao nhiêu đứa bị chết bẹp?

- Từ tám đến mười đứa.

- Mất tất cả ngần ấy mà không đổi lại được một vết xước ư?

- Chà! Khá thật? Cậu làm sao ở tay vậy, D Artagnan? Máu ư?

- Không sao cả - D Artagnan nói.

- Một viên đạn lạc?

- Không phải đâu.

- Vậy là cái gì?

Như đã nói, Athos yêu D Artagnan như con mình, và cái tính u trầm và cứng rắn đôi khi đối với chàng trai trẻ lại như những chăm sóc của người cha.

- Vết xước da thôi - D Artagnan đáp - những ngón tay tôi lại bị kẹp giữa hai hòn đá, một hòn ở bức tường và một viên trên chiếc nhẫn, thế là da bị rách ra.

- Thế mới biết thế nào là có kim cương, ông chủ ạ - Athos nói mỉa.

- Và phải rồi - Porthos reo lên - Quả là có một viên kim cương cơ mà, vậy thì tại cái quỷ gì mà một khi đã có một viên kim cương lại cứ phàn nàn là không có tiền?

- Ừ, phải rồi! - Aramis nói.

- Thế là may quá rồi, Porthos, lần này mới thật là một ý kiến.

- Hẳn rồi - Porthos gân cổ lên nói trước sự khen ngợi của Athos - một khi có kim cương, ta bán béng nó đi.

- Nhưng - D Artagnan nói - Đó là kim cương của Hoàng hậu.

- Càng đáng bán - Athos nói tiếp - Hoàng hậu cứu Buckingham người tình của mình, không gì đúng hơn thế.

- Hoàng hậu cứu chúng ta, những người bạn của bà, không gì đạo lý hơn, bán cái nhẫn kim cương đi. Ngài nghĩ sao, cha tu viện trưởng? Tôi không hỏi ý kiến Porthos nữa, cậu ấy đã nói rồi.

- Còn tôi thì nghĩ - Aramis đỏ mặt lên nói - vì chiếc nhẫn không phải do người tình tặng và do đó không phải là tín vật của tình yêu nên D Artagnan có thể bán nó.

- Bạn thân mến, anh nói như một nhà thần học bằng xương, bằng thịt vậy. Như thế ý kiến của anh là...

- Là bán cái nhẫn kim cương - Aramis trả lời.

- Thế thì! - D Artagnan vui vẻ nói - Ta bán chiếc nhẫn kim cương đi và đừng bàn bạc gì nữa.

Loạt súng mới tiếp tục nổ, nhưng mấy người đã ra khỏi tầm bắn và quân Rochelle chỉ còn bắn để khỏi trái với lương tâm của họ.

- Quả thật tôi thấy ý kiến của Porthos đưa ra thật đúng lúc.

- Giờ đây ta đã ở doanh trại. Như vậy, thưa các vị, không nói ra nói vào một câu nào nữa về mọi chuyện này. Người ta đang quan sát chúng ta, sẽ đến gặp gỡ chúng ta, chúng ta sẽ được công kênh vì chiến thắng.

Quả nhiên, toàn doanh trại đùng đùng chuyển động, hơn hai nghìn người đã tham dự một trò bịp bợm như một màn kịch, một trò bịp bợm may mắn của bốn người bạn mà còn lâu người ta mới nghi ngờ động cơ thực sự của nó. Người ta chỉ còn nghe thấy những tiếng hò "Cận vệ muôn năm! Ngự lâm muôn năm".

Ông De Buyxinhi là người đầu tiên đến siết tay Athos, nhận đã thua cược. Chàng long kỵ binh và chàng lính Thụy sĩ đi theo ông ta, tất cả các bạn hữu đều đi theo chàng Long kị binh và chàng Thụy Sĩ. Khen ngợi bắt tay, ôm hôn không dứt, những chuỗi cười đối với bọn Rochelle không tắt, cuối cùng là một sự náo động lớn đến nỗi Giáo chủ tưởng có nổi loạn phải sai La Huđinie, viên đại úy cận vệ đến xem có chuyện gì.

Mọi việc được kể lại cho vị phái viên với tất cả sự tưng bừng cuồng nhiệt.

- Thế nào? - Giáo chủ hỏi khi thấy La Hyđinie.

- Ồ, thưa Đức ông - người này nói - đó là ba chàng ngự lâm quân và một cận vệ đánh cược với ông De Buyxinhi đến ăn điểm tâm trong pháo thành Saint Giécve, và vừa ăn vừa chống chọi trong hai giờ đồng hồ với quân thù và tôi không biết đã giết được bao nhiêu quân Rochelle.

- Ông có hỏi tên ba người đó không?

- Có, thưa Đức ông.

- Tên là gì?

- Đó là các ông Athos, Porthos, và Aramis.

- Vẫn là mấy tay can trường của ta - Giáo chủ lẩm bẩm - Và tay cận vệ?

- Ông D Artagnan.

- Vẫn luôn là gã quỷ non của ta! Dứt khoát bốn con người ấy phải thuộc về ta.

Ngay tối ấy, Giáo chủ nói với ông De Treville về chiến công buổi sáng khiến cả doanh trại phải bàn tán. Ông De Treville đã nắm được câu chuyện phiêu lưu ấy từ chính miệng của những nhân vật từng là anh hùng đó, liền kể lại hết đến từng chi tiết, không quên đoạn chiếc khăn cho Giáo chủ nghe.

- Tốt lắm, ông De Treville ạ - Giáo chủ nói - Làm ơn cho tôi được giữ chiếc khăn. Tôi sẽ cho thêu ba bông huệ bằng vàng lên đó, và tôi sẽ trao lại cho đại đội ngài để làm quân kỳ.

- Thưa Đức ông - Ông De Treville nói - Như thế sẽ bất công đối với quân cận vệ. Ông D Artagnan không thuộc quân tôi mà thuộc ông des Essarts.

- Thế thì, ông hãy lấy anh ta sang đại đội ông đi - Giáo chủ nói - Một khi bốn chiến binh can trường yêu quý nhau đến thế mà lại không phục vụ trong cùng một đại đội há chẳng bất công sao.

Ngay tối đó, ông De Treville báo cáo tin ấy cho ba chàng ngự lâm và D Artagnan và mời cả bốn người hôm sau tới ăn điểm tâm.

D Artagnan không đủ sức để gánh nổi vui mừng nữa. Uớc mơ suốt đời chàng là trở thành một ngự lâm quân.

- Thật tình! - D Artagnan nói với Athos - Ý của anh đã làm nên chiến thắng đó, và như anh đã nói đấy, chúng ta đã có thể gắn nó với một cuộc bàn bạc quan trọng bậc nhất.

- Ta lại còn có thể trở lại câu chuyện đó lúc này mà không bị ai nghi ngờ, bởi nhờ Chúa phù hộ, từ nay chúng ta chuyển sang phe Giáo chủ rồi.

Ngay tối đó, D Artagnan tới để tỏ lòng tôn kính ông des Essarts và báo tin cho ông mình đã được đề bạt.

Ông des Essarts rất yêu D Artagnan liền ngỏ ý tặng chàng một số thứ, vì sự thay đổi đơn vị sẽ dẫn đến những khoản chi tiêu sắm sửa quân trang.

D Artagnan từ chối, nhưng không bỏ lỡ dịp tốt, chàng nhờ ông đánh giá giúp chiếc nhẫn kim cương trao cho ông mà chàng muốn đổi thành tiền.

Tám giờ sáng hôm sau, tên hầu của ông des Essarts đến chỗ D Artagnan và trao cho chàng một túi vàng bẩy nghìn livres.

Đó là giá chiếc nhẫn kim cương của Hoàng hậu.

Chương 48

Việc gia đình.

Athos đã tìm ra được từ: Việc gia đình. Việc gia đình không chịu sự điều tra của Giáo chủ. Việc gia đình không liên quan đến ai. Người ta có thể lo việc gia đình công khai trước mọi người.

Thế là Athos đã tìm ra được từ: Việc gia đình.

Aramis tìm ra ý tưởng: những tên hầu.

Porthos nghĩ phương kế. nhẫn kim cương.

Chỉ có D Artagnan chẳng nghĩ ra kế gì, nhưng lại vẫn thường là người có nhiều sáng kiến nhất trong bốn người. Nhưng cũng phải nói, chỉ riêng cái tên Milady đủ làm chàng tê liệt.

- À mà có chứ, chàng đã tìm được người mua nhẫn kim cương.

Bữa điểm tâm ở nhà ông De Treville là một chuyện vui mừng mê ly. D Artagnan đã có đồng phục ngự lâm. Vì cùng vóc người với Aramis vì Aramis được chủ hiệu sách trả hậu cho bài thơ của chàng, nên cái gì cũng sắm một đôi, và chàng đã nhường cho bạn mình một bộ quân trang hoàn chỉnh. D Artagnan có lẽ đã tràn trề thỏa mãn ước nguyện nếu như chàng không nhìn thấy Milady vẫn ló ra như một đám mây đen ở chân trời.

Sau bữa điểm tâm họ thỏa thuận sẽ họp mặt tại lều của Athos và ở đó sẽ bàn nốt công việc.

D Artagnan suốt ngày hôm đó đi khắp doanh trại để phô bộ trang phục ngự lâm quân.

Buổi tối, theo giờ đã ấn định, bốn người bạn tụ hội lại. Chỉ còn ba điều phải quyết định:

- Viết gì cho em chồng Milady. Viết gì cho con người khôn khéo ở Tours.

Những gã hầu nào sẽ mang thư đi.

Mỗi người đều hiến người hầu của mình. Athos nói về tính kín đáo của Grimaud, chỉ nói khi chủ tháo chỉ khâu ở miệng.

Porthos khoe sức lực của Mousqueton ở tầm cỡ có thể quật đổ bốn người bình thường. Aramis tin tưởng ở sự khôn khéo của Bazin, ca tụng bốc trời ứng viên của mình. Cuối cùng, D Artagnan hoàn toàn tin tưởng vào sự can trường của Planchet, và nhắc lại chuyện hắn đã xử trí thế nào trong vụ việc gai góc ở Bulônhơ.

Bốn đức tính ấy giành giật nhau hồi lâu trong cuộc thi tuyển ngoạn mục.

- Không may thay - Athos nói - ta lại cần phái đi một người hội đủ cả bốn đức tính ấy.

- Nhưng tìm đâu ra được một người hầu như thế?

- Không thể tìm nổi - Athos nói - Tôi biết rõ mà. Ta lấy Grimaud vậy.

- Lấy Mousqueton.

- Lấy Bazin.

- Lấy Planchet: Planchet dũng cảm và khôn khéo, thế là có hai trong bốn phẩm chất rồi.

- Thưa các vị - Aramis nói - cái chính không phải là biết ai trong bốn gã là người kín đáo nhất, khỏe nhất, khôn khéo nhất, hoặc can trường nhất, cái chính là phải biết xem kẻ nào thích tiền nhất.

- Điều mà Aramis nói thật đầy ý nghĩa - Athos nói tiếp - Ta nên lợi dụng những tật xấu của con người chứ không phải là đức hạnh của họ - Thưa cha tu viện trưởng, ngài đúng là một nhà đạo đức học lớn?

- Hẳn rồi - Aramis nói - bởi không những ta cần được phục vụ tốt sao cho thành công, mà còn không để thất bại. Bởi trường hợp thất bại, lại là chuyện cái đầu, không phải đầu của người hầu đâu.

- Khẽ chứ, Aramis! - Athos nói.

- Đúng thế, không phải đầu bọn người hầu- Aramis nói tiếp - mà đầu người chủ và đầu cả mấy người chủ nữa! Bọn người hầu của chúng ta liệu có trung thành đến mức liều đời vì chúng ta không? Không!

- Tôi tin - D Artagnan nói - tôi hầu như đảm bảo cho Planchet.

- Thế thì! Bạn thân mến, bạn hãy thêm vào lòng trung thành tự nhiên của hắn một món sộp vào làm cho hắn sống dễ chịu một chút, thay vì đảm bảo một lần, làm thế là đảm bảo gấp đôi đấy.

- Ôi, lạy Chúa? Dẫu sao các cậu cũng nhầm cả rồi - Athos vốn lạc quan khi đụng đến sự vật, lại bi quan khi đụng đến con người, nói - Họ sẽ hứa tràn đi để có tiền, và dọc đường nỗi sợ hãi sẽ ngăn họ hành động. Một khi đã cầm tiền, họ sẽ nắm lấy nó cho thật chắc. Nắm chắc rồi, họ sẽ thú nhận. Mẹ kiếp! Chúng ta không phải lũ con nít! Để sang được nước Anh (Athos hạ giọng) phải đi qua gần khắp nước Pháp nhan nhản bọn gián điệp và bọn chó má của Giáo chủ, phải có hộ chiếu để xuống tàu, phải biết tiếng Anh để hỏi đường tới London. Xem xem, tôi thấy điều này khó lắm.

- Chả khó tí nào - D Artagnan kiên quyết chủ trương phải làm việc này cho kỳ được nói - Trái lại, tôi thấy dễ thôi. Mẹ kiếp, tất nhiên, nếu ta viết cho Huân tước De Winter những điều vượt qua chuyện nhà cửa, những nỗi hãi hùng về Giáo chủ.

- Khẽ chứ? - Athos nói.

- Những âm mưu những bí mật quốc gia, - D Artagnan tiếp tục nói nhỏ theo lời nhắc nhở của Athos - Tất nhiên chúng ta sẽ bị bánh xe nghiến tươi tất cả(1) nhưng lạy Chúa, đừng quên, như anh đã nói, Athos ạ, chúng ta với mục đích duy nhất để khi Milady đặt chân tới London, ông ta loại ngay mụ không cho hại chúng ta. Tôi sẽ viết cho ông ta một bức thư đại khái như thế này...

- Để xem nào - Aramis nói, mặt đã sẵn vẻ phê phán

"Thưa ngài bạn thân mến"...

- À, hay lắm, bạn thân mến, với một người Anh - Athos ngắt lời mở đầu khá lắm! Hoan hô, D Artagnan! Riêng với câu ấy cậu đã bị phanh thây thay cho bị nghiến sống rồi.

- Thế thì, thế này vậy: "Thưa ngài", gọn thế thôi.

- Cậu cứ gọi là "Thưa Huân tước" - Athos nắm vững các nghi thức nói.

"Thưa Huân tước, ngài còn nhớ khu vườn kín thả dê ở Luxembourg chứ?"

Hay thật! Vườn Luxembourg lúc này ư? Người ta lại tưởng bóng gió Thái hậu?

- Viết thế mới thật là khéo! - Athos nói.

- Thế thì, đơn giản thôi vậy "Thưa Huân tước, ngài có nhớ một bãi kín nhỏ nào đó mà người ta đã tha mạng ngài?"

- D Artagnan ơi là D Artagnan - Athos nói - Cậu sẽ chỉ mãi mãi là một biên tập viên tồi, "Mà người ta đã tha mạng ngài".

- Thôi đi! - Ai lại đi viết thế. Người ta không nhắc những việc đó với một người lịch sự. Trách quên ơn là gây thù oán đó.

- Ôi! Bạn thân mến, - D Artagnan nói - anh thật không thể chịu nổi, và nếu cứ phải viết dưới sự kiểm duyệt của anh, nói thật nhé, tôi thèm vào nữa.

- Cậu làm thế là đúng. Cậu hãy điều khiển cây súng và lưỡi gươm, bạn thân mến ạ, hai ngón đó thì cậu rất hào hoa, còn cây bút hãy chuyển cho ngài tu viện trưởng, nó liên quan đến ngài nhiều hơn.

- Ờ, đúng, phải rồi - Porthos nói - hãy chuyển bút cho Aramis, hắn ta viết luận văn bằng cả tiếng Latinh kia mà.

- Thôi được - D Artagnan nói - Aramis, anh soạn thảo bức thư này đi. Nhưng thề có Đức Thánh cha giáo hoàng! Hãy viết cho chặt chẽ, bởi đến lượt tôi, tôi cũng sẽ vặt lông anh đấy, xin báo trước như vậy.

- Tôi không đòi hỏi gì hơn - Aramis nói với niềm tin ngây thơ mà mọi thi sĩ vốn có sẵn trong mình - Nhưng phải cho tôi biết rõ đã, tôi mới chỉ được nghe chỗ này, chỗ kia mỗi chỗ một tí, rằng con chị dâu đó là một con gian manh tôi cũng đã có bằng chứng khi nghe nó nói chuyện với Giáo chủ.

- Khẽ chứ nào, đồ quỷ! - Athos nói.

- Nhưng - Aramis tiếp tục - tôi không nắm được chi tiết.

- Tôi cũng vậy - D Artagnan nói.

D Artagnan và Athos im lặng nhìn nhau một lúc. Cuối cùng Athos sau khi đã tĩnh tâm lại và tái người đi hơn thường lệ vốn đã như thế, ra hiệu đồng ý, D Artagnan hiểu mình có thể nói ra.

- Thế thì! Đây là điều phải nói ra - D Artagnan nói tiếp - "Thưa Huân tước, chị dâu ngài là một mụ đàn bà hiểm độc, đã từng muốn giết ngài để hưởng gia tài của ngài. Nhưng mụ không thể lấy anh trai ngài, vì đã cưới chồng ở Pháp, và đã bị...

D Artagnan dừng lại nhìn Athos như thể muốn tìm một từ.

- "Bị chồng đuổi", - Athos nói.

- "Bởi vì mụ đã từng bị đóng dấu chín" - D Artagnan tiếp tục.

- Sao, mụ định giết người em chồng ư? Porthos kêu lên - - Không thể thế.

- Phải, thế đấy.

- Mụ đã từng có chồng? Aramis hỏi.

- Phải.

- Và chồng mụ đã phát hiện ra dấu bông huệ đóng chín trên vai mụ? - Porthos kêu lên.

- Phải.

Ba tiếng "phải" đều do Athos nói, mỗi tiếng giọng càng u uất hơn.

- Và ai đã nhìn thấy cái dấu hoa huệ đó? Aramis hỏi.

- D Artagnan và tôi, hay đúng hơn, nếu theo trật tự niên giám là tôi và D Artagnan - Athos trả lời.

- Và người chồng của con mụ ghê tởm đó còn sống? Aramis hỏi.

- Ông ta còn sống.

- Anh có chắc không?

- Tôi chắc chứ.

Một phút im lặng lạnh lùng, trong khi đó mỗi người đều cảm nhận riêng theo bản tính của mình. Athos là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng, chàng nói:

- Lần này, D Artagnan đã đưa ra cho chúng ta một chương trình hành động rất hay và trước hết ta phải viết thế đã.

- Anh nói đúng, Athos ạ - Aramis nói - và việc biên tập mới gai góc đây. Bản thân ông chánh án cũng sẽ bối rối khi soạn thảo một bức thư mạnh mẽ như thế, trong khi đó ông ta soạn thảo một bản án một cách dễ dàng. Thôi được, các người im đi để tôi viết Thế là Aramis cầm lấy bút, nghĩ vài phút, viết liền một mạch tám đến mười dòng, bằng nét chữ mềm mại duyên dáng của đàn bà, rồi bằng một giọng dịu dàng và chậm rãi như thể mỗi từ đã được cân nhắc chu đáo, chàng đọc:

"Thưa Huân tước,

Người viết mấy dòng chử này cho ngài đã có vinh dự được đọ gươm với ngài trong một mảnh đất kín ở phô Âm ty. Từ đó vì ngài đã từng nhiều lần muốn kết bạn với người đó, người đó có nghĩa vụ phải nhận ra tình bạn bằng một lời khuyên chân thành. Hai lần ngài suýt nữa đã trở thành nạn nhân của người họ hàng gần nhất mà ngài tin là người thừa kể, bởi vì ngài không biết trước khi kết hôn ở Anh, người đó đã từng cưới chồng ở Pháp. Nhưng lần thứ ba, tức lần này, ngài có thể bị giết hại. Mụ họ hàng đó ra đi từ La Rochelle trong đêm tối tới nước Anh. Ngài hãy giám sát mụ khi mụ tới, bởi mụ có những mưu toan to lớn và khủng khiếp. Nếu ngài nhất thiết muốn biết mụ ta có khả năng làm chuyện gì, xin ngài hãy xem cái quá khứ của mụ trên vai trái..."

- Ồ, thế là tốt lắm rồi, Athos nói - cậu đúng là một cây bút cỡ đổng lý văn phòng Nhà nước, Aramis ạ. Bấy giờ Huân tước De Winter sẽ cảnh giác cao, đương nhiên nếu thư này đến tay ông ta, và không may nó có rơi vào tay Giáo chủ, thì chúng ta cũng sẽ không bị phương hại gì. Nhưng vì gã người hầu ra đi có thể chỉ dừng lại ở Saterlơrôn mà làm cho chúng ta tin đã đến London, ta chỉ trao bức thư và nửa số tiền, và hứa đưa nốt nửa kia, nếu có thư trả lời. Cậu vẫn còn cái nhẫn chứ?

- Còn hơn cả thế kia, tôi có tiền rồi.

- Và D Artagnan ném cái túi lên bàn, nghe tiếng vàng kêu xủng xoảng, Aramis ngước mắt nhìn, Porthos giật mình, còn Athos vẫn bình thản như không. Chàng hỏi:

- Có bao nhiêu trong túi?

- Bẩy nghìn livrơ toàn tiền mười hai quan.

- Bảy nghìn livres? - Porthos kêu lên - Cái viên kim cương nhỏ hạng xoàng ấy mà giá bảy nghìn livrơ cơ à?

- Chắc là như thế - Athos nói - vì tiền một đống đây. Tôi không cho là anh bạn D Artagnan của chúng ta bỏ thêm tiền của mình vào đâu.

- Nhưng, các vị ạ, trong mọi chuyện này, chúng ta không nghĩ gì đến Hoàng hậu. Vậy chúng ta hãy chăm lo một chút đến sức khỏe của ông Buckingham thân yêu của bà. Đó là điều tối thiểu ta phải làm.

- Chính thế - Athos nói -nhưng việc này liên quan đến Aramis.

Chàng ta đỏ mặt dáp:

- Thế thì tôi phải làm gì nào?

- Ồ - Athos nói tiếp - thật quá đơn giản - soạn thảo một bức thư thứ hai cho con người khôn khéo sống ở Tours.

Aramis lại cầm bút, lại nghĩ, và viết những dòng thư lập tức được các bạn hoan nghênh nhiệt liệt như sau: "Cô em họ thân mến...

- A! - Athos nói - ra con người khôn khéo đó là họ hàng của cậu - Em con cô ấy mà - Aramis nói.

- Vậy tiếp tục với em họ cậu đi!

Aramis tiếp tục đọc:

"Cô em họ thân mến, Đức ông Giáo chủ mà Chúa dành cho hạnh phúc của nước Pháp và sự lúng túng của kẻ thù vương quốc đang sắp kết liễu bọn phản nghịch tà đạo ở La Rochelle. Có thể hạm đội cứu viện quân Anh sẽ không đến kịp để tận mắt nhìn thấy. Tôi cũng không dám nói rằng tôi tin chắc ông De Buckingham sẽ bị ngăn trở bởi một sự cố lớn nào đó. Đức ông là một nhà chính trị lỗi lạc nhất trong thời gian qua. Ngài sẽ dập tắt mặt trời, nêu mặt trời làm vướng chân ngài. Hãy báo những tin vui này cho bà chị em, em thân mến ạ. Anh mơ thấy gã người Anh đáng nguyền rủa ấy bị chết. Anh không thể nhớ lại được là bởi dao găm hay thuốc độc. Có điều anh tin chắc là anh đã mơ thấy hắn bị chết, và như em đã biết đấy, những giấc mơ của anh không đánh lừa anh bao giờ. Em hãy yên tâm, không lâu nữa anh sẽ trở về".

- Tuyệt lắm - Athos nói - cậu là vua của các nhà thơ, Aramis thân mến ạ, cậu nói như Apôcalíp(2) ấy và cậu nói đúng như kinh Phúc âm. Giờ cậu chỉ còn việc ghi địa chỉ vào nửa thôi.

Dễ thôi mà - Aramis nói.

Chàng gập bức thư lại một cách tình tứ rồi viết: "Gửi cô Mítsông, cô thợ may ở thành Tours".

Cả ba người bạn cùng nhìn nhau cười: họ bị lừa, Aramis nói:

- Bây giờ, các vị đã hiểu chỉ Bazin mới có thể mang thư này đi. Cô em họ chỉ quen biết Bazin và chỉ tin anh ta. Bất kỳ ai khác đều làm hỏng việc. Hơn nữa, Bazin nhiều tham vọng và thông thái. Bazin đã đọc lịch sử, các vị ạ, hắn biết Xích Canh đã trở thành giáo hoàng sau khi đã từng chăn lợn con. Hắn cũng tính chuyệnthụ giáo như tôi chẳng qua vẫn hy vọng đến lượt hắn cũng trở thành giáo hoàng hoặc ít nhất cũng Giáo chủ. Các vị hiểu một người đã có những mục tiêu như thế sẽ không để bị tóm, hoặc nếu bị tóm, sẽ chịu tử đạo còn hơn khai ra.

- Tốt, tốt lắm - D Artagnan nói - Tôi hoàn toàn đồng tình anh chọn Bazin. Nhưng anh ủng hộ tôi chọn Planchet đi. Ngày nào Milady đã dùng gậy phang hắn tống ra khỏi cửa mà Planchet thì nhớ dai lắm, và tôi xin đảm bảo, nếu gã thấy có thể trả thù được, thì thà hắn chịu để đánh gãy sống lưng chứ không chịu bỏ cuộc đâu! Nếu việc đi Tours là việc của anh, Athos ạ, việc đi London cũng là việc của tôi. Vậy tôi mong các vị hãy chọn Planchet, hơn nữa hắn đã từng đến London với tôi và biết nói rất chuẩn mấy câu: "London, sir, if want please and My master, lord D Artangman" (London, thưa ngài, mong ngài làm ơn chỉ giúp và ông chủ tôi, ngài D Artagnan). Với những điều đó, xin các vị yên tâm, hắn sẽ biết đường đi, đường về.

- Trong trường hợp ấy - Athos nói - Planchet cần được nhận bẩy trăm livrơ tiền đi và bẩy trăm livrơ tiền về còn Bazin ba trăm livres tiền đi và ba trăm livrơ tiền về. Như thế sẽ còn lại năm nghìn livres, mỗi người chúng ta cầm một nghìn livrơ để chi dùng riêng, còn để lại quỹ một nghìn livrơ mà cha tu viện trưởng sẽ giữ để chi những trường hợp đặc biệt hoặc nhu cầu chung. Như thế có được không?

- Anh Athos thân mến - Aramis nói - Anh nói cứ như ông Nétxto mà ai cũng biết là một nhà thông thái bậc nhất của Hy Lạp ấy.

- Vậy thì! Dứt khoát nhé - Athos nói lại - Planchet và Bazin sẽ đi. Tóm lại, tôi hoàn toàn vui vẻ giữ lại Grimaud, hắn đã quen tính nết chủ, tôi biết thế. Hôm qua chắc hắn đã hết vía, chuyến đi này sẽ chỉ làm hại hắn.

Họ cho gọi Planchet đến và cho hắn những chỉ dẫn. Hắn cũng đã được D Artagnan báo trước, đầu tiên là vinh quang, tiếp đến là tiền bạc rồi đến hiểm nguy.

- Tôi sẽ giấu thư vào mép áo - Planchet nói - nếu bị bắt tôi sẽ nuốt ngay.

D Artagnan nói:

- Ồ, thế thì anh không thể làm nổi nhiệm vụ này rồi.

- Vậy tối nay ông sao cho tôi một bản, mai tôi sẽ thuộc lòng.

D Artagnan nhìn các bạn như muốn nói: "Thế nào! Tôi đã hứa với các anh mà?"

- Bây giờ - Chàng tiếp tục căn dặn Planchet - Anh có tám ngày để đến gặp Huân tước De Winter và có tám ngày để trở về đây, tổng cộng mười sáu ngày. Nếu đến ngày thứ mười sáu sau khi khởi hành, tám giờ tối, anh chưa về đến nơi, sẽ không có tiền, dù là tám giờ năm phút.

- Vậy thì ông chủ - Planchet nói - mua cho tôi một cái đồng hồ!

- Cầm lấy cái này! - Athos vừa nói vừa đưa cho hắn chiếc đồng hồ của mình rất hào hiệp vô tư - Và hãy là một chàng trai can trường. Hãy nghĩ rằng nếu ngươi nói, nếu ngươi ba hoa, nếu ngươi la cà, ngươi sẽ làm chủ ngươi bị chặt cổ, mà chủ ngươi lại hết sức tin tưởng ở long trung thành của ngươi và đảm bảo cho ngươi. Nhưng cũng cần nghĩ nếu do lỗi của ngươi, gây tai họa cho D Artagnan, ta sẽ tìm lại được ngươi ở bất cứ nơi đâu, và sẽ phanh thây ngươi.

- Ồ, thưa ông - Planchet nói, vừa thấy tủi vì bị nghi ngờ và nhất là hoảng sợ về sự bình thản của Athos.

- Và ta - Porthos trợn tròn mắt lên - nên biết ta sẽ lột da mày.

- Ôi, thưa ông!

- Còn ta - Aramis nói bằng một giọng dịu dàng và du dương ta sẽ thiêu người dưới lửa nhỏ như một tên mọi rợ.

- Ôi, thưa ông!

Và Planchet òa khóc, không biết do sự hãi trước những lời hăm dọa đối với hắn hay vì cảm kích khi thấy bốn người bạn gắn bó chặt chẽ với nhau đến thế.

D Artagnan cầm tay và ôm hôn hắn và bảo:

- Thấy chưa, Planchet, các ông ấy nói với ngươi như vậy là vì quý ta, nhưng trong thâm tâm lại yêu mến ngươi.

- Ôi thưa ông? - Planchet nói - hoặc tôi sẽ hoàn thành hoặc cứ cắt tôi ra làm bốn. Cứ việc cắt tôi ra làm bốn, ông cứ tin là không còn sót mảnh nào chịu khai báo đâu.

Chàng quyết định tám giờ sáng hôm sau, Planchet sẽ ra đi cốt để như Planchet đã nói với chàng, đêm có thể học thuộc lòng bức thư. Vậy là hắn có mười hai tiếng đồng hồ để lo việc học. Và phải trở về lúc 8 giờ tối ngày thứ mười sáu.

Sáng hôm sau lúc hắn sắp lên ngựa, D Artagnan trong lòng vẫn cảm thấy lo lắng cho Quận công De Buckingham, kéo Planchet ra một chỗ và bảo hắn:

- Nghe đây, khi anh đã trao thư cho Huân tước De Winter và khi ông ấy đã đọc xong, anh bảo thêm ông ấy: "Xin ngài hãy canh chừng cho ngài Huân tước De Buckingham, bởi vì người ta muốn ám sát ngài ấy". Này Planchet, điều này rất nghiêm trọng, rất cần thiết đến mức ta cũng chẳng muốn thú nhận với các bạn ta là ta tin trao cho anh bí mật này và đối với một nhiệm vụ hàng đầu như thế, ta cũng không muốn viết cho anh mang đi.

- Xin ông yên tâm - Planchet nói - Rồi ông sẽ thấy có thể tin cậy vào tôi.

Và cưỡi trên một con tuấn mã, gã phải đi hai mươi dặm rồi bỏ ngựa lại để đổi ngựa trạm, Planchet phi nước đại, lòng hơi thắt lại vì ba lời hẹn ước của ba chàng ngự lâm quân nhưng dẫu sao cũng trong tình trạng tốt đẹp nhất trên đời.

Bazin ra đi sáng hôm sau đến Tours và có tám ngày để hoàn thành nhiệm vụ.

Bốn người bạn, trong suốt thời gian vắng mặt hai gã ấy, hơn bao giờ hết phải để mắt canh chừng, phải mũi đánh hơi, tai nghe ngóng. Ngày ngày phải thử xem liệu có bắt gặp người ta nói gì không, phải rình rập điệu bộ, dáng dấp của Giáo chủ, phải đánh hơi các xe thư vừa tới. Nhiều lần, không tránh khỏi run lên khi họ bị gọi lên vì một công việc đột xuất nào đó. Vả lại họ cũng phải giữ sao cho được an toàn cho chính họ. Milady là một con ma, khi nó đã hiện hình với ai, nó sẽ không để cho người đó ngủ yên.

Sáng ngày thứ tám, mặt mày tươi tỉnh như vẫn thường thấy, Bazin mỉm cười theo thói quen bước vào tửu quán Pácpayô, đúng lúc bốn người bạn đang ăn điểm tâm, và nói theo đúng quy ước:

- Thưa ông Aramis, đây là thư trả lời của cô em họ.

Bốn người bạn đưa mắt nhìn nhau vui sướng, nửa phần công việc đã được làm xong, tất nhiên đây là phần việc tốn ít thời gian và dễ dàng hơn.

Aramis cầm bức thư, nét chữ thô kệch và sai chính tả, không tránh khỏi đỏ mặt.

- Lạy chúa! - Chàng vừa cười vừa reo lên - dứt khoát là tôi thất vọng rồi. Chả bao giờ cái cô Mítsông tội nghiệp viết được như ông De Voatuya.

- Thế nghĩa là thế nào, cái cô Migiông tội nghiệp ấy - Người lính Thụy sĩ đang trò chuyện với bốn người bạn thì thư đến liền hỏi.

- Ồ, Chúa ơi! Có gì đâu - Aramis nói - một cô thợ may bé nhỏ duyên dáng mà tôi rất yêu và tôi yêu cầu cô ấy viết cho mấy dòng để làm kỷ niệm ấy mà.

- Nói thật nhé - Người lính Thụy Sĩ nói - Nếu nàng là một mệnh phụ như cái chữ viết của nàng, thì ông đúng là có phúc lớn đấy ônh bạn của tôi ạ!

Aramis đọc thư rồi chuyển cho Athos và bảo:

- Athos, anh xem cô ấy viết gì này.

Athos liếc nhìn qua bức thư và muốn dập tắt mọi sự nghi ngờ có thể phát sinh, đọc to lên:

"Anh họ của em ạ, chị em và em đoán rất giỏi những giấc mơ, và chúng em cũng có nỗi sợ khủng khiếp về những giấc mơ ấy. Nhưng về giấc mơ của anh, có thể nói, em hy vọng là mọi mộng mị đều là giả dối. Tạm biệt! Mong anh luôn khỏe và thỉnh thoảng cho chúng em biết tin về anh".

Aglaê Mítsông(3)

- Cô ta nói về giấc mơ nào thế? - Người lính long kỵ xán lại gần trong khi đọc, hỏi.

- Phải, giấc mơ gì vậy? - Người lính Thụy Sĩ nói.

- Ồ, mẹ kiếp - Aramis nói - thì đơn giản nó là một giấc mơ tôi mơ rồi kể cho cô ấy nghe chứ còn cái của nợ gì nữa.

- Ồ, phải, mẹ kiếp! Vì đơn giản là kể lại giấc mơ, nhưng tôi không mơ bao giờ cả!

Athos vừa đứng dậy vừa nói:

- Thế thì anh may quá đấy, tôi những mong có thể nói được như anh thôi!

- Không bao giờ! - Người lính Thụy sĩ lắp lại và tỏ ra rất sung sướng vì một người như Athos lại thèm muốn một điều gì đó ở mình - Không bao giờ! Không bao giờ!

Thấy Athos đứng dậy, D Artagnan cũng đứng lên theo, khoác tay Athos đi ra.

Porthos và Aramis ở lại để đối mặt với những lời giễu cợt của tay lông kỵ binh và người lính Thụy Sĩ.

Còn Bazin, anh chàng ra nằm ngủ khoèo trên một ổ rơm, và anh ta có nhiều óc tưởng tượng hơn anh chàng Thụy Sĩ, nên mơ thấy Aramis trở thành giáo hoàng, và đội lên đầu anh chiếc mũ hồng y Giáo chủ.

Nhưng dù trở về may mắn Bazin cũng không cất được một phần nỗi lo đang châm đốt bốn người bạn. Những ngày chờ đợi dài dằng dặc, và nhất là D Artagnan những muốn đánh cược ngày bây giờ dài bốn tám giờ. Chàng quên mất những sự chậm trễ buộc phải có của công việc chạy tàu. Chàng phóng đại thế lực của Milady. Chàng gán cho mụ đàn bà đối với chàng giống như một con quỷ đó, có lũ tay chân cũng siêu nhiên như mụ, chàng tưởng tượng ra từ mỗi tiếng động nhỏ nhất người ta tới bắt giữ chàng và người ta dẫn Planchet về để đối chứng với chàng và các bạn chàng. Còn hơn thế nữa, lòng tin của chàng xưa kia lớn lao đến thế, vào cái gã xứ Picađy ấy, ngày một giảm sút. Sự lo âu ấy lớn đến nỗi lan sang cả Porthos và Aramis. Chỉ còn mỗi Athos vẫn bình thản như không, như thể chẳng có mối hiểm nguy nào động đậy xung quanh chàng và chàng vẫn hít thở không khí như mọi ngày thường.

Nhất là ngày thứ mười sáu, những dấu hiệu bồn chồn ở D Artagnan và hai người bạn kia thể hiện rõ đến nỗi họ đứng ngồi không yên và lang thang như những cái bóng trên con đường mà Planchet sẽ phải trở về.

Athos bảo họ:

- Thật đúng là, các cậu không phải là những người lớn nữa mà là một lũ trẻ con, đến nỗi một con mụ đàn bà này làm cho các cậu sợ hãi ghê gớm đến thế. Và tóm lại, có chuyện gì nào? Bị cầm tù ư? Thì người ta sẽ lôi chúng ta ra khỏi tù. Người ta đã từng kéo bà Bonacieux ra khỏi tù như chơi đó sao. Bị chặt đầu ư? Nhưng ngày ngày trong chiến hào chúng ta vẫn vui vẻ phơi mình ra cho những chuyện còn tệ hơn, bởi một viên đạn trái phá có thể làm gãy chân ta và tôi tin rằng một nhà giải phẫu cắt đùi ta còn làm ta đau hơn tên đao phủ chặt đầu ta. Vậy hãy bình tĩnh chờ đợi. Hai giờ, bốn giờ, sáu giờ, hoặc chậm hơn nữa, Planchet sẽ ở đây. Hắn đã hứa như vậy. Và tôi, tôi có một niềm tin rất lớn vào những lời hứa của Planchet, một người mà tôi thấy là một chàng trai rất can trường.

- Nhưng nếu hắn không tới? - D Artagnan nói.

- Ồ nếu hắn không tới, đó là có lẽ hắn bị chậm, có thế thôi.

- Hắn có thể bị ngã ngựa, hắn có thể bị lộn nhào qua cầu, có thể chạy quá nhanh nên bị mắc chứng sưng phổi. Thế đấy. Các vị ạ, ta phải tính đến phần của các sự cố chứ. Đời là một chuỗi tràng hạt những nỗi khổ đau nho nhỏ mà nhà triết học vừa cười vừa lần những hạt khổ dau. Hãy là nhà triết học như tôi, các vị ạ, hãy ngồi vào bàn và uống, chẳng có gì làm hiện ra tương lai màu hồng như ta nhìn nó qua một cốc rượu sămbéctanh.

- Đúng lắm, - D Artagnan trả lời - Nhưng tôi mệt mỏi vì cứ sợ rằng, thứ rượu vang đó lại lấy ra từ hầm rượu của Milady, ngay khi uống.

- Cậu khó tính quá - Athos nói - một người đàn bà đẹp đến như thế?

- Một mụ đàn bà bị đóng dấu! - Porthos cười hô hố.

Athos giật mình đưa tay lên trán lau mồ hôi cũng đứng dậy không kìm nổi một động tác căng thẳng.

Trong khi ấy ngày vẫn cứ trôi và chiều tối đến chậm hơn nhưng cuối cùng vẫn đến. Các quầy rượu đầy ắp khách uống.

Athos rủng rỉnh trong túi phần chia tiền bán kim cương, không rời quán Pácpayô nữa. Chàng đã tìm thấy trong ông De Buyxinhi người chung quy đã khao bọn chàng một bữa tiệc thịnh soạn, một đối thủ cờ bạc ngang tầm với chàng. Họ chơi với nhau như thường lệ tới khi đồng hồ điểm bẩy tiếng và người ta nghe thấy tiếng chân lính tuần tra đến thay phiên các trạm, rồi bảy giờ rưỡi vang lên tiếng kèn thu quân.

- Chúng ta nguy rồi - D Artagnan rỉ rai Athos.

- Cậu muốn nói chúng ta đã thua chứ gì? - Athos bình tĩnh vừa nói vừa rút trong túi ra bốn đồng pítxtôn vàng ném lên bàn, rồi tiếp tục - Các vị, kèn thu quân rồi, ta về ngủ thôi.

Và Athos, theo sau là D Artagnan ra khỏi quán Pácpayô, Aramis khoác tay Porthos đi đằng sau. Aramis lải nhải mấy vần thơ, và Porthos thỉnh thoảng lại nhổ vài chiếc ria mép tỏ ý thất vọng.

Nhưng kìa, bất thình lình từ trong bóng đêm, một bóng người hiện ra, mà hình dạng có vẻ thân quen với D Artagnan và một giọng nói rất quen thuộc nói với chàng:

- Thưa ông, tôi mang đến cho ông áo khoác của ông vì tối nay trời lạnh.

- Planchet! - D Artagnan reo lên, mừng vui đến phát rồ.

- Planchet! - Porthos và Aramis nhắc lại.

- Ờ, đúng là Planchet - Athos nói - Thế thì có gì lạ? Hắn đã hứa trở về lúc tám giờ, và bây giờ là tám giờ. Hoan hô, Planchet người là một chàng trai biết giữ lời hứa, và nếu bao giờ người thôi làm cho chủ ngươi, ta vẫn dành một chỗ để ngươi giúp ta đấy.

- Ồ, không, không bao giờ - Planchet nói - không bao giờ tôi rời bỏ ông D Artagnan.

Đồng thời D Artagnan cảm thấy Planchet nhét một mẩu thư ngắn vào tay mình.

D Artagnan rất muốn ôm hôn Planchet lúc trở về cũng như chàng đã từng ôm hôn anh ta lúc ra đi. Nhưng chàng lại ngại sự biểu lộ tràn trề đối với người hầu như thế giữa nơi phố xá có vẻ kỳ cục đối với người qua lại đành phải kiềm chế.

- Tôi có thư - chàng nói với Athos và các bạn.

- Tốt lắm - Athos nói - Ta về chỗ mình thôi và ta sẽ đọc bức thư.

Bức thư nóng bỏng trong tay D Artagnan chàng muốn rảo bước, nhưng Athos kéo tay chàng và khoác vào tay mình, buộc chàng phải đi cùng nhịp với bạn mình.

Cuối cùng họ bước vào lều bạt, thắp đèn lên, trong khi đó Planchet đứng gác trước cửa để đề phòng bốn người bị bắt quả tang, D Artagnan tay run run, bẻ xi niêm phong mở bức thư mong đợi bấy lâu nay.

Thư chỉ có nửa dòng, nét chữ hoàn toàn của người Anh, ngắn gọn và dứt khoát:

"Thank you, be aesy"

Có nghĩa là "Cám ơn, hãy yên tâm"

Athos giật lấy bức thư trong tay D Artagnan, đưa lại gần đèn và đốt và chỉ buông ra khi nó đã hoàn toàn biến thành tro. Rồi gọi Planchet, và bảo hắn:

- Bây giờ chú em, chú có thể đòi bẩy trăm livrơ của chú được rồi, một bức thư như thế này rồi thì chú em không phải lo gì nữa đâu. Thế mà tôi đã phải nghĩ ra biết bao nhiêu cách để giữ bằng được nó - Planchet nói.

- Vậy thì kể lại cho bọn ta nghe nào - D Artagnan nói.

- Trời ơi! Dài lắm, thưa ông.

- Anh nói đúng đấy Planchet ạ - Athos nói - Hơn nữa, trống điểm quân đã báo rồi, chúng ta sẽ bị để ý khi để đèn lâu hơn người khác.

- Thôi được, - D Artagnan nói - Ta đi ngủ vậy. Ngủ ngon nhé! Planchet!

- Thú thật, đây là giấc ngủ đầu tiên từ mười sáu ngày nay đấy, thưa ông.

- Ta cũng vậy? D Artagnan nói.

- Ta cũng thế - Porthos nói.

- Cả ta nữa! - Aramis nói Thế thì các cậu có muốn tôi thú nhận sự thực không? Thật tình thì tôi cũng thế! - Athos nói.

Chương 49

Định mệnh

Trong khi đó Milady điên cuồng giận dữ, gầm lên trên boong tàu như một con sư tử cái bị đưa xuống tàu, đã định lao xuống biển để trở vào bờ, bởi nàng không thể chịu nổi ý nghĩ bị D Artagnan làm nhục, bị Athos đe dọa và phải rời nước Pháp và không trả thù được họ. Chả mấy chốc, ý nghĩ ấy hành hạ nàng đến mức mặc cho những gì khủng khiếp có thể đến với mình, nàng đã van nài viên thuyền trưởng ném nàng lên bờ nhưng thuyền trưởng đang lo trốn thoát khỏi tình thế giả mạo đặt giữa những hạm tàu Pháp và Anh, như con dơi giữa đàn chuột và bầy chim(1), đang hết sức vội vã sang tới nước Anh, một mực từ chối không tuân theo cái thói thất thường của đàn bà, mà chỉ hứa với người nữ hành khách, vốn được Giáo chủ đặc biệt gừi gắm, là nếu biển thuận và quân Pháp cho phép sẽ để bà ta cặp bến ở Brơtanhơ hoặc cảng Loriăng hoặc Brétx. Nhưng trong khi chờ đợi, gió lại ngược, biển động mạnh, phải cắt gió đi vát bờ.

Chín ngày sau khi ra khỏi Sarâng, Milady mặt tím lại vì buồn bực và điên giận, chỉ thấy hiện ra vùng bờ biển xanh nhạt của vùng Finítxte.

Nàng tính toán để đi xuyên qua cái góc này của nước Pháp để trở về bên Giáo chủ, ít nhất phải mất ba ngày, thêm một ngày lên bờ thành bốn, thêm bốn ngày này vào chín ngày kia thành mười ba ngày mất toi, mười ba ngày trong khi đó biết bao sự biến quan trọng có thể diễn ra ở London, nàng nghĩ chắc chắn Giáo chủ sẽ giận dữ thấy nàng quay về và hậu quả là ông sẽ sẵn sàng nghe những lời khiếu nại chống nàng hơn là những cáo buộc nàng chống lại kẻ khác. Vậy nên nàng để mặc cho tàu đi qua Loriăng và Brétx không khẩn nài viên thuyền trưởng nữa, còn về phần ông ta, ông ta cũng dè chừng chẳng muốn đánh thức nàng Milady tiếp tục hành trình của mình. Cũng đúng ngày hôm Planchet xuống tàu ở cảng Portsmouth trở về nước Pháp, thì vị nữ phái viên của Đức ông cặp cảng đó một cách thành công.

Toàn thành phố xôn xao vì một hoạt động lạ thường, bốn hạm tàu lớn mới đóng xong vừa được hạ thủy. Người ta thấy ông Buckingham đứng trên cầu tàu, choáng lộn, lòe loẹt, đầy vàng, kim cương, đá quý theo thói quen, mũ dạ trang điểm một chiếc lông trắng cong vut xuống tận vai, xung quanh là bộ tham mưu hầu như cũng choáng lộn như ông.

Đó là một trong những ngày đông đẹp trời và hiếm có mà nước Anh chợt nhớ ra mình cũng có một mặt trời. Vị tinh tú đó đã nhạt đi tuy vẫn còn rực rỡ đang lặn xuống chân trời, nhuộm tía cả bầu trời lẫn mặt biển bằng những vạt lửa và ném lên trên các đỉnh tháp và những ngôi nhà già nua của thành phố những tia nắng vàng, cuối cùng làm các ô cửa kính lấp lánh như ánh lửa một đám cháy. Milady hít thở không khí biển càng gần đất liền càng tươi mát và thơm hơn, vừa ngắm nhìn sức mạnh của những phương tiện chiến tranh ấy mà nàng được trao trách nhiệm phải phá hủy, toàn bộ sức mạnh của cái đạo quân mà nàng phải chiến đấu bằng một mình nàng - một mình người đàn bà là nàng cùng với mấy túi vàng, nàng thầm tự sánh mình với Judita, người đàn bà Do Thái khủng khiếp, khi lọt sang chiến tuyến quân Atxyri, chỉ gẩy tay một cái đã làm tan tành tất cả thành mây khói.

Tàu vào vụng, nhưng khi người ta sắp thả neo thì một tàu khu trục nhỏ, súng ống khủng khiếp, sáp gần chiếc tàu buôn, nhân danh tuần tra duyên hải, thả xuống biển một chiếc xuồng tiến lại cầu thang tàu buôn. Xuồng có một sĩ quan, một viên cai và tám tay chèo. Chỉ một mình sĩ quan lên tàu buôn, và được tiếp đón trọng thể theo đồng phục cấp bậc sĩ quan.

Viên sĩ quan trao đổi vài phút với chủ tàu buôn, đọc cho người này nghe vài tờ giấy ông ta mang theo và theo lệnh của thuyền trưởng tàu buôn, tất cả thủy thủ đoàn của tàu, thủy thủ và hành khách được gọi lên trên boong tàu.

Khi việc điểm danh đã được tiến hành, viên sĩ quan lớn tiếng hỏi về địa điểm khởi hành, lộ trình, ghé bờ ở đâu, mọi câu hỏi thuyền trưởng đều trả lời trôi chảy, không chút khó khăn. Lúc đó, viên sĩ quan mới đi kiểm tra tất cả mọi người, người nọ sau người kia và dừng lại trước mặt Milady, nhìn nàng rất kỹ, nhưng không hề nói với nàng một lời nào.

Rồi ông ta quay về chỗ thuyền trưởng, nói thêm với ông này vài câu, và từ lúc đó con tàu như thể thuộc quyền chỉ huy của ông ta, ông ta ra lệnh, đoàn thủy thủ thi hành ngay. Thế là con tàu lại lên đường luôn có chiếc tàu khu trục hộ tống chạy song song, nòng sáu khẩu đại bác nhằm vào sườn tàu buôn uy hiếp, trong khi đó chiếc xuồng bơi theo rạch nước của chiếc chiến hạm như một chấm nhỏ bên một khối khổng lồ.

Trong khi viên sĩ quan chăm chú quan sát Milady, thì về phía mình, Milady cũng nhìn lại như ăn tươi nuốt sống người kia. Nhưng người đàn bà có đôi mắt lửa, vốn quen đọc thấu trong tim những kẻ mà nàng có nhu cầu đoán ra những bí mật, lần này chỉ thấy bộ mặt vẫn trơ trơ, không khám phá ra được bất cứ điều gì mà nàng cần dò xét. Người sĩ quan đã dừng lại trước mặt nàng và vẫn đang lặng lẽ nghiên cứu về nàng rất cẩn thận có thể chỉ độ hai nhăm hai sáu tuổi, với đôi mắt xanh tươi hơi sâu, cái miệng nhỏ và rất đẹp, không hề nhúc nhích trong những đường nét rất chuẩn xác, cái cằm nhô ra nhiều biểu lộ một ý chí mạnh mẽ, mà nếu ở trong giới người Anh hạ lưu thường cllỉ biểu hiện sự ương bướng, vầng trán hơi ngả về phía sau thích hợp với trán các nhà thơ, những người cuồng nhiệt và các binh sĩ, bị bộ tóc cắt ngắn và thưa hơi che đi, màu hạt dẻ sẫm giống như màu bộ râu cằm phía dưới mặt.

Lúc tàu cặp bến thì trời đã tối. Sương mù làm bóng tối dày đặc thêm tối và tạo thành xung quanh những đèn hiệu và đèn chiếu kè biển những vành tròn tương tự như vành tròn bao quanh mặt trăng khi trời muốn mưa. Không khí người ta hít thở, buồn, ẩm và lạnh.

Milady, người đàn bà mạnh mẽ đến thế cũng không tránh khỏi thấy rùng mình.

Viên sĩ quan yêu cầu Milady cho biết đâu là những bọc gói của nàng rồi cho chuyển hành lý của nàng xuống xuồng và khi mọi việc đã xong, ông ta vừa mời nàng xuống xuồng vừa chìa tay dắt nàng Milady nhìn người đàn ông và ngập ngừng rồi hỏi:

- Thưa ông, ông là ai mà lại chiếu cố chăm sóc quá đặc biệt đến tôi như vậy?

- Ồ, thưa bà, nhìn bộ quân phục tôi mặc - bà phải thấy chứ, tôi là sĩ quan hải quân Anh - người đàn ông trẻ tuổi trả lời.

- Nhưng rút cục, có phải sĩ quan quân Anh có lệ ra lệnh cho đồng bào của mình khi họ cặp bến đất Anh và lịch sự đến mức áp tải họ vào bờ?

- Vâng, thưa bà, đây là thông lệ, không phải do lịch sự mà do cảnh giác nên trong thời chiến, những người ngoại quốc đều được dẫn đến một khách sạn đã chỉ định, cốt để họ được đặt dưới sự giám sát của Nhà nước cho tới khi có được những thông tin đầy đủ về họ.

Những lời lẽ đó được nói ra một cách lịch thiệp chuẩn xác nhất, và với một sự bình thản hoàn hảo nhất. Nhưng nó lại không khiến cho Milady được yên tâm chút nào.

- Nhưng tôi đâu có phải người nước ngoài, thưa ông - Milady nói bằng một giọng đặc Anh chưa hề được nghe thấy từ Portsmouth đến Manchetser - Tôi là phu nhân Clerics, và cái thể thức này...

- Thể thức này là chung thôi, thưa bà, bà có định phá lệ cũng vô ích thôi.

- Thưa ông, vậy tôi sẽ theo ông.

Cầm tay viên sĩ quan, nàng bắt đầu xuống thang và phía dưới là chiếc xuồng đang đợi. Viên sĩ quan đi theo nàng. Một áo choàng lớn được rải ở phía buồng lái, viên sĩ quan bảo nàng ngồi trên cái áo choàng đó rồi ngồi cạnh nàng và bảo thủy thủ:

- Bơi đi!

Tám mái chèo cùng buông tõm xuống biển và nhất loạt chèo chiếc xuồng như bay trên mặt nước.

Trong vòng năm phút xuồng đã cặp bờ.

Viên sĩ quan nhảy lên kè và đưa tay cho Milady. Một chiếc xe đang đợi sẵn.

- Xe này là dành cho chúng ta? - Milady hỏi.

- Vâng, thưa bà - Viên sĩ quan trả lời.

- Khách sạn có xa lắm không?

- Ở đầu kia thành phố thôi.

- Ta đi thôi - Milady nói.

Rồi nàng cả quyết bước lên xe.

Viên sĩ quan theo dõi cho đến khi những gói đồ được buộc cẩn thận phía sau thùng xe và khi mọi việc đã xong, ông ta lên ngồi bên Milady và đóng cửa xe lại.

Lập tức, chẳng cần phải để ra lệnh và cũng chẳng cần phải bảo đi về địa chỉ nào, gã đánh xe cho ngựa phi nước đại đi sâu vào các phố trong thành phố.

Một sự đón tiếp lạ lùng như vậy hẳn phải làm cho Milady suy nghĩ rất nhiều, cho nên thấy viên sĩ quan không hề tỏ ra sẵn sàng bắt chuyện, nàng tựa khuỷu vào một góc xe, lần lượt xem lại mọi giả thiết nảy ra trong đầu.

Tuy nhiên, được độ mươi phút, nàng lấy làm ngạc nhiên vì đường xa đến thế, liền ngả người về phía cửa xe để xem người ta đưa mình đi đâu, thì không thấy nhà cửa nữa, chỉ có cây cối hiện ra trong bóng đêm như những con ma lớn đen ngòm, con nọ chạy sau con kia.

Milady rùng mình và nói:

- Nhưng chúng ta không còn trong thành phố nữa, thưa ông.

Viên sĩ quan vẫn ngồi im.

- Tôi không đi xa thêm nữa đâu, nếu ông không nói ông dẫn tôi đi đâu, tôi báo trước cho ông đấy.

Lời đe dọa ấy vẫn chẳng nhận được câu trả lời nào.

- Ôi! Thế này thì quá lắm! - Milady kêu lên - Cứu với! Cứu với!

- Không một tiếng đáp lại. Chiếc xe tiếp tục lăn bánh nhanh và viên sĩ quan vẫn tựa như pho tượng.

Milady nhìn viên sĩ quan với một nét mặt đặc biệt khủng khiếp và hiếm khi không có hiệu quả. Cơn giận làm đôi mắt nàng long lanh trong bóng tối.

Milady định mở cửa xe và lao ra.

- Coi chừng đấy, thưa bà ~ người đàn ông trẻ lạnh lùng nói - bà nhảy ra là tự giết mình đấy.

Milady lại ngồi xuống, tức sùi bọt mép. Viên sĩ quan ngả người đến lượt mình cũng nhìn Milady tỏ vẻ ngạc nhiên thấy khuôn mặt vừa rồi còn đẹp đến thế, vì sôi lên giận dữ đã trở nên hầu như xấu xí. Người đàn bà gian manh ấy hiểu rằng nếu để người ta nhìn sâu trong tâm hồn mình như thế là tự hại mình, liền tươi tỉnh lại nói bằng một giọng thương tâm:

- Có Chúa trời chứng giám! Thưa ông, xin ông, xin hãy nói cho biết tôi phải gán việc tôi bị đối xử bằng bạo lực như thế này cho ông, cho Chính phủ của ông hay cho một kẻ thù nào?

- Không ai dùng bạo lực với bằng, thưa bà, và việc xảy ra cho bà chỉ là kết quả của biện pháp hoàn toàn đơn giản mà chúng tôi buộc phải áp dụng đối với tất cả mọi người cặp bến ở nước Anh.

- Thưa ông, thì ra ông không biết tôi?

- Đây là lần đầu tiên tôi hân hạnh được gặp bà.

- Và ông có thể cam đoan ông không có chuyện gì hiềm khích với tôi chứ?

- Không có gì, tôi xin thề với bà.

Giọng nói của người đàn ông trẻ vừa hết sức trong trẻo, bình thản lại dịu dàng nữa khiến Milady yên tâm.

Cuối cùng, sau gần một giờ, xe mới dừng lại trước hàng rào lưới sắt, đi vào một con đường trống vắng dẫn đến một tòa lâu đài bề ngoài nghiêm trang, nặng nề và heo hút. Lúc đó, bánh xe lăn trên cát mịn nên Milady nghe thấy tiếng sóng gầm của biển vỗ vào bờ đá lởm chởm.

Chiếc xe đi dưới hai vòm cổng, cuối cùng dừng lại trong một cái sân vuông và tối, cửa xe vừa mở, người đàn ông trẻ tuổi đã nhảy ngay xuống theo, khá bình tĩnh.

Milady nhìn xung quanh rồi dồn mắt nhìn viên sĩ quan trẻ với nụ cười duyên dáng nhất và nói:

- Vậy, tôi vẫn cứ là một tù nhân, nhưng chắc sẽ không lâu đâu, tôi tin chắc như thế - Rồi nàng thêm - Thưa ông, lương tâm tôi và sự lịch sự của ông đảm bảo với tôi như thế.

Dù tán tụng và ve vãn như vậy, viên sĩ quan vẫn không trả lời, mà chỉ rút từ đai lưng ra một chiếc còi bằng bạc mà những viên cai vẫn dùng trên tàu chiến, thổi lên ba hồi theo ba giai điệu khác nhau. Thế là mấy người hiện ra tháo lũ ngựa đang thở phì phì và đưa xe vào một cái nhà kho.

Viên sĩ quan vẫn thái độ lịch sự điềm đạm mời tù nhân của mình vào trong nhà. Người đàn bà vẫn với bộ mặt tươi cười, vịn tay viên sĩ quan, đi vào cùng với ông ta qua một chiếc cửa thấp thắt giữa, vòm cửa chỉ được chiếu sáng từ sâu mãi bên trong, dẫn tới một cầu thang bằng đá xoắn theo một trụ đá, đi lên, rồi dừng lại trước một chiếc cửa nặng nề. Sau khi người kia tra chìa khóa mang theo vào ổ, cánh cửa nặng nề quay trên bản lề để lộ ra lối vào một căn phòng dành cho Milady.

Thoáng nhìn qua, người nữ tù nhân đã nắm được hết các chi tiết nhỏ nhất của căn nhà.

Đó là một căn buồng mà nội thất vừa quá sạch đối với một nhà tù và cũng quá sạch đối với một chỗ ở của một con người sống tự do. Tuy nhiên những song sắt của sổ và những chốt ngoài của cửa ra, lại thiên về một nhà tù.

Trong giây lát, toàn bộ nghị lực của con người từng được tôi luyện trong những mạch nguồn mạnh mẽ nhất tiêu tan hết.

Nàng buông mình xuống ghế tựa, khoanh tay, cúi đầu chờ đợi từng phút một để thấy một thẩm phán đi vào thẩm vấn nàng.

Nhưng chẳng có ai vào mà chỉ có vài ba lính thủy mang rương hòm tới, xếp vào một góc rồi lại rút lui không nói một lời.

Viên sĩ quan điều khiển mọi chi tiết với vẻ bình thản mà Milady thấy vẫn nguyên như trước, chẳng nói một lời mà chỉ lấy tay ra hiệu hoặc thổi còi cho bọn lính tuân theo.

Có thể nói giữa con người này và những kẻ dưới quyền, ngôn ngữ nói không tồn tại hoặc trở nên vô ích...

Cuối cùng Milady không chịu nổi thêm nữa, liền phá vỡ sự im lặng và kêu lên:

- Có trời cao chứng kiến, thưa ông. Tất cả những gì diễn ra thế này là thế nào? Nói toạc móng heo xem có chuyện gì nào. Tôi có đủ can đảm đối mặt với mọi hiểm nguy mà tôi thấy trước, mọi bất hạnh mà tôi thấu hiểu. Tôi đang ở đâu và ở đây làm gì? Tôi có còn được tự do không, tại sao lại có những song sắt và những cái cửa ấy? Tôi có phải tù nhân không và tôi mắc tội gì?

- Bà ở đây trong một căn phòng được dành cho bà. Tôi được lệnh phải giữ bà từ ngoài biển và dẫn bà đến tòa lâu đài này. Và tôi tin tôi đã hoàn thành nhiệm vụ với tất cả sự nghiêm túc của một quân nhân và phong độ của một nhà quý tộc. Giờ đây đã kết thúc, ít ra là cho đến lúc này, trách nhiệm tôi phải làm tròn đối với bà, phần còn lại liên quan đến một người khác.

- Thế cái người khác đó là ai vậy? - Milady hỏi - Ông không thể nói tên người ấy ra với tôi ư?

- Đúng lúc đó, có tiếng đinh thúc ngựa ầm ầm phía cầu thang.

- Có mấy tiếng người rồi lại im ngay, và tiếng bước chân một mình ai đó lại gần chiếc cửa.

- Cái người đó đến đây rồi, thưa bà - Vừa nói viên sĩ quan vừa chỉ ra lối đi, vừa đứng dẹp sang một bên với thái độ kính trọng và phục tùng.

Đồng thời cửa mở, một người đàn ông hiện ra ở ngưỡng cửa.

Người này không đội mũ, đeo gươm, tay đang vò một chiếc khăn tay.

Milady tin mình nhận ra bóng người đó trong bóng tối. Nàng chống bàn tay lên thành ghế tựa, vươn đầu ra như để đón trước cái điều đã chắc chắn rồi.

- Người lạ từ từ tiến lại và khi ông ta tiến sâu vào vùng ánh sáng từ chiếc đèn chiếu ra, Milady bất giác lùi lại.

Rồi khi không còn chút nghi ngờ gì nữa, nàng kêu lên đầy vẻ kinh hoàng:

- Kìa sao? Em tôi? Chú đấy ư?

- Vâng, thưa quý bà! - Huân tước Winter làm điệu bộ chào nửa phong nhã, nửa hài hước.

- Tôi đây! Nhưng sao, tòa lâu đài này?

- Là của tôi.

- Căn phòng này?

- Là của bà!

- Tôi là tù nhân của ông ư?

- Gần như vậy.

- Nhưng đó là một sự lấy thịt đè người ghê tởm?

- Đừng có ngoa ngoắt. Ta hãy ngồi xuống chuyện trò với nhau bình tĩnh đã, như thế thích hợp giữa ông em và bà chị hơn.

Rồi quay về phía cửa, thấy viên sĩ quan đang đứng đợi những mệnh lệnh cuối cùng, ông ta nói:

- Tốt lắm! Xin cám ơn ông. Bây giờ để mặc chúng tôi, ông Felten.

Chương 50

Chuyện trò giữa ông em chồng với chị dâu

Trong lúc Huân tước De Winter đóng cửa, khép cánh cửa sổ lại và kéo một chiếc ghế đến ngồi gần chiếc ghế bành của người chị dâu thì Milady mơ màng dọi mát vào trong sâu thẳm, mong có khả năng khám phá ra toàn bộ âm mưu mà chính nàng không thể thấy nổi dù chỉ lơ mơ, chừng nào nàng còn chưa biết mình bị rơi vào tay ai. Nàng biết rõ ông em chồng vốn nhà quý tộc thực sự, mê săn bắn, một con bạc lì lợm, táo tợn với đàn bà, nhưng về chuyện mưu mô thì còn dưới cả mức trung bình. Làm sao ông ta lại có thể phát hiện việc nàng tới đây, và cho bắt giữ nàng? Tại sao lại giữ nàng tại đây?

Athos đã nói hở với nàng vài câu chứng tỏ cuộc chuyện trò giữa nàng và Giáo chủ đã lọt vào tai người ngoài. Nhưng nàng không thể chấp nhận Athos lại có thể đào hố chống mình nhanh chóng và táo tợn đến thế.

Nàng sợ hơn cả là những hoạt động trước đây của mình trên đất Anh đã bị khám phá. Buckingham có thể đoán chính nàng đã cắt mất hai nút kim cương và trả thù sự phản trắc nhỏ bé này. Nhưng Buckingham không thể đối xử quá đáng đối với một người đàn bà nhất là người đàn bà ấy được coi như là đã hành động bởi một tình cảm ghen tuông.

Giả thiết này đối với nàng có vẻ có lý hơn cả. Nàng thấy hình như người ta muốn trả thù cái đã là quá khứ, chứ không phải để đón trước tương lai. Dẫu sao nàng cũng mừng thầm là đã rơi vào tay người em chồng, mà nàng cho là đã gặp may, hơn là vào tay một kẻ thù trực tiếp và khôn ngoan.

- Vâng, ta nói chuyện, chú ạ - nàng vui vẻ nói và quyết định phải rút ra bằng được trong cuộc trò chuyện, mặc dầu De Winter có thể che giấu, những gì có thể làm sáng tỏ những điều cần biết để điều chỉnh thái độ sắp tới cho thích hợp.

- Vậy là bà đã quyết định trở lại nước Anh. - Huân tước De Winter nói - mặc dầu bà thường ngỏ ý với tôi ở Paris rằng bà quyết định không bao giờ đặt chân trở lại đất Anh nữa.

Milady trả lời câu hỏi đó bằng một câu hỏi:

- Trước hết, ông hãy cho tôi biết ông đã cho người rình rập theo dõi tôi nghiêm ngặt đến thế nào để có thể biết trước được không những việc tôi đến mà cả ngày, giờ và cảng nào tôi đến nữa?

De Winter áp dụng ngay cái chiến thuật của Milady, nghĩ rằng chị dâu mình đã dùng nó ắt hẳn phải hay:

- Nhưng bà chị thân mến, bà cũng phải nói cho tôi biết bà định làm gì ở đất Anh đã chứ.

- Nhưng tôi sang thăm ông mà - Milady nói tiếp mà không biết câu trả lời đó đã làm trầm trọng thêm biết bao những ngờ vực nảy sinh trong đầu người em chồng từ bức thư của D Artagnan. Thật ra nàng nói dối chỉ để cốt thu hút được thiện ý của ông ta.

- Chà, sang thăm tôi? - Wintern hỏi một cách thâm hiểm.

- Hẳn rồi, thăm ông. Việc đó lạ lắm sao?

- Và bà sang Anh không ngoài mục đích nào khác là thăm tôi?

- Không.

- Như thế, chỉ vì mỗi mình tôi mà bà phải nhọc công vượt biển Măngssơ?

- Vì mỗi ông thôi.

- Chà, tình cảm gớm nhỉ, bà chị dâu ơi!

- Thế chị không phải họ hàng gần nhất của chú sao? - Milady hỏi bằng một giọng ngây thơ và cảm động nhất.

- Và còn là người thừa kế duy nhất của em nữa chứ, có phải không? - De Winter nhìn chăm chăm vào mắt Milady mà hỏi.

Dù có nghị lực làm chủ được mình đến mấy, Milady không tránh khỏi giật mình, và vì vừa nói ra những câu ấy. De Winter vừa đặt tay lên cánh tay người chị dâu, nên sự rùng mình ấy không tránh khỏi ông ta nhận thấy.

Quả là miếng đòn vừa giáng thẳng lại vừa thâm. Milady chợt nghĩ bị Ketty phản bội, và con bé này đã kể hết với Huân tước về mối ganh ghét về lợi lộc do vô ý nàng đã để lộ ra những dấu hiệu trước người hầu gái. Nàng cũng nhớ ra là mình đã tỏ ra giận dữ và bất cẩn chống lại D Artagnan thế nào khi chàng tha chết cho em chồng mình.

Để tranh thủ thời gian làm cho đối thủ phải nói ra, nàng nói:

- Thưa Huân tước, tôi không hiểu chú định nói gì? Có ẩn ý gì giấu sau lời nói của chú chăng?

- Ồ không, Chúa ơi! - Huân tước De Winter làm ra vẻ thật thà phúc hậu nói - Chị có lòng muốn thăm tôi và chị sang tận Anh. Tôi hiểu tấm lòng đó, hay đúng hơn tôi ngờ rằng chị cảm thấy như vậy, và để tránh cho mọi sự phiền phức và mọi vất vả phải cặp bến ban đêm, tôi đã phái một sĩ quan của tôi tới đón trước chị, đưa cho ông ta một cỗ xe để đưa chị về đây trong tòa lâu đài mà tôi là chủ nhân này. Ngày ngày tôi sẽ đến và để thỏa lòng mong muốn gặp nhau của cả hai chúng ta tôi đã cho sắp xếp cho chị một căn buồng. Có gì trong tất cả những điều tôi nói đó lại lạ lùng hơn những gì chị nói với tôi sao?

- Không, điều tôi thấy lạ, là chú biết trước việc tôi sang đây cơ

- Đó lại là điều đơn giản nhất đấy bà chị thân mến ạ. Chị không thấy lúc tàu vào vịnh, viên thuyền trưởng của tàu chị đã phái một chiếc xuồng nhỏ vào trước mang theo sổ nhật ký hàng hải và danh sách của tàu, người ta mang sổ sách đến trình tôi, tôi nhận ra tên chị. Trái tim tôi mách bảo tôi điều mà chị vừa khẳng định với tôi, nghĩa là chị đã tự dấn thân vào bao gian nan của một vùng biển đầy sóng gió hiểm nguy hoặc ít nhất cũng đầy vất vả trong lúc này với mục đích gì, và tôi đã phái một tàu khu trục ra đón trước. Phần còn lại, chị đã rõ.

Milady hiểu rằng Huân tước De Winter nói dối và chỉ càng sợ hơn.

- Chú ơi - nàng tiếp tục - phải chăng người tôi trông thấy đứng trên đập tối nay lúc cặp bờ là Huân tước De Buckingham?

- Chính ông ta đấy. À! Tôi hiểu việc trông thấy ông ta khiến chị xúc động mạnh - De Winter nói tiếp - Chị đến từ một đất nước mà ở đấy người ta hẳn quan tâm rất nhiều đến ông ta, và tôi biết việc dấy binh của ông ta chống nước Pháp khiến Giáo chủ bạn chị rất lo lắng.

- Giáo chủ bạn tôi! - Milady kêu lên thấy rõ trên điểm này, cũng như điểm khác, De Winter hình như đã hiểu rõ tất cả.

- Ông ta không phải là bạn chị thật ư? Huân tước hững hờ nói tiếp - Ồ, xin lỗi, tôi lại cứ tưởng như vậy. Mà thôi, để sau ta hãy trở lại chuyện của Quận công, ta đừng lạc đề câu chuyện đang diễn ra hết sức tình cảm nữa; chị nói chị đến đây để thăm tôi?

- Vâng.

- Thế thì...! Tôi đã trả lời chị rằng chị sẽ ước sao được vậy, và ngày nào chúng ta cũng sẽ gặp nhau.

- Vậy tôi cứ phải ở đây vĩnh viễn ư? Milady hỏi với một sự hãi hùng nào đấy.

- Chị thấy ở đây không tốt ư, chị dâu? Chị cứ việc yêu cầu những gì chị thiếu, và tôi sẽ cho người mang tới cho chị ngay.

- Nhưng tôi không có đàn bà, đàn ông giúp việc...

- Bà sẽ có tất cả, thưa bà, bà cứ nói cho biết người chồng đầu của bà đã dựng cho bà loại nhà như thế nào, cho dù tôi chỉ là em chồng của bà, tôi cũng sẽ dựng cho bà loại nhà như thế.

- Người chồng đầu của tôi! - Milady kêu lên, nhìn Huân tước De Winter bằng đôi mắt hãi hùng.

- Vâng, người chồng Pháp của bà ấy. Tôi không nói về anh tôi Hơn nữa, nếu bà đã quên ông ta, vì ông ta vẫn còn sống, tôi có thể viết cho ông ấy, ông ấy sẽ giúp tôi biết tỉ mỉ về chuyện này.

Một lớp mồ hôi lạnh đầm đìa trán Milady.

- Ông đùa rồi - nàng nói bằng một giọng khàn khàn.

- Tôi có vẻ đùa à? - Huân tước vừa hỏi vừa đứng lên, lùi lại một bước về phía sau.

- Hay đúng hơn là ông lăng mạ tôi - nàng tiếp tục, vừa bóp chặt hai bàn tay co quắp lên hai thành ghế, chống tay đứng phắt lên.

- Tôi lăng mạ bà ư! - De Winter khinh bỉ nói - Thật ra bà tin có thể thế được ư?

- Thật ra, thưa ông - Milady nói - Ông say hay phát rồ rồi. Ra đi, và gửi cho tôi một hầu phòng.

- Đàn bà rất hay bép xép, bà chị ạ! Tôi không thể phục vụ bà như một thị nữ được ư? Làm như thế mọi bí mật gia đình sẽ nguyên vẹn.

- Đồ hỗn láo! - Milady thét lên và bật lên như một chiếc lò xo, nhẩy xổ vào Huân tước vẫn đang đứng đợi, hai tay khoanh lại, nhưng bàn tay vẫn giữ chuôi gươm.

- Chà chà! - Ông ta nói - Tôi biết là bà vẫn có thói quen ám sát mọi người, nhưng tôi báo trước cho bà biết, tôi sẽ chống cự lại, dù là chống lại bà.

- Ố, ông có lý - Milady nói - và ông làm cho tôi thấy ông khá hèn hạ khi đang tay chống với một người đàn bà.

- Có thể thế đấy. Vả lại, tôi có cớ để làm thế này. Bàn tay tôi sẽ không phải là bàn tay đàn ông đầu tiên đặt lên người bà, tôi nghĩ như vậy.

Và Huân tước, bằng một cử chỉ chậm rãi và buộc tội, chỉ vào vai trái Milady, hầu như chạm hẳn ngón tay vào đấy.

Milady thất lên một tiếng gầm khàn, lùi lại tận góc phòng, như một con báo cái tự lùi vào thế bí để lao tới.

- Ồ! Bà cứ việc gầm thét - De Winter nói to - nhưng chớ có định cắn, bởi tôi báo trước sự việc sẽ xoay ngược lại làm hại bà đấy ở đây không có các ông biện lý để tính trước các khoản thừa kế, không có hiệp sĩ lang thang đến để gây sự với tôi vì một người đàn bà đẹp mà tôi giữ làm tù nhân. Nhưng tôi đã có sẵn những quan tòa sẽ phán xử một mụ đàn bà hai chồng khá trơ trẽn đến luồn vào giường Huân tước De Winter, anh cả tôi(1) và những viên quan tòa ấy, tôi xin báo trước cho bà, sẽ tống bà cho đao phủ và đao phủ sẽ làm cho hai vai bà được giống nhau.

Hai mắt Milady ném ra những tia sáng long lanh khiến cho dù là đàn ông và được vũ trang trước một mụ đàn bà không vũ khí ông ta vẫn cảm thấy lạnh thấu con tim vì sợ hãi. Ông vẫn tiếp tục nhưng với nỗi giận dữ tăng lên.

- Phải, tôi hiểu, sau khi được thừa hưởng của anh tôi, nếu được thừa hưởng cả tôi nữa thì ngon lành thật, nhưng phải biết trước rằng, bà có thể giết tôi, hoặc cho người giết tôi, nhưng tôi đã đề phòng cả rồi. Không một xu nào của tôi chuyển sang tay bà đâu. Bà chẳng phải đã giàu có rồi sao, bà sở hữu gần bạc triệu, mà vẫn không thể dừng lại trên con đường định mệnh của mình ư, hay là bà làm điều ác chỉ để bản thân thỏa thích cao độ và đến tận cùng? Ồ, hãy nhớ lấy điều tôi nói đây, nếu không vì lòng tưởng nhớ thiêng liêng của tôi đối với anh tôi, bà sẽ bị thối rữa trong hầm tối quốc gia, hoặc làm thỏa mãn sự tò mò của thủy thủ ở Tybum(2) rồi. Tôi sẽ câm miệng, nhưng bà, bà hãy chịu đựng cảnh giam cầm một cách bình tĩnh. Trong vòng mười lăm hai mươi ngày nữa, tôi sẽ đi La Rochelle cùng với quân đội. Nhưng trước hôm tôi đi, một con tàu sẽ đến đón bà, tôi sẽ nhìn nó ra đi mang bà tới những thuộc địa ở phương Nam, và bà hãy yên tâm, tôi sẽ cho một người bạn đi phụ giúp bà sẵn sàng bắn bà vỡ sọ ngay khi bà có ý định đầu tiên liều lĩnh trở về nước Anh hay lục địa.

Milady lắng nghe chăm chú, trợn tròn đôi mắt nảy lửa.

- Phải, giờ này - Huân tước De Winter tiếp tục - bà ở yên vị trong tòa lâu đài này. Tường bao rất dày, các cổng cửa đều rất kiên cố, chấn song chắc chắn, vả lại cửa sổ phòng bà trông thẳng xuống biển, những người của tôi đều trung thành sống chết với tôi canh gác xung quanh lâu đài và giám sát mọi lối ra sân. Ra sân rồi bà còn phải vượt qua ba hàng rào kẽm gai. Nội dung phạt giam rất rõ ràng: Một bước chân, một cử chỉ, một lời nói tỏ ra ý định vượt ngục là người ta sẽ bắn vào bà. Nếu người ta bắn chết, tôi hy vọng công lý Anh quốc sẽ chịu ơn tôi vì đã tránh cho họ cái nhiệm vụ nặng nề. A, nét mặt bà đã bình thản lại rồi, bộ mặt bà đã có vẻ yên tâm hơn. Mười lăm hai mươi ngày!

Bà nói:

- Được!

"Từ nay đến đấy, ta vốn có đầu óc sáng kiến, thế nào chả tìm được ý tưởng nào hay, ta có tâm hồn ma quỷ, ta sẽ tìm được nạn nhân. Từ nay đến mười lăm ngày nữa, bà tự bảo mình, ta sẽ ra khỏi nơi đây. Chà chà! Cứ thử xem".

Milady thấy bị đoán ra ý nghĩ của mình, liền bấm móng tay cho vào da thịt để chế ngự mọi cử động có thể đem lại cho bộ dạng mình dấu hiệu nào đó khác với sự lo âu.

Ông De Winter tiếp tục:

- Viên sĩ quan duy nhất chỉ huy ở đây lúc tôi vắng mặt, bà đã gặp và đã biết rồi đó. Ông ta như bà thấy đấy, biết giám sát một lệnh phạt giam, bởi vì, tôi biết, đi từ cảng Portsmouth đến đây bà không phải không cố tìm cách làm cho ông ta nói về việc đó. Bà nói sao về việc này? Một pho tượng đá hoa cương chưa chắc đã trơ và câm lặng hơn ông ta phải không? Bà đã thử cái sức mạnh của những nét quyến rũ của bà với bao nhiêu người đàn ông và khốn nạn thay, bà đã luôn luôn thành công. Nhưng bà cứ thử với ông ta xem, mẹ kiếp! Nếu bà thành công với ông ta, tôi tuyên bố với bà, ông ta cũng là quỷ nốt.

Ông De Winter đi tới cửa, mở bật ra và nói:

- Gọi cho ta ông Felten, bà đợi đây một lát, tôi sẽ trao bà cho ông ta trông nom.

Một sự im lặng kỳ lạ diễn ra giữa hai người, trong khi đó người ta nghe thấy tiếng bước chân khoan thai đều đặn lại gần, rồi trong bóng tối hành lang hiện ra một dáng người, đó chính là viên trung úy trẻ lúc trước, ông ta dừng lại ở ngưỡng cửa đợi lệnh của Huân tước.

- Vào đi, John thân mến - Huân tước De Winter nói - vào đi rồi đóng cửa lại.

Viên sĩ quan trẻ vào.

- Bây giờ - Huân tước nói - Ông hãy nhìn người đàn bà này, bà ta trẻ đẹp, có tất cả những nét quyến rũ trên đời, vậy mà, đó lại là một con quỷ ở tuổi hai nhăm, đã phạm không biết bao nhiêu tội ác mà ông có thể đọc trong một năm trong kho lưu trữ các tòa án của chúng ta, giọng nói bà ta rào đón bằng sự lấy lòng khôn khéo, sắc đẹp bà ta dùng làm mồi cho các nạn nhân, thân xác bà ta cũng đem trả cho những điều đã hứa. Bà ta sẽ tìm cách quyến rũ ông, có thể còn tìm cách giết ông nữa. Ông Felten, tôi đã kéo ông ra khỏi cảnh nghèo khổ, tôi đã phong ông chức trung úy, tôi đã một lần cứu sống ông, ông biết rõ trong hoàn cảnh nào rồi, tôi không những là người bảo hộ cho ông mà còn là bạn ông, không những là một ân nhân mà còn là một người cha, mụ đàn bà này đến nước Anh âm mưu ám hại tôi, tôi đã giữ được con rắn ấy trong tay, vì thế, tôi cho gọi ông để nói với ông: "Anh bạn Felten, John, con ta ạ, hãy canh giữ cho ta, nhất là phải canh chừng cho bản thân anh con mụ đàn bà này, hãy thề trừng phạt mụ ta xứng đáng để cứu lấy bản thân anh, John Felten, ta tin ở lời thề của anh, John Felten, ta tin ở lòng trung thành của anh".

- Thưa Huân tước - Viên sĩ quan trẻ nói, con mắt chứa chất đơn thuần toàn bộ nỗi căm hờn cảm thấy trong lòng - Tôi xin thề với ngài mọi việc sẽ được làm đúng như ngài mong muốn.

Milady nhẫn nhục chịu đựng cái nhìn đó như một nạn nhân.

- Không thể nhìn thấy một vẻ mặt nào chịu khuất phục và dịu dàng hơn những gì đang ngự trị trên bộ mặt kiều diễm của nàng, đến nỗi chính ông De Winter cũng khó lòng nhận ra con hổ cái một lát trước đây ông sẵn sàng chiến đấu với nó.

- Mụ ta sẽ không bao giờ được ra khỏi cái buồng này, hiểu chưa John - Nam tước tiếp tục - mụ sẽ không được liên hệ với bất cứ ai, mụ chưa được nói với ông, nếu ông có ý định ban cho mụ vinh dự ngỏ lời trước với mụ.

- Thế là đủ, thưa Huân tước, tôi đã thề.

- Và bây giờ, thưa bà, hãy cố ôn hòa với Chúa, và bà bị phán xử bởi Người.

Milady mặc cho đầu gục xuống như thể cảm thấy bị sự phán xử ấy đè bẹp. Huân tước De Winter vừa ra hiệu cho Felten theo sau và đóng cửa lại.

Một lát sau trong hành lang có tiếng bước chân nặng nề của một chàng lính thủy đi tuần, chiếc rìu giắt ở đai lưng và súng hỏa mai trong tay.

Milady ngồi im trong tư thế ấy trong mấy phút, bởi nàng nghĩ người ta theo dõi mình qua lỗ khóa, rồi nàng từ từ ngẩng đầu lên, lấy lại vẻ hăm dọa khủng khiếp và vẻ thách thức, chạy đến nghe ở cửa, nhìn qua cửa sổ, rồi lại quay vào vùi mình trong chiếc ghế bành, suy nghĩ.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Pro